Từ Tờ Chiếu Cần Vương Đến Lá Thư Cầu Viện Của Vua Hàm Nghi
Nguyễn Duy Chính
Hình 1: Tờ chiếu kêu gọi Cần Vương
CHIẾU CẦN VƯƠNG
Ngày mồng 9 tháng 4 năm 2018, công ty La Gazette Drouot tại Paris có bán đấu giá một số cổ vật Đông Dương trong đó có một tờ chiếu của vua Hàm Nghi kêu gọi người dân Việt Nam hợp lực nổi lên đánh đuổi người Pháp với giá phỏng định khoảng 5,000 đến 8,000 Euro.[1]
Từ những chi tiết kèm theo thì từ một bản dịch năm 1890, tờ chiếu này có nhan đề Grande Proclamation Imperiale Dressee Aux Officiers Et Aux Masses Populaires De La Resistance Du Sud (Chiếu gửi quan dân nổi dậy ở miền nam) được ban bố ngày mồng 1 tháng Sáu năm Hàm Nghi 5 nhằm ngày mồng 3 tháng Juillet năm 1889 dương lịch nội dung vua Hàm Nghi gửi lời kêu gọi nổi lên chống Pháp với sự giúp đỡ của nước Đức (L’Empereur Ham Nghi, Lance Un Appel A La Resistance Contre La France Avec L’aide De l’Allemagne). Tờ chiếu này do nhà cầm quyền Pháp tìm được năm 1889.
Ngoài chiếu thư, chúng tôi cũng phiên dịch một văn bản khác yêu cầu nhà Thanh giúp cho việc thiết lập một căn cứ ở Bảo Lạc, Mục Mã là đất giáp với tỉnh Quảng Tây của Trung Hoa để làm nơi nương náu.
So sánh với hoàn cảnh chung của những triều đại thất thế, từ Mạc, Lê, Tây Sơn, Nguyễn thì chúng ta thấy tất cả đều đi theo giải pháp “chạy sang Tàu cầu cứu” và nếu việc nương nhờ quân sự không khả thi thì biện pháp sau cùng là xin cho một vùng ở sát biên giới để hương khói tổ tiên.
Xuyên qua lý giải này, chúng ta có thể nhìn lại tờ chiếu Cần Vương mà người Pháp tìm thấy và cảnh ngộ của những vong thần nhà Nguyễn đứng đầu là Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn khi an tháp ở Trung Hoa. Việc nhận định về hai văn bản này đều dựa vào hoàn cảnh thực của những người soạn thảo – tức nhóm Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Quang Bích – chứ không liên quan gì đến bản thân vua Hàm Nghi, khi đó đang ở trong tay người Pháp và không còn liên lạc gì với các nhóm Cần Vương đang hoạt động.
Đính chính một vài sai lầm
Những chi tiết trên thông cáo trong quảng cáo của La Gazette Drouot có vài điểm cần đính chính. Theo ngày tháng đề trên tờ chiếu chúng tôi đọc được thì là ngày mồng 6 tháng Sáu năm Hàm Nghi thứ 5 (chứ không phải ngày mồng 1). Trên những văn thư quan trọng số 6 (六) đều dùng chữ Lục kép (陸) để người khác không thể chữa được. Chữ này khác với chữ Nhất kép (壹) mà người ta đã đọc nhầm. Sở dĩ tờ chiếu được xem là kêu gọi người nổi dậy ở phương nam vì nội dung bao hàm ý là nhà vua đã chạy được sang Trung Hoa và từ đó gửi lời hiệu triệu cho thần dân ở trong nước.
Cũng một chữ khác, Đức quốc trong bản văn mà nhà vua nêu ra rằng “… Chẳng ngại gian lao trèo non vượt biển. Liều chết đích thân sang Đại Đức quốc cầu viện …” [故不避山海之勞。冐死親臨大德國求援。] là một hư ngôn không phải để chỉ chính quốc nước Đức (Allemagne) mà là đại diện của họ ở những nơi có các tô giới tại Trung Hoa. Chỉ cần suy nghĩ bình thường chúng ta cũng loại trừ được khả năng triều đình Hàm Nghi có thể sang tận Âu châu cầu viện trong lúc này. Có lẽ khi gửi ra tờ chiếu này, nhóm Tôn Thất Thuyết đánh liều để làm áp lực với nhà Thanh như một cảnh báo rằng Trung Hoa không phải là chỗ dựa duy nhất để họ vận động. (xem Phụ Lục II)
Sửa lại những chi tiết về ngày tháng, chúng ta có thể kết luận rằng tờ chiếu này được ban bố ngày mồng 6 tháng Sáu năm Hàm Nghi thứ 5. Theo Đại Nam Thực Lục, đệ Ngũ kỷ, quyển V thì ngày Quí Mùi (tức ngày 11) năm Giáp Thân (1884) tháng Sáu, mùa hạ “quần thần rước tự quân đến điện Cần Chính nhận bảo tỉ truyền quốc và áo bào muôn năm nối ngôi, dâng thư rước lên ngôi vua … Giáp Thân (tức ngày 12), Tự quân lên ngôi ở điện Thái Hoà, lấy sang năm là Ất Dậu (1885) làm năm Hàm Nghi thứ nhất, ban bảo chiếu cho khắp trong ngoài …”[2]
| Phụ chú : Theo tài liệu của văn khố Đức do hai bạn ở Việt Nam gửi tặng (xem phóng ảnh ở Phụ Lục II) lá thư của Tôn Thất Thuyết gửi lãnh sự Đức cầu viện (không biết toà lãnh sự đặt ở đâu nhưng có lẽ tại Quảng Châu là nơi các ông đang bị an tháp) và thư trả lời của lãnh sự Đức nói rõ họ không thể giúp đỡ. Lá thư này được viết vào tháng Ba năm Canh Dần (1890), Quang Tự 16, tức là khoảng 9 tháng sau tờ chiếu Cần Vương (1889), là lúc nhóm Tôn Thất Thuyết đã được nhà Thanh an tháp (từ khoảng tháng Một năm Quang Tự 15) [Xem Phụ Lục II]. Theo lá thư thì “… Năm ngoái đệ đã đưa các viên chức sang đất Việt [Quảng Tây] xin giúp đỡ muốn đến trình bày với quí đài để đề đạt cầu xin đại quốc gia ân, nhưng không có ai đưa dẫn, lại sợ tiết lộ tin tức không hay… » (去年弟武諸員赴粵請援不得。圖向貴臺陳訴。求達大國邀恩。而伴引無人。又恐洩露聲息不便。). Có lẽ đây chỉ là một lời nói khéo để làm như nhóm Tôn Thất Thuyết đã có chủ trương tìm cách vận động với nước Đức nhưng xét diễn tiến việc nhóm Tôn Thất Thuyết sang Trung Hoa vận động với nhà Thanh thì khó có thể tin rằng quả thực họ có sẵn chủ trương này từ trước mà có lẽ chỉ là một bước ngoặt khi bị nhà Thanh bỏ rơi. Có thể chính vì ý định dùng lãnh thổ nhà Thanh làm vị trí trung gian để cầu viện một nước khác bị tiết lộ nên Trương Chi Động mới xuống tay an tháp họ, một hình thức cô lập và giám sát ở một khu vực « không có đường đi thông suốt, hẻo lánh xa xôi » và « ra lệnh cho văn võ phụ trách ở tỉnh thành ước thúc đề phòng, sai binh lính luân chuyển tuần phòng quan sát, không để cho họ giao thiệp với những người qua lại hay từ bên ngoài đến đây » (1889). |
Hình 2: Vua Hàm Nghi bị bắt
Tính ra như thế, ngày vua Hàm Nghi lên ngôi là ngày 11 tháng Sáu năm Giáp Thân, nhằm ngày mồng 1-8-1884. Ngày tờ chiếu này được ban bố là ngày 6 tháng Sáu năm Hàm Nghi 5 (Kỷ Sửu), nhằm ngày 3-7-1889.
Sử nước ta chép rằng vua Hàm Nghi được Tôn Thất Thuyết và các người thân tín đưa vào trong rừng núi vùng biên giới Lào Việt để tổ chức một chiến khu. Sau mấy năm lẩn trốn trong rừng, vua Hàm Nghi bị nội gián nên người Pháp đã tập kích và bắt được ông rồi đem sang Algérie an trí. Ông ở đây cho đến khi qua đời.
Vua Hàm Nghi tên thật là Ưng Lịch, họ Nguyễn Phúc nhưng khi lên ngôi thì lấy theo kim sách qui định từ thời Minh Mạng nên lấy tên là Nguyễn Phúc Minh gọi là “lễ thay tên”.[3] Ông cũng còn một biệt hiệu tự đặt khi vẽ hay viết là Tử Xuân. Theo Amandine Dabat trong Hàm Nghi, Empereur en exil, artiste à Alger (Paris: Sorbonne Université Presses, 2019), căn cứ trên một bản báo cáo của đại uý Boulangier là người chỉ huy cuộc vây bắt thì vua Hàm Nghi bị bắt ngày 29-10-1888 mặc dù tài liệu Việt Nam có những ghi chép khác hơn.[4]


Khu vực vua Hàm Nghi bị bắt [5]
Hình 3: Nguyễn Văn Tường
Sau khi bị bắt, vào khoảng ngày 22-11, vua Hàm Nghi bị đưa đến Thuận An để Viện Cơ Mật xác định được chính là ông rồi bị đưa đi Đà Nẵng đêm hôm 24-11. Từ lúc bị bắt, nhà vua giữ im lặng, không xưng tên hay biểu lộ thân thế của mình. Vì ông không nhận mình là vua Hàm Nghi nên người Pháp phải cho gọi những người trong triều, các thị thần và thân nhân đến nhận diện.[6] Để nguỵ trang, ông vua trẻ làm như một người dân thô lỗ không biết lễ nghi triều đình nhưng người Pháp có hơn một cách để xác định chính là cựu hoàng. Lúc đầu họ định an trí ông ở Saigon để ông đứng ra kêu gọi những nhóm cần vương giải tán nhưng sau đó thấy việc đó có thể gây ra bất lợi nên họ đưa ông sang Algérie.
Tuy dùng niên hiệu Hàm Nghi, những dụ chỉ hay hịch văn của nhóm người theo ông vào lập chiến khu trong rừng thường không phải do ông ban bố. Khi chạy ra khỏi hoàng thành, nhà vua mới có 14 tuổi, mọi việc đều ở trong tay quan phụ chính Tôn Thất Thuyết nên chúng ta hãy coi như đây chỉ là nhân danh, dù đúng, dù sai ông cũng không dự phần.
Diễn tiến giao thiệp với nhà Thanh
Khi vua Hàm Nghi xuất bôn, những người đi theo liền phát hịch đi các nơi kêu gọi dân chúng nổi lên đánh Pháp. Ngày 16 tháng Một năm Quang Tự 11 (Ất Dậu, 1885), vua Hàm Nghi sai Hoàng Tá Viêm (黄佐炎), Nguyễn Quang Bích (阮光碧) đem quốc thư chia làm 2 đường sang Vân Nam và Quảng Tây để báo với nhà Thanh xin giúp đỡ.
Trước đó không lâu, ngày 13 tháng Mười năm Quang Tự 11 (1885), Trương Chi Động gửi văn thư cho Phùng Tử Tài ở Khâm Châu thông báo về tin biến động ở Việt Nam và yêu cầu họ Phùng lập tức cho người sang thám thính, nguyên văn dịch ra như sau:
“Người Pháp đã chiếm Thuận Hoá đánh đuổi Việt vương. Du dũng, nghĩa đoàn các xứ Lạng (Sơn), Bình (Ninh), Hưng Hoá hiện đang cùng người Pháp chống cự. Vậy hãy gửi những người thông hiểu tập quán, thành thực có khả năng chia ra đi sang Thuận Hoá của Việt Nam, và các nơi dò thám cho xác thực tình hình người Pháp đánh bại Việt vương. Bất kể sử dụng binh lính hay con buôn đều được. Cần giữ kín và làm ngay.” [7]
Cuối năm đó, tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Chi Động điện cho Tổng Lý Nha Môn ở Bắc Kinh: “Người Pháp đã lập vua mới, các nơi thám báo thấy sắc hiệu là Đồng Khánh nhưng người Việt không ủng hộ. Vua đã bị trừ là Hàm Nghi lúc đầu dời ra Cam Lộ, sau lại chạy sang phủ Trấn Trại (có lẽ Trấn Ninh). Nghĩa quân nổi lên khắp nơi, giáo dân cũng chống lại người Pháp…”. [8]
Tổng đốc Vân Quí Sầm Dục Anh, và nội các học sĩ Chu Đức Nhuận tâu lên:
“Cứ như thượng thư bộ Lễ của Việt Nam là Nguyễn Quang Bích kể ra thì Việt Nam đã suy tôn con nối nghiệp là Nguyễn Phúc Minh bị người Pháp ép đuổi đi nên chạy sang Quảng Trị, hiệu triệu chư quân ứng nghĩa ở Bắc Kỳ để cố sức hưng phục, rồi lại chạy ra Nghệ An, Hà Tĩnh, chặn giữ những nơi hiểm yếu để cố thủ, dân chúng đi theo càng nhiều. Người Pháp biết thần dân hạ quốc chưa quên chủ cũ, khó mà tự lập nên đến tháng Tám, Quang Tự 11 (1885) cùng với bọn phản thần Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Hữu Độ ủng lập con nhỏ của tiên quốc vương là Nguyễn Chánh Mông, chiếm cứ Phú Xuân, cải hiệu Đồng Khánh nhưng dân chúng không theo”.[9]
Nguyên tổng đốc Sơn Hưng Tuyên sung hiệp thống quân vụ của Việt Nam là Nguyễn Đình Nhuận (阮廷潤), nguyên Lạng [Sơn] [Cao] Bằng tuần phủ sung tham tán sự vụ Lã Xuân Uy (呂春葳), Sơn Tây tuần phủ tham tán quân vụ Nguyễn Văn Giáp (阮文甲) … cùng với các thân hào kỳ lão ở Bắc Kỳ cũng gửi thư cầu xin Trung Quốc viện trợ để mưu tính việc khôi phục.
… Bọn chúng tôi phụng mệnh vua của hạ quốc, tập hợp thân hào trung nghĩa ở Bắc Kỳ, tuỳ cơ mà đánh hay giữ, nay lo liệu lương thực để đợi thiên binh.
Hiện nay sĩ dân các tỉnh của hạ quốc là Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, Nam Định, Hưng Yên hưởng ứng, hễ chúng đưa phu dịch đi chuyên chở binh lương đều không ai chịu theo. Còn như các binh lính đã chiêu mộ và phủ huyện thuộc về chúng nay cũng đều quay về. Gần đây ở Thạch Sơn, Cảnh Lộc mấy lần thắng được địch, họp thành đoàn tập luyện, liên lạc lẫn nhau để cùng làm việc. Người Pháp ra lệnh nhưng không nghe theo, từ Nghệ Tĩnh về phía nam, sĩ dân các tỉnh đều nổi lên chiếm giữ các nơi để chia thế của giặc”.
“Liên tiếp có quốc tang, vua trẻ kế vị, nguy thay sáng không lo nổi buổi chiều, chỉ sợ một ngày sụp đổ, để thiên triều phải lo, chống đông, đỡ tây, không được ngày nào rảnh tay. Lại thêm giống người kia tìm đủ cách để chặn đường sứ giả, e rằng bầy tôi nước Sở khóc đấy nhưng không được khóc ở sân nước Tần, chim nhạn đất Lỗ ai oán kêu than, nhưng đâu vang tới tận nước Tấn?”.
“Quốc vương nước tôi một thân mang nặng trách nhiệm triều đình xã tắc, đâu có thể ngồi mà chờ mất, đành phải chạy ra mà lo giữ nước”, “như bọn kẻ dưới chúng tôi, nước vỡ vua dời đi, phận mình chỉ còn một cái chết, thế nhưng chưa dám chết, vì chưng vua cũ trước đây, một lữ có thể lấy lại nước, nghìn nhà có thể còn nước Việt, dựa vào núi non hiểm trở để cùng với quốc vương nước tôi lo việc sống còn”. Nếu như “đại binh sớm tới, mặt trời lại lên, không phải chỉ là quốc vương nước tôi, mà miếu xã cũng được trở lại vậy”. [10]
LÁ THƯ CẦU VIỆN
Hiện nay, trong bộ Trung Pháp Việt Nam giao thiệp đáng còn có những văn bản của triều đình Hàm Nghi liên lạc với nhà Thanh.[11] Theo những chi tiết, chúng ta thấy có hai giai đoạn mà mỗi thời kỳ thì sự trông đợi của nhóm Tôn Thất Thuyết có khác.
Khi vừa đem triều đình chạy ra Quảng Trị, Tôn Thất Thuyết liền cho người sang cầu viện nhà Thanh, yêu cầu họ xuất quân đánh Pháp để quân Việt Nam hưởng ứng và nổi lên ở trong nước, tạo ra thế người Pháp phải đối phó với sự chiến đấu ở nhiều nơi. Đó là nội dung tờ bẩm ngày mồng 6 tháng Một, năm Ất Dậu (1885).
Tờ bẩm của vua Hàm Nghi xin nhà Thanh xuất quân giúp đánh Pháp (tháng Một, Ất Dậu 1885)
Ngày mồng 6 tháng Chín (Quang Tự 12, 1886), tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Chi Động gửi tấu thư lên Thanh triều trong đó có chép lại một số văn thư của “triều đình lưu vong” và một tờ bẩm của quốc vương Nguyễn Phúc Minh, có lẽ đây là bản đầu tiên [viết từ tháng Một năm Ất Dậu (1885) và do các quan chuyển sang Trung Hoa tháng Giêng năm Bính Tuất (1886)]. Khoảng nửa năm sau, không thấy hồi âm, các quan Việt Nam ở miền bắc [có lẽ theo lệnh Tôn Thất Thuyết] lại gửi sang một tờ bẩm để nhắc lại lời thỉnh cầu, trích lục ra như sau:
… Con thừa tự của tiên quốc vương nước Việt Nam Nguyễn Phúc Thì là Nguyễn Phúc Minh kính cẩn bẩm lên Quảng Tây phủ bộ viện thiên triều đại nhân các hạ xem xét. Xét hạ quốc vốn được thiên triều vun trồng, ban cho chức phận một phương đã mấy trăm năm qua. Tiên phụ Minh tôi là Nguyễn Phúc Thì đã bị bệnh qua đời vào tháng Sáu năm Quang Tự 9 (Quí Mùi, 1883), người trong hạ quốc đưa em ông ta là Nguyễn Phúc Thăng (阮福昇)[Hiệp Hoà] trông coi việc nước, được bốn tháng, Nguyễn Phúc Thăng tự thấy thân thể bệnh tật không kham nổi nên nhường lại cho con kế nghiệp của cha tôi là Nguyễn Phúc Hạo (阮福昊) [Kiến Phúc] lên kế nghiệp, đó chính là thân huynh của Minh vậy.
Ấy là vào tháng Sáu và tháng Một năm Quang Tự 9 (Quí Mùi, 1883), mọi việc đã bẩm lên cho tổng đốc Lưỡng Quảng đại nhân và Vân Quí đốc bộ đường đại nhân khẩn khoản xin đề đạt cửu trùng ở xa không biết đã lên tới chưa.
Đến tháng Sáu năm Quang Tự 10 (Giáp Thân, 1884), tiên huynh của Minh là Nguyễn Phúc Hạo bị bệnh chết, di chúc cho Minh theo thứ tự mà lập nên, nối tiếp sự nghiệp của cha Minh, lo liệu việc nước để đợi ân mệnh.
Nay các tỉnh ở Bắc Kỳ của nước tôi đều bị người Pháp chiếm cứ, cửa biển dọc theo duyên hải đều bị họ phong cấm, thuỷ lục đều bị bế tắc, nạn gấp của hạ quốc, không thể bề trên không nghe đến. Thế nhưng trong mấy năm qua người Pháp thường gây sự với hạ quốc, tháng Bảy năm Quang Tự 9 (Quí Mùi, 1883), toàn quyền Pháp Hà La Mang (Harmand) đem binh thuyền xông vào bên ngoài đô thành của hạ quốc là cửa biển Thuận An, công phá các đồn luỹ, ép phải ký hiệp ước 27 điều khoản để đổi điều ước cũ năm Giáp Tuất (1874).
Khi đó tang sự của tiên phụ vương Minh này là Nguyễn Phúc Thì chưa xong, trong ngoài đều sợ, không thể không theo. Đến tháng Năm năm Quang Tự 10 (Giáp Thân, 1884), tiên huynh vương của Minh [Kiến Phúc] đang lúc bệnh nặng, toàn quyền Pháp là Ba Đức Na (Patenôtre) lại đem thêm binh thuyền vào cửa Thuận An, bộ binh đột nhiên tấn công đô thành của hạ quốc, ép đổi lại hoà ước khác thay cho các điều khoản Hà La Mang đã định, lại ép lấy nguyên phụng tích phong quốc ấn đem nấu chảy. Y lại ép phải cho đem binh vào đóng ở trong thành nội và phế bỏ quan lại đang ở các tỉnh Bắc Kỳ, ép mấy vạn dân đinh xua ra chiến địa.
Mấy lần binh của thiên triều sang giúp đỡ thì hễ đến nơi nào, hoặc là lương thực trên đường đi, hoặc theo quân để nấu ăn, hoặc thông hỏi tin tức để do thám thì đầu bắt hết một lượt, dân chúng nhiều phần bị thiêu giết cực tàn khốc. Người Pháp ở nước tôi lúc đầu tàm thực, sau muốn nuốt chửng. Mấy năm nay nhờ có thiên triều ra lệnh cho tướng đem quân qua để chủ trì nên họ cũng còn có chỗ e dè, đến khi thua trận mấy lần nên đành phải xin hoà và được chấp thuận, tưởng bọn họ sẽ mãi mãi không còn dám đè nén hạ quốc, mà tuân theo những điều khoản trong hoà ước, thế thì vua tôi hạ quốc cũng thật may mắn vậy.
Nào ngờ bọn họ nhân thế mà đắc chí, tháng Năm năm nay (Ất Dậu, 1885), đô thống của họ đột nhiên tăng thêm binh thuyền đưa tới, hợp với những thuyền đã có từ trước, tính chuyện bức chiếm để bảo hộ. Từ đó hành hoành hung bạo, thế không nhịn được nữa nên ngày 22 tháng đó cùng với bọn họ giao chiến, ước chừng 4 giờ, giết được số đông bọn chúng. Không ngờ chúng bắn đại pháo kịch liệt, sức của hạ quốc không chống nổi nên phải dẫn bầy tôi, chạy ra các tỉnh dựa vào núi mà đóng quân, kêu gọi dân chúng, bầy tôi trong nước lo chuyện chống lại.
Đến tháng Sáu (Ất Dậu, 1885) lập tức gửi thư kể rõ tình trạng bẩm lên quí phủ bộ viện đại nhân, cùng với Vân Quí đốc bộ đường đại nhân, cứ thực tình mà xin giúp đỡ. Thế nhưng đường sá khó khăn, e rằng chưa tới được. Nay Minh này đang đóng trong vùng núi non tỉnh Hà Tĩnh [cách Bắc Kỳ bẩy tám ngày đường], thân hào các tỉnh đều thiết tha nhớ cũ nên đều tụ tập nghĩa binh đứng lên. Từ Thanh Hoá, Ninh Bình trở về bắc thì bị binh thuyền của họ chiếm cứ, hiệu lệnh khó thi hành nên sức lẻ loi khó mà tự lập, vậy mong tích phong quốc ấn như tổ tiên ông cha của Minh này từng nhận của thiên triều vậy.
Khi anh của Minh còn tại thế, quốc ấn cũng không giữ được, nay lại không bảo vệ được đô thành, đắc tội rất nhiều. Gần đây người Pháp lại ủng lập người khác lên làm quốc trưởng, cùng ở đô thành, mọi điều khoản đều tuân theo, thật là khinh khi coi rẻ tiểu quốc. Lại dám khinh mạn giềng mối của thiên triều, thật công pháp của các nước không thể nào dung tha được. Minh tuy tuổi còn nhỏ nhưng cũng còn chút trí năng, không thể không cố gắng. Thế nhưng đang lúc bôn ba nếu không dựa vào cái đức tái tạo của thiên triều thì không thể nào mưu tính gì được.
Vậy trông lên quí đại thần xem xét cái tình hình bức thiết của nước dưới, theo như thế mà thay mặt tâu xin cho, may được dụ chỉ chấp thuận mà ra lệnh cho tướng xuất quan, kể tội đánh dẹp. Hạ quốc nguyện hết sức đem quân sĩ mà đi theo. Lại mong được xá tội ban cho phong chương (quốc ấn phong cho) để dựa vào ân sủng mà hiệu lệnh người trong nước, thu phục cương thổ để được mãi mãi làm ngoại phiên mà giữ vững được lòng nhân nuôi nấng kẻ nhỏ của thiên triều, cái nghĩa cứu kẻ bị tai ương, vỗ về người bị nạn. Như thế thì không phải chỉ một mình Minh này ghi lòng tạc dạ không quên, mà trăm họ hạ quốc cũng đều đội ơn vô hạn vậy.
Nay xin hết lòng thành thật giãi bày tội để xin lệnh trên, tự biết là mạo muội quấy rầy, gửi thư không khỏi không trông ngóng. Thêm nữa quốc ấn đã bị bọn chúng ép lấy mất rồi nên điểm chỉ để giao cho tỉnh Lạng Sơn đệ nạp cho khỏi trở ngại mong được xét đến mà sớm ban cho phúc thư. Nay cúi bẩm.
Quang Tự 11 (Ất Dậu, 1885), ngày mồng 6 tháng Một.
Nguyễn Phúc Minh.[12]
Tờ bẩm xin được cho sống tại Mục Mã, Bảo Lạc (khoảng nửa sau năm Bính Tuất, 1886)
Hình 4: Tôn Thất Thuyết
Theo lời trình của Trương Chi Động thì tiền tổng đốc Sơn Tây của Việt Nam là Nguyễn Đình Nhuận (阮廷潤) đã sai người là Vũ Khắc Khoan (武克寬) thay mặt đem sang Quảng Tây một tờ bẩm nhân danh các quan ở Bắc Kỳ nhưng lời lẽ là của Tôn Thất Thuyết (con dấu tham tán quân vụ), dịch ra như sau:
… Tiền tỉnh lại Sơn Tây của Việt Nam là Nguyễn Đình Nhuận, tỉnh lại của Lạng Sơn là Lã Xuân Uy (呂春葳), tỉnh lại Cao Bằng là Nghiêm Xuân Phương (嚴春芳) cúi bẩm lên viên môn tổng đốc Lưỡng Quảng thiên triều Trương đại nhân xem đến.
Hạ quốc hồi tháng Năm năm ngoái (Ất Dậu, 1885) bị người Pháp áp bức nên tự quân nước tôi phải chạy trốn, đã đem tình hình do tổng đốc Vân Quí và tuần phủ Quảng Tây bẩm lên đề đạt nhưng chưa nhận được ân mệnh. Tháng trước ở sơn phòng tỉnh Hà Tĩnh, lại soạn văn bản tuân theo lệ bẩm lên phủ bộ đường tỉnh Quảng Tây.
Đầu năm nay ngày mồng 6 sai người mang đến, bọn hạ chức tuân lệnh phụng nạp rồi sau đó chờ ở Nam Quan nhưng chưa được trả lời, sợ rằng sự việc khẩn cấp chưa đề đạt lên. Tự quân nước tôi chiêm ngưỡng lòng thành thiết tha, không thể tự kêu xin, bọn kẻ dưới nay sao nguyên văn bẩm lên do cung bảo Phùng [Tử Tài] chuyển lên quí bộ đường xem xét mong được coi đến.
Hình 5: Vua Hàm Nghi
Hạ quốc gặp phải nhiều nạn, thần dân không ai là không đau lòng, có điều như lửa cháy tới áo, khó mà tự mình lo liệu được. Tháng Một năm ngoái (Ất Dậu, 1885), bọn chúng tôi cũng đã sai người mời đón tự quân đến vùng Mục Mã, Bảo Lạc, giáp với nội địa, dựa dẫm vào uy linh của thiên triều để mưu tính việc khởi sự lần nữa. Nào ngờ vùng đó hiện nay bị lính dõng địa phương chiếm cứ quấy nhiễu, nhà buôn Mục Mã là Lương Tuấn Tú (梁俊秀) đã dùng lời khuyên nhủ nhưng cũng không đến đâu.
Tự quân nước tôi sống ở Hà Tĩnh đã lâu, súng ống không có cách nào mua được nên muốn đến vùng biên giới Bắc Kỳ, nhưng không có một tấc đất nào yên ổn, sự thế nguy khốn quẫn bách như thế, mong cái lòng bao trùm khắp nơi của hiến đài mà không nhẫn tâm ruồng bỏ. Ngoại trừ bẩm riêng lên phủ bộ viện Quảng Tây xem xét, cũng liều mạo muội bẩm lên để mong chiếu cố tính toán mà tự quân nước tôi được dựa vào những vùng nội địa giáp với Mục Mã, Bảo Lạc thuận tiện cho việc điều động thần dân khôi phục nước cũ mà lệ thuộc vào thiên triều để làm phên giậu lâu dài thì hạ quốc rất là mong mỏi vậy.
Nếu như trông xuống mà thuận cho lời thỉnh cầu này thì xin mau trả lời rõ để dựa vào đó mà chuyển đạt cho tự quân nước tôi tuân theo biện lý. Tình hình nước tôi đang nguy cấp, lời lẽ không được mạch lạc, mong được lượng thứ cho. [13]
Xem lá thư trước, chúng ta biết được triều đình Hàm Nghi đã yêu cầu nhà Thanh một số điểm sau đây:
– Xin lại một quốc ấn đã bị nấu chảy ngày 6-6-1884 (13 tháng Năm, Kiến Phúc nguyên niên)[14] để thừa kế vai trò phiên thuộc với nhà Thanh,
– Xin nhà Thanh cho quân sang, quân Cần Vương sẽ tiếp tay để cùng chống Pháp,
Yêu cầu này được viết từ cuối năm Ất Dậu (1885) và gửi sang nhà Thanh đầu năm Bính Tuất (1886) nhưng không được phúc đáp. Chỉ trong khoảng một năm, chúng ta cũng thấy một số biến chuyển như sau:
– Năm 1885, vua Hàm Nghi chỉ yêu cầu quân Thanh tiến sang và nghĩa binh sẽ nhất tề hưởng ứng nhưng căn cứ của triều Nguyễn vẫn còn ở Hà Tĩnh gần kinh đô,
– Năm 1886, khi tình hình càng lúc càng quẫn bách, theo tính toán của Tôn Thất Thuyết, ông có ý định lập một căn cứ chiến đấu ở biên giới Trung Hoa rồi di chuyển vua Hàm Nghi lên Bảo Lạc để tiện việc phối hợp lực lượng.
Ở Hà Tĩnh, vua Hàm Nghi bị quân Pháp xông vào rừng bắt sống và khi biết chắc rằng đây chính là ông hoàng mà họ đang tìm, nhà vua bị đưa sang Alger an trí.
AN THÁP NHÓM CẦN VƯƠNG
Đường lối giải quyết của tổng đốc Lưỡng Quảng
Tuy nhiên, báo cáo của Trương Chi Động lên Tổng Lý Nha Môn chỉ đề cập đến tin tức nội bộ của họ, còn việc trợ giúp cụ thể như thế nào cho nhóm Cần Vương của Việt Nam thì nhà Thanh vẫn không hề lên tiếng, chỉ khuyên đãi bôi là nên cố gắng để có một nơi thờ cúng tổ tiên ở trong nước.
… Xét rằng Việt Nam từ lâu từng là phiên phong, vốn là thần tử của thiên triều. Từ thời Hàm Phong, Đồng Trị đến nay, nước đó mấy lần có giặc giã đều phải nhờ vào vương sư [quân Thanh] tiến đánh tiễu trừ được cả, phù lúc nguy, định lúc nghiêng, nước ta chưa ngày nào quên chuyện đó. Thế nhưng quốc vương nước kia mờ tối [chỉ vua Tự Đức] không biết cai trị giữ nước, năm trước từng cùng người Pháp mấy lần lập minh ước riêng, dần dần ra khỏi phên giậu, mất đất bại binh, tự gây hoạ hoạn.
Hình 6: Trương Chi Động
Năm trước Điền Quế ra quân, bản bộ đường tuân theo dụ chỉ ra sức trù liệu kế sách cho Việt Nam, đưa quân vận lương, tính toán đủ đường nhưng nước kia chẳng hề sai một người, lo một xu đến trước quân bày tỏ bàn tính việc hai bên giáp công. Đợi đến khi đại binh phá địch ở Nam Quan, khắc phục Lạng Sơn, Trường Khánh, cũng không tập hợp nghĩa binh, hiệp trợ quan quân thừa cơ đánh giặc. Trìều đình không nỡ để cho sinh linh phải chịu chinh chiến lâu năm nên mới bằng lòng cùng người Pháp bàn việc nghị hoà, nay cục thế đã định, nước đó đã thuộc về người Pháp bảo hộ.
Gần đây thế vẫn không lên thêm được nên mới bắt đầu xin cứu giúp, xét theo tình cảnh thì thật là đáng thương nhưng cơ hội đã đánh mất rồi không thể bổ cứu, minh ước đã rõ ràng đâu có thể nào nói khác được. Việc xin vùng Bảo Lạc, Mục Mã để cho quốc vương nước kia cư trú vốn không có trong điều ước, bản bộ đường thật e ngại không dám tâu lên xin, chỉ có thần dân ở nước kia tính đức lượng sức, đồng tâm hiệp lực cố mà duy trì để giữ được nơi tế tự.
Còn như việc quan Việt Nam là Vũ Khắc Khoan đường sá xa xôi đến đất Việt [tỉnh Quảng Tây] thì trông xuống cái ý hoài nhu của triều đình nên đã cho doanh vụ xứ truyền dụ đến quan nước kia biết rõ ràng, vỗ về cho ổn thoả, cấp cho lộ phí, sai biền binh hộ tống. Lại phát cho viên quan Việt Nam một tấm hộ chiếu chuyển cho nhận lãnh rồi ra lệnh theo đường biển đến Liêm Châu, từ Thượng Tư, Ninh Minh đi Long Châu trở về Việt Nam. Lại do ti đạo chuẩn bị văn thư trả lời cho tiền tổng đốc Sơn Tây nước đó là Nguyễn Đình Nhuận biết. Hịch này ngoài việc phê phát ra cũng tư trình tương ứng lên quí nha môn, kính cẩn xin tra chiếu thi hành. Chiếu lục niêm đơn [15].
Bản án chung thẩm mà Trương Chi Động gửi lên nhà Thanh, tựu trung cũng không khác gì những quan điểm cố hữu thường nhắc đi nhắc lại, từ việc Lê Duy Kỳ chạy sang Trung Hoa đến cách đối xử với anh em Nguyễn Quang Toản. Sau khi chặn hết mọi ngả để người Việt Nam không làm gì có thể phương hại đến tình hữu nghị mới giữa Pháp và Trung Hoa, họ Trương lại đưa ra một giải pháp đượm mùi nhân nghĩa của nước lớn. Đó là an tháp nhóm Tôn Thất Thuyết ở Quảng Đông.
Định cư nhóm Tôn Thất Thuyết
Có lẽ sau khi nghe tin vua Hàm Nghi đã bị Pháp bắt và tình hình càng lúc càng bi quan, Tôn Thất Thuyết và ban tham mưu của ông đành phải đánh nước bài sau cùng là sang Trung Hoa trực tiếp cầu viện. Không thấy tài liệu nào nói ông rời vua Hàm Nghi để ra đi từ bao giờ, chỉ biết rằng ông theo đường núi ra Thanh Hoá, ngược dòng sông Mã lên Lai Châu, sang Vân Nam và được tổng đốc Vân Nam đưa sang Quảng Tây. Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Chi Động [張之洞] gửi văn thư ngày mồng 8 tháng Một (11) [Quang Tự 15, 1889] nói rằng:
Chiếu theo những việc từ trước, các quan Việt Nam Nguyễn Phúc Thuyết [阮福說], Trần Xuân Soạn [陳春撰], Nguỵ Khắc Kiều [魏克喬], Trần Chi Đống [陳之棟], Hồ Quỳnh [胡瓊] dẫn theo binh dịch 10 người đến tỉnh Việt [Quảng Đông, Quảng Tây] khai rằng bị người Pháp giảo quyệt khinh thị, hung hăng càn rỡ, bắt bớ trả thù nên vì thế mà phải đề đạt lên xin giúp đỡ. Việc này đã bàn luận từ lâu và định rằng khó có thể chuẩn thuận được nên đã sức cho cục phát ngân 500 lượng và ra lệnh cho lập tức quay về nước.
Thế nhưng quan nước Việt bẩm rằng đường đi khó khăn không cách nào trở về được nữa nên xin ở lại Khâm châu tuỳ tiện sinh sống, cấp cho lương ăn khỏi đói khổ. Nay việc hoạch định biên giới ở Khâm châu đã hoàn thành mà vùng giáp Hoa- Việt thì kẻ cướp qua lại rất nhiều nếu như bảo họ đến đây sinh sống thì việc phòng phạm khó mà chu toàn e rằng sẽ sinh rắc rối.
Thế nhưng đám quan nước Việt kia nay vào đường cùng không còn chỗ nào về không thể không rộng lượng cho an tháp nên đã ra lệnh cho tạm sống ở trong tỉnh và sức cho cục cấp phát cho họ đồ ăn và tiền tiêu vặt, mỗi tháng tất cả 57 lượng 3 tiền 6 phân. Lại ra lệnh cho phó tướng chịu trách nhiệm hiệp Quảng Châu phái binh dũng đến nơi các quan người Việt ở đi tuần tra xét, không để cho họ được qua lại lai vãng với người ngoài, nay những người Việt đó sinh sống tại tỉnh cũng đã yên thân.
Có điều khuôn viên tỉnh lại gần kề với cửa biển nơi mà người Trung Hoa người Tây Dương lẫn lộn, ở tại trong vịnh thì sáng tối lúc nào cũng có kẻ ra người vào, rất là phồn tạp, việc phòng phạm khó khăn, không thể không sinh chuyện nên không thể để tại Khâm châu mà nơi khác cũng khó an tháp. Chỉ có ở địa phương La Định là nơi không có đường đi thông suốt, hẻo lánh xa xôi mà dân chúng cũng hiền lành nên đã sức cho hiệp phó tướng Quảng Châu phái binh dũng hộ tống các quan Việt Nam đến nơi đó sinh sống và ra lệnh cho văn võ phụ trách ở tỉnh thành ước thúc đề phòng, sai binh lính luân chuyển tuần phòng quan sát, không để cho họ giao thiệp với những người qua lại hay từ bên ngoài đến đây. Lại cũng cấm không cho tự ý rời khỏi châu thành để đến ở một nơi khác.
Nhà cửa cho họ ở thì do châu đó thay mặt thuê mướn còn tiền ăn và tạp dụng mỗi tháng phát cho 57 lượng 3 tiền 6 phân và thêm cả tiền thuê nhà thì do châu ấy lấy tiền thuế quế mà cấp cho. Số người thì chỉ hạn cho 15 người lúc đầu đến đây không được tăng thêm. Tuỳ thời mà hiểu dụ bọn quan người Việt rằng nên biết an phận theo định mệnh chứ đừng mong mỏi chuyện giúp đỡ gì khác.
Vậy châu đó và doanh hãy thay phiên trông chừng, để họ khỏi bỏ đi mà không báo hay đến nơi khác gây rắc rối.
Còn việc các quan văn võ châu đó hỏi thì trừ việc phân biệt trên giấy tờ, các quan Việt (Quảng Đông, Quảng Tây) tương ứng theo danh hàm mà mỗi ngày cấp phát tiền ăn uống, tiêu pha theo danh sách trình lên.
Đây là danh sách gửi quí nha môn, kính cẩn xin tham chiếu để thi hành:
Chiếu lục niêm đơn, sao tên tuổi quan Việt Nam và người đi theo, cùng tiền ăn theo ngân số.
Kê khai:
| MỖI NGÀY | CHỨC VỤ | ||
| Nguyễn Phúc Thuyết | 阮福說 | cấp tiền ăn 3 tiền | |
| Trần Xuân Soạn | 陳春撰 | cấp tiền ăn 2 tiền | |
| Nguỵ Khắc Kiều | 魏克喬 | cấp tiền ăn 2 tiền | |
| Trần Chi Đống | 陳之棟 | cấp tiền ăn 1 tiền 4 phân | |
| Hồ Quỳnh | 胡瓊 | cấp tiền ăn 1 tiền 4 phân | |
| Vương Thế Cơ | 王世基 | cấp tiền ăn 8 phân | Quản cơ |
| Nguyễn Tốn | 阮巽 | cấp tiền ăn 8 phân | Cai đội |
| Nguyễn Duy Lập | 阮維立 | cấp tiền ăn 8 phân | Cai đội |
| Trịnh Bá Tuyên | 鄭伯宣 | cấp tiền ăn 8 phân | Tư vụ |
| Nguyễn Xuân Thắng | 阮春勝 | cấp tiền ăn 8 phân | Đội trưởng |
| Lương Trinh | 粱楨 | cấp tiền ăn 8 phân | Đội trưởng |
| Ngô Lễ | 吳禮 | cấp tiền ăn 8 phân | Đội trưởng |
| Hà Văn Công | 何文功 | cấp tiền ăn 6 phân | lính |
| Lê An | 黎安 | cấp tiền ăn 6 phân | lính |
| Vương Đình Chính | 王廷正 | cấp tiền ăn 6 phân | lính |
Tất cả trên đây tính cộng lại mỗi tháng tiền ăn là 51 lượng 6 tiền.
Mỗi tháng lại cấp cho tiền dầu đèn và lặt vặt 5 lượng 7 tiền 6 phân.
Tổng cộng chi mỗi tháng là 57 lượng 3 tiền 6 phân.[16]
Nói tóm lại, tờ chiếu mà người Pháp bắt được không phải giả nhưng nội dung thì hoàn toàn không chính xác và mục tiêu không phải là một văn kiện lịch sử mà chỉ là một lá thư vận động để quyên góp tài lực, vật lực nhưng không có kết quả gì.
Theo tin từ các người được triều đình Huế cử sang dò thám thì Tôn Thất Thuyết trong một hai năm đầu khi sang Trung Hoa cũng bôn ba nhiều nơi, từ Vân Nam sang Quảng Tây, phần lớn ở nơi gần biên giới Hoa Việt khu vực Bảo Lạc, Cao Bằng như Qui Thuận, Trấn An hay đi xa hơn một chút, sang Vân Nam nhằm liên lạc với nghĩa binh trong nước. Tuy nhiên, vì biết sức mình có giới hạn, nhóm Tôn Thất Thuyết vẫn cố gắng tìm viện trợ từ bên ngoài, chủ yếu là từ nhà Thanh theo truyền thống nhưng khi thấy Trung Hoa đã hoàn toàn bỏ rơi thì họ lại tìm cách vận động các nước khác. Địa điểm sau cùng mà Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn tìm đến là Khâm châu, Liêm châu thuộc Quảng Đông nhưng sau đó – có lẽ vì nhà Thanh không muốn có thêm phiền phức – nên đã bắt giữ và an trí ông và đồng bọn tại La Định (tây Quảng Đông, giáp với Quảng Tây).
Quảng Tây
Quảng Đông
Theo “Châu bản về Tôn Thất Thuyết lưu truyền tại biên giới Trung Quốc (1887-1892)” của Cao Việt Anh (Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, 9-2018) thì việc sinh hoạt của Tôn Thất Thuyết khi bị an tháp ở La Định có chép trong La Định Chí, quyển 7 phần Lưu Ngụ như sau:
“Vương [Thuyết] bèn cùng các bề tôi tuỳ tòng là Nguỵ Khắc Kiều 魏克喬, Tống Duy Tân 宋維新 …mười mấy người dời ra cứ ngụ nơi Bắc Quan miếu của thành châu [La Định]. Chính phủ lệnh cho Cục Thuế Lưỡng Quảng hằng tháng tặng chi phí lưu vong là 5 trăm lạng[17]. Các sự sinh hoạt của vương [Thuyết] vẫn giữ lễ vua tôi, mỗi tháng vào ngày sóc đều yết kiến chúc hạ. Gặp kỳ khánh điển dùng giấy trang hoàng thành điện rồng, [vương] ngự giá cho quần thần khánh chúc như xưa.
Vương [Thuyết] suýt soát tuổi lục tuần, tinh thần quắc thước, trạng mạo khôi ngô kỳ vĩ, mũi thẳng tai lớn, hai tay buông đến gối, cảm xúc mất nước lưu ly khiến [vương] thường ngâm vịnh thành lời”[18].
Nếu đúng như vậy, sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, Tôn Thất Thuyết và những người đi theo cũng tự lập thành một tiểu triều đình, lưu vong nơi đất khách mặc dầu theo những chi tiết khác thì nhóm của ông cũng đã đổi sang mặc áo khách như dân nội địa Trung Hoa.
KẾT LUẬN
Suốt trong mấy năm liền, nhóm Tôn Thất Thuyết vẫn lẩn trốn trong rừng, chia thành nhiều nhóm nhỏ khác nhau để tránh sự lùng bắt của Pháp và chờ đợi phản ứng từ phía nhà Thanh. Có lẽ với tin tức ít ỏi, những người kháng chiến Việt Nam không biết rằng nhà Thanh và Pháp đã giảng hoà và bận rộn với việc thi hành hiệp ước Thiên Tân (1885). Đến năm 1888 thì tình hình giữa người Pháp và Trung Hoa đã không còn thế đối đầu như hồi năm 1883 khi vua Tự Đức mới mất.
Sau những trận hải chiến khốc liệt ở ngoài biển Phúc Kiến và Đài Loan, nhà Thanh biết rằng họ không mạnh như đã tự lượng giá. Sự thất thế quân sự đưa nhà Thanh tới việc thoả hiệp với Pháp và từ bỏ can thiệp vào Việt Nam cũng là một trong những đổi chác có lợi cho họ, vừa ngoa ngôn với quốc dân rằng “chấp thuận cho người Pháp cầu hoà”, vừa nhân đó đòi hỏi một số yêu sách (như việc không phải trả chiến phí cho người Pháp, chuyển giao một số kỹ thuật về điện và đường sắt, và nhất là để đổi lấy một số ưu đãi thuế má và thương mại, người Pháp sẽ nhường cho họ một số đất đai ở Bắc Kỳ …)
Về phía quân cần vương, tài chính kiệt quệ nên Tôn Thất Thuyết tìm cách vận động sức mạnh trong nước để chống Pháp xuyên qua việc quyên góp tài lực, vật lực và tung ra bản chiếu thư làm như vua Hàm Nghi đã xuất bôn để phối hợp với quân cứu viện ở mạn bắc và kêu gọi toàn dân yểm trợ chống Pháp ở phía nam. Tuy nhiên, thực tế không xảy ra như mong đợi, vua Hàm Nghi thì vì nội gián nên bị người Pháp bắt (khoảng tháng 10-1888) nên chúng ta có thể nghĩ rằng kế hoạch chỉ do Tôn Thất Thuyết và ban tham mưu tưởng tượng ra, căn cứ vào những hiểu biết của họ trong chính sách ngoại giao truyền thống với Trung Hoa.
Còn triều đình Hàm Nghi sau ba năm kháng chiến (1886 đến 1889) thì càng lúc càng thêm bi đát. Những lá thư gửi sang Trung Hoa chỉ như hòn sỏi ném xuống biển hoàn toàn không thấy tăm hơi gì cả. Thực tế lúc đó, nhà Thanh đã ký hoà ước với Pháp và hai bên đang tiếp tục củng cố những giao ước sao cho có lợi nhất, không dại gì tiếp tay với nhóm cần vương của Việt Nam khiến Tôn Thất Thuyết phải đích thân chạy sang Tàu, nhân danh một phụ chính đại thần để xin giúp đỡ.
Những biến chuyển không đồng bộ, tin tức không cập nhật như việc vua Hàm Nghi đã bị bắt từ cuối năm 1888 và tờ chiếu Cần Vương tung ra cũng vào khoảng này khiến cho người sau cảm thấy hoang mang khi nhận định về giả thật của văn kiện, đồng thời kết án Tôn Thất Thuyết đã bỏ chạy để mưu cầu sinh lộ cho riêng mình.
Sau khi vua Hàm Nghi xuất bôn, người Pháp nhanh chóng đưa lên một ông vua mới, dễ điều khiển hơn và bộ máy hành chánh Nam triều vẫn vận hành như một phó sản để hoạt động trên toàn cõi Việt Nam. Về phần nhà Thanh, sau một số đụng độ ở Bắc Kỳ và vùng biên giới Quảng Tây, họ mau chóng nhận ra rằng nếu đàm phán với người Pháp sẽ dễ dàng có thêm một số quyền lợi hơn là tiếp tục đi theo đường lối bí mật liên kết với Việt Nam để chống Pháp cuối đời Tự Đức. Nhà Thanh nay nhắc đến người đứng đầu triều đình Huế cũng gọi là Việt vương (chỉ vua Đồng Khánh), còn một Nguyễn Phúc Minh (Hàm Nghi) thì trước nay họ chưa công nhận và cũng không có lý do gì để công nhận. Đối với nhóm cần vương thì việc ủng hộ của dân chúng cũng chỉ danh nhiều thực ít còn guồng máy quan lại nay ngả sang tân vương, tuy chỉ là một ông vua không có thực quyền nhưng ít ra cũng ban phát cho họ được một số bổng lộc.
Giữa Pháp và Trung Hoa nay không còn đối đầu mà là tương nhượng, bận rộn với công tác thi hành các giao ước của hiệp ước Thiên Tân (1885) trong đó hai khoản quan trọng nhất là khám định biên giới và thiết lập các cửa thông thương giữa Bắc Kỳ với Quảng Tây, Vân Nam. Thế nhưng vì thiếu thông tin hay vì chủ quan vẫn tin vào lòng tốt của thiên triều, nhóm Tôn Thất Thuyết đánh liều vượt biên toan làm việc “Thân Bao Tư khóc trước sân vua Tần” xin đem viện quân về phục quốc. Chúng ta lại thấy hình ảnh của nhóm Lê Quýnh ngày nào cũng đã từng có tâm tư như thế.
Sau mấy năm bôn ba ở Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông không có được những kết quả cụ thể, nhóm Tôn Thất Thuyết đi thêm một nước liều mới là cầu viện người Đức nhưng cũng không đi đến đâu. Thấy việc dung túng cho nhóm nhà Nguyễn hoạt động có thể đưa tới những bất lợi ngoại giao nên Trương Chi Động đưa những người chạy sang Tàu an tháp tại một vùng hẻo lánh, với số lương đủ sống qua ngày.
Ngoại sử kể rằng, Tôn Thất Thuyết nay đã hoá điên, chiều chiều ra bờ sông chém vào những tảng đá nên người Tàu gọi ông là “trảm thạch công”. Khi ông qua đời, có người điếu một câu đối:
Thù nhung bất cộng đái thiên, vạn cổ phương danh lưu Tượng Quận
Hộ giá biệt tầm tĩnh địa, thiên niên tàn cốt táng Long Châu[19]
Thù giặc không đội trời chung, vạn cổ danh thơm còn nơi Tượng Quận
Phò vua riêng tìm đất lặng, nghìn năm xương tàn gửi đất Long Châu
Câu trên có vẻ như khen sự quyết tâm chống Pháp của Tôn Thất Thuyết nhưng câu dưới ra chiều dè bỉu khi nói ông “biệt tầm tĩnh địa”, bỏ vua mà đi lo riêng cho mình. Xét về thời thế lúc đó, những người chạy sang Trung Hoa nay là những người tù giam lỏng nên có muốn cũng đành chịu chứ cũng không làm được gì hơn.
Với những chi tiết mới, có lẽ khi chạy được sang Trung Hoa và biết tin vua Hàm Nghi bị bắt, nhóm Tôn Thất Thuyết vẫn tung ra một tờ chiếu hoả mù nhằm vận động nhân lực, tài lực trong nước. Sau đó khi việc cầu viện nhà Thanh không thành công, nhóm Tôn Thất Thuyết xoay qua vận động với nước Đức (mà họ nghĩ rằng có thể dùng để làm lực lượng tranh giành với nước Pháp rồi sau đó tuỳ cơ ứng biến) nhưng nước Đức cũng phủi tay và triều đình nhà Nguyễn lưu vong nay không còn một đường nào khác ngoài việc nương thân ở Trung Hoa cho đến cuối đời.
NIÊN BIỂU
| Ngày | Thanh | Nguyễn | Sự việc |
| 23-Năm-Ất Dậu (5-7-1885) | Quang Tự 11 | Hàm Nghi 1 | Thất thủ kinh thành Huế, triều đình chạy ra Quảng Trị |
| 6-Tám-Ất Dậu (14-9-1885) | Quang Tự 11 | Hàm Nghi 2 Đồng Khánh 1 | Vua Đồng Khánh lên ngôi |
| 25-Chín-Mậu Tí (29-10-1888) | Quang Tự 14 | Hàm Nghi 4 Đồng Khánh 4 | Vua Hàm Nghi bị Pháp bắt ở Hà Tĩnh |
| 6-Sáu-Kỷ Sửu (3-7-1889) | Quang Tự 15 | Hàm Nghi 5 Thành Thái 1 | Ban bố chiếu thư (Hàm Nghi) |
| 8-Một (11) Kỷ Sửu (30-11-1889) | Quang Tự 15 | Thành Thái 1 | Tờ trình của Trương Chi Động an tháp nhóm Nguyễn Phúc Thuyết |
| 9-Ba-Canh Dần (27-4-1890) | Quang Tự 16 | Thành Thái 2 | Thư của Nguyễn Phúc Thuyết gửi lãnh sự Đức |
| 19-Ba-Canh Dần (7-5-1890) | Quang Tự 16 | Thành Thái 2 | Lãnh sự Đức trả lời không có thẩm quyền |
Nguyễn Duy Chính
10-2022
BẢN DỊCH CHIẾU CẦN VƯƠNG
Nguyên văn
皇猷大誥南忠官員黎庶週知。
咸宜伍年陸月初陸日。
這大誥密詔嚴正協勦宣誥。
朕
纉承大統,紹述鴻基。國運屯蒙,其賊子鯨。
吞勢甚漸。不可偷安。
玆焉密召諸臣。
入機密院。歃血誥誓。
期先攻破金城,次則長驅嘉定。不意文詳懷二,而甘露駕遷於此。
君臣再相告誓,以圖恢復,計决他邦遊援。
朕
奚惜微驅,故不避山海之勞。冐死親臨大德國求援。
事蒙伊國准允逕囘廣東。接見官員,會賚辨白。
朕心倍慰,蒙恩仍命。嚴正協勦,奉旨密告。
凡在耳目,共悉見聞,則水土之同仇。
不共戴天,方議賢人,君子閔辰志氣。
朕
今滅號假虞。
計定清夷早,憑于外國。苐聚得多人,無財何養。
朕獨憂之。知南忠臣。
庶義宜出貲助國。將名数列于金籍。
他日功成,照数倍還。而償金封户,不吝原恩勉哉。
將士體此朕心。
欽哉。
Bản dịch
Đại cáo về kế sách cho quan viên, dân chúng trung thành với nước Nam được biết
Hàm Nghi thứ 5, ngày mồng 6 tháng Sáu
Đại cáo bí mật tuyên chiếu đồng lòng nghiêm chỉnh tiễu giặc
Trẫm
Kế thừa dòng chính, tiếp nối nghiệp lớn, Gặp lúc vận nước truân chuyên.
Giặc mạnh dần dần thôn tính, Không thể ngồi yên.
Đành ban mật chiếu, Cho gọi các bầy tôi vào Cơ Mật Viện.
Cắt máu ăn thề
Trước tấn công vào kinh thành, Sau đó chạy về Gia Định.
Ngờ đâu
Văn Tường [Nguyễn] hai lòng, Cam Lộ đưa vào nơi ấy.
Vua tôi nay lại thề nguyền, Nhất quyết lo toan khôi phục.
Định kế sang nước khác xin giúp đỡ.
Trẫm không tiếc thân cỏn con, Chẳng ngại gian lao trèo non vượt biển.
Liều chết đích thân sang Đại Đức quốc cầu viện
May được nước kia bằng lòng, Chấp thuận cho về Quảng Đông.
Tiếp kiến quan viên, cùng nhau bàn bạc.
Trẫm trong lòng an ủi, Được lệnh nghiêm chỉnh cùng đánh giặc.
Nên nhận chỉ hãy bí mật cáo tri
Phàm những ai tai mắt có lòng hiểu biết, Ắt đất nước cùng một mối thù.
Không đội trời chung
Các hiền nhân quân tử có chí khí thương xót,
Trẫm nay kêu gọi giúp đỡ để thanh trừ di tặc, Quét sạch chúng ra khỏi nước.
[Thế nhưng] cần phải đông người, Không tiền tài lấy gì nuôi dưỡng.
Trẫm lấy làm lo
Nếu như bầy tôi trung nghĩa nước Nam, Ứng nghĩa đứng ra trợ giúp.
Để tên tuổi trong sổ vàng, Ngày sau công thành, sẽ chiếu theo sổ mà bồi hoàn lại.
Trả vàng, phong tước, Không quên ơn cũ.
Hãy gắng lên các tướng sĩ, Lòng trẫm như thế.
Khâm tai.
PHỤ LỤC II
MỘT VĂN BẢN MỚI
Tháng 10-2022, nhờ duyên tri ngộ chúng tôi nhận được bản sao của lá thư Tôn Thất Thuyết gửi toà lãnh sự Đức (có lẽ ở Quảng Châu) xin viện binh và lá thư người Đức từ khước (tài liệu văn khố tại Đức). Xin sao và dịch để bổ sung.
照錄越南輔政親臣阮福說來函。
大德國領事卜大人兄臺下敬啟者。
今接賤玠(价)胡曰琼音叙。昨幸遇李台引就貴臺恭謁。畧以下國急難事情呈訴。承貴臺垂情告語。弟輩欣感曷勝。且下國年來為法殘虐。下國君臣百姓多方攻拒而勢力不足。
去年弟武諸員赴粵請援不得。圖向貴臺陳訴。求達大國邀恩。而伴引無人。又恐洩露聲息不便。今藉李台得達貴臺誠覺大幸。謹委隨僚魏克喬賚書赴候代祈大兄軫及下國孤危據情電奏大國大皇帝施恩救援。
下國幸復千秋感戴。唯命是從。國中利路願賠需費皆為大國之外府也。大兄斡旋功德山嶽不磨矣。惠風為好。順祝嘉禧。
光緒十六年歲次庚寅三月初九日。
越南輔政親臣阮福說頓首。
附錄本領事署覆圅。
越南輔政親臣阮公閣下敬覆者。
頃由貴僚魏少宰克喬遞到惠書謹聆壹。是奈此種事體照敝國定章敝領事官毫能為管理有負盛意。抱歉良深。特肅布復。順頌政祉。
名正具。三月十九日。

Dịch nghĩa
Chiếu lục công hàm của phụ chính thân thần Việt Nam là Nguyễn Phúc Thuyết gửi cho lãnh sự Đại Đức quốc.
Kính gửi Đại Đức quốc lãnh sự Bốc đại huynh đài hạ
Nay tôi nhận được tin từ tiện giới (người dưới quyền) là Hồ Viết Quỳnh báo cáo rằng hôm trước đã may mắn được Lý đài (đây có lẽ là Lý Bỉnh Hành, tuần phủ Vân Nam) đưa đến cung yết quí ngài để trình tố sơ qua về cái nạn cấp bách của hạ quốc, mong được quí đài vì tình mà ngó xuống. Bọn đệ thật cảm kích vui mừng khôn xiết.
Hạ quốc những năm qua bị người Pháp tàn ngược nên vua tôi cùng trăm họ trong nước tìm đủ cách chống giữ nhưng thế lực không đủ. Năm ngoái đệ đã đưa các viên chức sang đất Việt [Quảng Tây] xin giúp đỡ nhưng không được, mưu toan đến trình bày với quí đài để đề đạt cầu xin đại quốc gia ân, nhưng không có ai đưa dẫn, lại sợ tiết lộ tin tức không hay, nay nhờ có Lý đài nên được đạt lên thực là đại hạnh.
Nay kính cẩn giao cho tuỳ liêu là Nguỵ Khắc Kiều mang thư đến để thay mặt trình đại huynh xin đem tình hình đơn độc nguy ngập của hạ quốc đánh điện tâu lên đại hoàng đế để đại quốc thi ân cứu viện thì hạ quốc sẽ muôn đời cảm kích đội ơn, bảo sao theo vậy. Bao nhiêu lợi ích trong nước nguyện sẽ trả làm nhu phí, tất cả xem như kho ở bên ngoài của quí quốc còn công đức lo liệu của đại huynh thì như núi chẳng mòn vậy.
Gió lành thổi đến xin chúc yên vui.
Quang Tự 16, năm Canh Dần, ngày mồng 9 tháng Ba (27-4-1890)
Việt Nam phụ chính thân thần Nguyễn Phúc Thuyết rập đầu.
(Con dấu Võ Hiển Điện đại học sĩ)
Phụ lục công hàm trả lời của toà lãnh sự
Kính trả lời thư của phụ chính thân thần Việt Nam Nguyễn công
Chúng tôi vừa được quí liêu là thiếu tể Nguỵ Khắc Kiều đưa lên một phong thư của ngài. Về việc này theo thể chế đã định của tệ quốc thì toà lãnh sự hoàn toàn không có thẩm quyền giải quyết nên đành phụ thịnh ý. Thành thật xin lỗi và đặc biệt trả lời.
Xin kính chào.
(tên đầy đủ). Ngày 19 tháng Ba (7-5-1890)
[1] Theo nguồn tin cá nhân, tờ chiếu này lọt vào tay một người Việt Nam trong kỳ bán đấu giá này.
[2] Đại Nam Thực Lục, tập 9, bản dịch Viện Sử Học (Hà Nội: Giáo Dục, 2007) tr. 97-98
[3] Vua Minh Mạng cũng theo phương thức của nhà Thanh nên đặt ra đế hệ, phiên hệ cho các dòng con của mình. Những người được lên ngôi vua sẽ chiếu kim sách mà đặt tên khi đăng quang. Hai mươi chữ vàng là Triền (Thiệu Trị), Thì (Tự Đức), Thăng (Hiệp Hoà), Hạo (Kiến Phúc), Minh (Hàm Nghi), Biện (Đồng Khánh), Chiêu (Thành Thái), Hoảng (Duy Tân), Tuần (Khải Định), Điển (Bảo Đại), Trí, Tuyên, Giản, Huyên, Liên, Chất, Tích, Yến, Hi, Duyên. Ưng Trình, Việt Nam Ngoại Giao Sử (Văn Đàn, 1970), chú thích 2, tr. 44-45.
[4] Amandine Dabat, Hàm Nghi, Empereur en exil, artiste à Alger (Paris: Sorbonne Université Presses, 2019) tr. 37-39. Cố Nhi Tân trong Tôn Thất Thuyết (1943) [bản in lại 2015] thì ghi là 26-Sáu, Mậu Tí (3-8-1888) (tr. 23)
[5] B. Bourotte, in trong “Những người bạn của cố đô Huế” số 29 (năm 1929). Tờ này vẽ theo lời kể của Cao Lương, người làng Quy Đạt, được dịch tiếng Pháp bởi Trần Kinh – hiệu trưởng trường tỉnh (Ecoles) Quảng Bình. Tác giả B. Bourotte cũng là thanh tra Giáo dục. Bài viết nhắc đến 2 hồi ký của các sĩ quan Pháp, trong đó có “L’Annam du 5 juillet 1885 au 4 avril 1886” của tướng X (Prud’homme) và “L’Empire d’Annam” của đại úy Gosselin….
[6] Amandine Dabat, sđd. tr. 39.
[7] Trương Văn Tương công toàn tập (張文襄公全集), tập 4/6, (Đài Bắc: Văn Hải: 1963) tr. 2327-2328
[8] Điện ngày mồng 3 tháng Một, Quang Tự 11 (1885). Thanh quí ngoại giao sử liệu, q. 62, tr. 16 (bản in Trường Sa: Hồ Nam sư phạm đại học, 2015) Vương Ngạn Uy, Vương Lượng biên tập, tập III, q. 62, tr. 1269.
[9] Bản tâu của Sầm Dục Anh, Chu Đức Nhuận (Quang Tự 12, 1886). Thanh quí ngoại giao sử liệu, q. 64, tr. 4 (2015, 1324)
[10] Long Chương, Việt Nam dữ Trung Pháp chiến tranh (Đài Loan thương vụ ấn thư quán, 1993). Chương 13, chú thích 52, tr. 384, trích theo A. Thomazi, La conquête de l’Indochine (Paris, 1934) tr. 273-276. [bản dịch Nguyễn Duy Chính]
[11] Quách Đình Dĩ, Vương Duật Quân (chủ biên). Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Đáng (tập VI) Đài Bắc: Trung Ương Nghiên Cứu Viện Cận Đại Sử Nghiên Cứu Sở, 1983, tr. 3594-3597.
[12] Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Đáng (tập VI) văn kiện 2063 (Quang Tự 12, 1886) tr. 3595-3597.
[13] Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Đáng (tập VI) văn kiện 2063 (Quang Tự 12, 1886) tr. 3594-3595.
[14] Xem Quốc Ấn, từ An Nam quốc vương đến Việt Nam quốc vương, biên khảo của NDC.
[15] Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Đáng (tập VI) văn kiện 2063 (Quang Tự 12, 1886) tr. 3594-3595.
[16] Trung Pháp Việt Nam Giao Thiệp Đáng (tập VI) văn kiện 2206 (Quang Tự 15, 1989) trang 3808-3810. Tờ trình này cũng còn thấy trong Trương Văn Tương công toàn tập (張文襄公全集) quyển số 3 là tập hợp các điện văn của Trương Chi Động gửi lên Bắc Kinh, tr. 1736-1737. Tuy nhiên, trình thư lại đề tháng Mười, Quang Tự 15 nên chúng ta biết rằng ngoài điện văn, họ Trương cũng gửi một văn bản chính thức ít ngày sau đó để xác định công việc an tháp này.
[17] Chỗ này có lẽ huyện chí Trung Quốc chép nhầm (chú 11 của Cao Việt Anh tr. 50)
[18] Cao Việt Anh, “Châu bản …”, Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, 9-2018, tr. 48
[19] Cố Nhi Tân, Tiểu Truyện Danh Nhân: Tôn Thất Thuyết và những văn thân trong phong trào Cần Vương. Hồng Đức, 2015 tr. 25-6. (Cố Nhi Tân là một bút danh khác của Phùng Tất Đắc, 1907-2008 thường được biết dưới tên Lãng Nhân). Không biết ông chôn ở đâu nhưng tên cũ của La Định là Lang Châu (瀧州). Chữ Lang là chữ Long có bộ Thuỷ nên nếu ông an táng tại La Định thì cũng là một cách chơi chữ vì không lẽ lại đưa về chôn ở Long Châu cách rất xa.









