Liên danh soạn giả Hà Triều (trái) & Hoa Phượng (phải)

Đặng Ngươn Chúc và Lương Kế Nghiệp quen biết nhau trong thời kháng chiến và gặp lại nhau khi trở về Sài-Gòn tìm kế sinh nhai vào năm 1955. Sẵn có niềm đam mê văn nghệ và năng khiếu viết lách cùng với sự giúp đỡ của ký giả Hà Huy Hà (thi sĩ Kiên Giang), cả hai tập tành viết tuồng cải lương cho mấy gánh hát nơi đô thành. Đặng Ngươn Chúc (1931 – 2003) sinh tại huyện Gò-Quao, tỉnh Rạch-Giá (Kiên-Giang) lấy tên mấy người em của mình ghép lại thành Hà Triều. Lương Kế Nghiệp (1933 – 1984) sinh tại huyện Thoại-Sơn, tỉnh Châu-Đốc (An-Giang) chọn bút danh là Hoa Phượng.

Liên danh Hà Triều & Hoa Phượng được báo chí và khán giả biết đến qua vở tuồng “Khi hoa anh đào nở” (“Lối vào cung cấm”) nhân dịp gánh hát Thúy Nga khai trương bảng hiệu vào năm 1957. Tiếp theo thành công rực rỡ đó, những soạn phẩm “Tấm lòng của biển”, “Cô gái Đồ Long”, “Nửa đời hương phấn”, “Nỗi buồn con gái”, “Sông dài”, “Mưa rừng”, “Khói sóng Tiêu Tương”, “Con gái chị Hằng”, “Chiều đông gió lạnh về”, “Sương mù trên non cao”, v.v.. lần lượt ra đời mà đỉnh cao là vở tuồng “Nửa đời hương phấn” được trình diễn trên sân khấu Thanh Minh vào năm 1959 đã khẳng định tên tuổi Hà Triều & Hoa Phượng trên vòm trời nghệ thuật.

Nghệ sĩ Út Bạch Lan (Hương) và Thành Được (Tùng) trong vở tuồng “Nửa đời hương phấn”, 1959

“Nửa đời hương phấn” là cuộc đời của cô gái nghèo tên The rời quê nhà lên Sài-Gòn kiếm sống. Chẳng may vì một lần lầm lỡ mà phải sa chân vào con đường “buôn hương, bán phấn” nên đổi thành tên Hương. Hương yêu Tùng nhưng tình yêu đó bị cản ngăn từ phía gia đình Tùng bởi thành kiến “môn đăng hộ đối”. Đau khổ vì tình yêu bị cấm cản và gia đình ruồng rẫy, Hương lại cất bước ra đi.

Trong lần ghé thăm người yêu cũ, Hương mới biết được Tùng cưới Dịu mà không hề biết nàng là em gái của Hương. Không còn lối thoát, Hương tìm đến chùa để lãng quên “nửa đời hương phấn” trong chiếc áo nâu sòng và câu kinh, tiếng mõ.

Tuồng tích của Hà Triều và Hoa Phượng nương theo tiêu chuẩn “thật và đẹp” của soạn giả kiêm nghệ sĩ tiền bối Nguyễn Thành Châu. Văn phong của Hà Triều và Hoa Phượng được chọn lọc từng chữ, từng câu, áp dụng mỹ từ pháp như ẩn dụ, so sánh, ví von, thậm xưng, v.v.. khiến cho báo giới từng lên tiếng khen ngợi “muốn viết văn hay phải nghe tuồng tích cải lương của Hà Triều & Hoa Phượng”.

“Nửa đời hương phấn” phê phán xã hội còn ảnh hưởng những suy nghĩ của thời phong kiến, những hủ tục đẩy xô con người vào ngõ cụt, thí dụ như gái giang hồ không bao giờ được chấp nhận hoàn lương dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Vở tuồng cũng ca ngợi sư hy sinh vì hạnh phúc của người sống quanh mình cho dù sự hy sinh đó là những điều đau đớn, thua thiệt nhiều nhất.

Sau hơn bảy thập niên ra đời, “Nửa đời hương hương phấn” được nhiều thế hệ nghệ sĩ trình diễn và giữ được tính hấp dẫn cho đến ngày nay. Nét diễn xuất tự nhiên và giọng ca điêu luyện của thế hệ nghệ sĩ sắm vai lần đầu tiên như Út Bạch Lan, Thành Được và Thanh Nga được đặc biệt ghi nhớ và trân trọng nhiều nhất cho dù những nghệ sĩ hữu danh ngày đó đã lần lượt xa rời cõi tạm. Từ thôn quê đến thành thị, trong những buổi họp mặt lớn nhỏ, vui chơi, giỗ chạp, quan hôn tang tế, lớp ca theo điệu Phụng Hoàng khi Hương ghé nhà Tùng và biết được vợ của Tùng là em gái của mình thường được yêu cầu nhiều nhất. Dân ghiền cải lương, ai nấy nghe qua cũng mê, cũng thích và thuộc lòng từng chữ, từng câu.

Dĩa hát 33 vòng “Nửa đời hương phấn”, 1960
Băng cassette “Nửa đời hương phấn”, 1972

“Nửa đời hương phấn” được đạo diễn Thái Thúc Nha chuyển thành phim đen trắng 35 ly (mm) với sự góp mặt của Kim Cương, La Thoại Tân, Lan Anh và chiếu ở các rạp hát nơi đô thành vào năm 1961. Tuy mức độ thành công chưa được như ý do trình độ làm phim lúc đó còn non yếu nhưng cuốn phim đã mở ra một cánh cửa mới khi nghệ thuật cải lương trở thành đề tài được các nhà sản xuất phim và các đạo diễn màn bạc chú ý. Nhờ hãng đĩa Continental và nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã cất công thu thanh vở tuồng này với các nghệ sĩ tài danh Thành Được, Thanh Nga, Bạch Tuyết, v.v.. vào đầu thập niên 70 mà cuốn băng “Nửa đời hương phấn” còn được lưu truyền cho đến ngày nay. Hơn nửa thế kỷ sau, “Nửa đời hương phấn” được dàn dựng trên sân khấu thoại kịch Hoàng Thái Thanh và được nhà văn Mặc Tuyền phóng tác thành tiểu thuyết.

 Phim 35mm “Bẽ bàng”, 1961, phóng tác từ vở tuồng cải lương “Nửa đời hương phấn”
“Nửa đời hương phấn” trên sân khấu thoại kịch, 2015
Hình bìa cuốn tiểu thuyết “Nửa đời hương phấn” của tác giả Mặc Tuyền

Thoạt tiên, vở tuồng có tựa đề là “Vợ tôi là đĩ” nhưng ký giả Hà Huy Hà (thi sĩ Kiên Giang) đã đề nghị đổi thành “Nửa đời hương phấn” để nghe cho thanh tao hơn (với sự đồng tình của liên danh soạn giả Hà Triều & Hoa Phượng). Những dòng thơ cảm tác của thi sĩ Kiên Giang được viết chữ nổi trên áp-phích (affiche) hay trên pano (paneaux) được treo trước rạp cũng như in trên tờ bướm quảng cáo (flyer) vở tuồng vẫn còn được báo chí ngày nay nhở:

“Nửa đời hương phấn còn hương

Khi em cất bước hoàn lương trở về

Tóc huyền giắt lại trâm thề

Gởi hương phấn lạt trả về lầu xanh”

Ngày trước, vì hoàn cảnh đẩy đưa sa chân vào cạm bẫy, trở thành gái giang hồ nhưng ít ra họ còn có lòng tự trọng, sợ xấu hổ mẹ cha nên thay tên đổi họ và thậm chí không dám trở lại quê nhà sau nửa đời hương phấn hư hao. Ngày nay, chế độ cộng sản nhẫn tâm buôn bán phụ nữ ra nước ngoài cho ngoại nhân chọn lựa như hàng hóa hay tổ chức những cuộc thi hoa hậu rình rang, là “sân sau” phục vụ cho đám quan chức những trò ăn chơi sa đọa, thụ hưởng lạc thú trên sự đói khổ của dân nghèo.

TV, 18.09.2025