TQLC Phúc Yên Nguyễn Xuân Phúc
Tô Văn Cấp
(Trích: Huynh Đệ Chi Binh Thủy Quân Lục Chiến)
Khoá 16 Võ Bị Ở Binh Chủng TQLC
Tháng 12/62, có 10 Thiếu Uý Khóa 16 Võ Bị tình nguyện về TQLC
TĐ1: Trịnh An Thạch1, Trần Văn Hiển.
TĐ2: Nguyễn Xuân Phúc1, Nguyễn Văn Kim1.
TĐ3: Phạm Văn Sắt, Nguyễn Đình Thuỷ1.
TĐ4: Trần Ngọc Toàn, Nguyễn Đằng Tống1, Đỗ Hữu Tùng1.
Và một ông thuộc dòng họ “Tôn Thất”.
Sau đó có thêm 2 anh nữa đó là:
Anh Nguyễn Kim Đễ từ SĐ.7BB chuyển về.
Anh Nguyễn Văn Cảnh gốc K16 học Khoá 2 Nha Trang.
Tổng cộng là 12 anh K16 Võ Bị phục vụ trong Binh Chủng TQLC.
Có 11 anh đều là Tiểu Đoàn Trưởng, Lữ Doàn Trưởng, Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn. Các anh đã chiến đấu tới giờ phút cuối cũng trong quân phục TQLC. Có những anh đã hy sinh (*) lưu danh sử sách.
Duy có anh “tổn thất” chưa kịp mặc quân phục rằn ri, chưa được làm trung đội trưởng thì đã cao bay xa chạy về chốn bình yên, vì đời binh nghiệp của anh chưa bao giờ được nghe tiếng đạn AK, nay 2023 thì anh đang lăng quăng cùng đồng khoá, một huấn luyện viên súng cối, cả đời binh nghiệp chưa được nghe tiếng cối địch nhưng là chủ tịch đảng kíu nước! Cả hai đang cố tìm một chút danh gì đó để lưu xú muôn đời.
Trong 11 anh Khoá 16 trên đây, tôi có hân hạnh được phục vụ dưới quyền 5 anh: Xuân Phúc, Kim Đễ, Ngọc Toàn, Văn Sắt, Văn Hiển. Các anh đều là tiểu đoàn trưởng, mỗi anh có tài chỉ huy và lãnh đạo riêng khiến cấp trên nể, thuộc cấp phục. Tôi xin giới thiệu đến quý đồng môn, đồng khoá, đồng đội 1 trong 5 anh ấy, đó là:
TQLC PHÚC YÊN NGUYỄN XUÂN PHÚC
Trung Tá Lữ Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc và phóng viên chiến trường Đặng Văn Phước của AP)
TQLC Phúc Yên Nguyễn Xuân Phúc tốt nghiệp Khóa 16 Trường Võ Bị, đời binh nghiệp của Anh đã được đồng đội và thân hữu mến phục qua các bài viết, tôi xin trích đoạn một số trong các bài viết các cấp đồng đội TQLC.
***
Tiểu Cần Nguyễn Thế Thụy – Thượng Sĩ am thoại viên BCH/LĐ147/TQLC.
Hạ Lào 719….
Cứ thế, ngày này sang ngày khác, chúng tôi nằm bó gối trong những căn hầm tránh pháo! Sang tuần thứ ba, sau nhiều lần VC vừa pháo kích vừa tấn công bằng bộ binh liên tục, ban ngày pháo kích, ban đêm tấn công, nhưng thảy đều bị TĐ2/TQLC bảo vệ BCH/LĐ147 đẩy lui. Tôi nhớ lúc đó tuyến ĐĐ5/TĐ2 của Tiền Giang Phạm Văn Tiền chịu nặng nhất. Sáng sớm ngày 22/3/1971 VC bắt đầu tấn công có cả xe tăng T54 đi đầu, nhưng chúng cũng bị các anh Trâu Điên chặn đứng, tuyến vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ có vài thằng đặc công VC lọt vào sau tuyến và đang bị Trâu Điên truy lùng tiêu diệt.
Tôi từ hầm của ban hiệu thính viên chạy sang hầm T.O.C. trình công điện khẩn vừa nhận được từ BTL/SĐ/ HQ gửi lên Lữ Đoàn Trưởng là ĐB Thăng Long Trung Tá Hoàng Tích Thông. Trong T.O.C. lúc bấy giờ chật kín người, hệ thống truyền tin tiếng gọi phát ra từ bảy chiếc PRC25, tiếng trả lời vang dội. Tôi trình công điện cho ĐB Thăng Long xong vừa mới quay lưng đi thì một anh âm thoại viên kéo tôi lại nhờ điều chỉnh hệ thống truyền tin bị trở ngại. Đang điều chỉnh chiếc máy thì ĐB Nguyễn Xuân Phúc TĐT/TĐ2 vỗ vai tôi nói:
-Cho anh nói chuyện với Kình Ngư (TĐ4/TQLC).
Đây là lần đầu tiên tôi có duyên mặt tận mặt với một cấp chỉ huy có rất nhiều huyền thoại, không như những lần trước xa xa đứng nhìn. Chứng kiến khi ông làm việc, Hạ Sĩ Quan như tôi cũng có đủ kiến thức về bản đồ để theo dõi ngòi bút mỡ ông chấm, gạch, điều động máy bay đánh bom mới thấy rõ cái tài của ông.
Vâng, chính tôi và rất nhiều người trong TOC lúc đó chứng kiến sự kiện một TĐT/TĐ2 Trâu Điên tự nhiên trở thành một Lữ Đoàn Trưởng điều động từ trái sang phải, từ nội bộ Lữ Đoàn đến đơn vị bạn. Thật tuyệt vời, quá tuyệt vời hình ảnh người chỉ huy với đôi mắt mệt mỏi sau hơn 2 tuần chiến trận với quân thù, ông ngồi hẳn lên mặt bàn đóng bằng thùng gỗ đạn pháo binh đặt giàn máy PRC25, ông thao thao bất tuyệt, điện đàm với Hùm Xám (Tiểu Đoàn 7) xong, bỏ ống liên hợp xuống, bốc vội cái khác điều động Pháo Binh, rồi lại với BTL/SĐ/HQ v.v.. cứ thế tiếp tục ông làm việc không ngưng nghỉ. Chắc chắn là tôi không thể nào quên được những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến. Tôi đứng bên ông để trao vội ống liên hợp khi ông cần.
Đại Bàng Phúc Yên ơi! Tất cả những hình ảnh, giọng nói, dáng dấp, và nhứt là tài điều binh, chỉ huy xuất thần của Anh sẽ mãi mãi trong trí nhớ của tôi đến cuối cuộc đời. Xin nghiêm chào vĩnh biệt Anh! (Hết trích).
***
TQLC Tr/Tá Nguyễn Văn Phán:
“Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc, niềm hãnh diện của Thủy Quân Lục Chiến”
“Robert Lửa”, do anh em trong đơn vị đặt, vì đối đầu với trận mạc, ông ta là lửa để đốt cháy địch và ông ta là một sức nóng để sưởi ấm cho đồng đội.
Phúc trình diện Tiểu Đoàn 2/TQLC tại Cà Mau, làm ĐĐP/ĐĐ.3 cho Trung Úy Nguyễn Năng Bảo (sau là Ðại Tá Bảo). Với óc thông minh và một khả năng thiên phú, Phúc đã lấy được cảm tình và sự kính nể của tất cả bạn bè, đồng đội và cả cấp chỉ huy.
Tiểu Đoàn 2 nghỉ dưỡng quân cạnh nhà máy gạo trên đường dẫn về Năm Căn đã bị bỏ hoang nhiều năm. Ðêm đó trời Cà Mau không lạnh nhưng có cái buồn của buổi chiều hôm, Phúc và tôi lang thang ra phố uống rượu. Hai giờ khuya tối mịt mùng, trở về đại đội qua cây cầu sắt khá cao có toán Ðịa Phương Quân đang gác cầu và nghe văng vẳng giọng hát một ca sĩ nào đó trong bản “Trăng Rụng Xuống Cầu”. Hai thằng tôi say ngất ngưỡng bèn cầm tay nhau làm… trăng rụng xuống cầu!
Cả toán Ðịa Phương Quân nhốn nháo la to: “Có người tự tử…” rồi nổ súng lia chia. Tôi và Phúc lội vào bờ ngửa mặt lên trời cười lớn. Sau cùng mấy ông Ðịa Phương Quân mới biết đó là 2 ông thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đóng ở bên kia cầu.
Quận Ðầm Dơi mất trong đêm hôm sau, Tiểu Đoàn 2 nhảy tiếp viện. Tất cả 4 đại đội xuống đều bị cầm chân nằm chịu chết tại chỗ. Hỏa lực địch quá mạnh, hai tiểu đoàn VC là U Minh và Cửu Long phục kích và chận đường tiếp viện.
Tại sân bay Cà Mau, Phúc và tôi được lệnh nhảy đợt chót, chúng tôi là thành phần sau cùng. Trước khi vào mục tiêu, trên trực thăng tôi nhìn xuống thấy một chiếc B-57 bị bắn rớt nằm xoải cánh, khói mịt mù trong quận.
Tôi và Phúc được thả xuống khoảng 4 giờ chiều. Ðịa thế trống trải, ruộng nước sâu cỡ đầu gối, không tìm được chỗ che thân, các đường mương không đủ che lằn đạn địch đang nổ xối xả vào cánh quân của tôi và Phúc.
Hai thằng gom con cái lại thành một hàng ngang giữa ruộng trống đầy nước. Phúc bò sát tôi và nói:
-Ê Phán! Ðíu có đại đội nào vào chiếm bìa làng được, nằm yên tại chỗ chỉ chờ chết thôi. Tối đến mà tụi vẹm ủi ra là đi đoong”.
Tôi nói với Phúc:
– Vậy bây giờ tính sao? Hay xung phong bừa đi, mình tìm một con đường sống trong con đường chết.
Phúc nói rất bình tĩnh và chậm rãi lúc hai thằng ngâm mình dưới nước:
-Tao gom lính chiếm đám dừa bên tay mặt, xong yểm trợ cho mầy dzọt vào. Mầy chiếm được bìa làng thì tao chuyển xạ. Như vậy mới cứu được tiểu đoàn, nếu không cứ nằm tại đây thì chết hết.
Phúc thật nhạy và sắc bén, hai thằng đồng ý và làm liền.
Nhìn Phúc điều động quân mà tội nghiệp và thương xót cho một thằng thiếu úy đại đội phó, người đã làm nghiêng hẳn cả một mặt trận lớn nhất từ xưa đến giờ. Phúc đã rơi rụng thật nhiều con cái. Nhưng Phúc đã hiên ngang, hùng dũng dẫn đầu, xung phong chiếm được hàng dừa và mở hỏa lực ào ạt vào bìa làng ngay. Không cần nói chuyện trong máy, Phúc ra dấu cho tôi dzọt vào thật nhanh. Hình ảnh của Phúc quá tuyệt vời và anh em của tôi vừa bắn vừa chạy dưới nước vừa la xung phong, đứa nào rớt mặc kệ. Thượng Sĩ Hò bị thương kêu lên quằn quại cũng mặc kệ. Khí xung thiên đã bốc ngập đầu, căm hờn đã nổi dậy. Tôi chụp cây trung liên BAR của một người lính bên cạnh nhả đạn, vừa chạy vừa la lớn, hết băng nầy đến băng kia. Bắn không cần trúng, chỉ cần tiếng nổ để áp đảo tinh thần địch.
Bảy thầy trò lên sớm nhất đã bám được bìa làng. Sau đó tôi thấy tất cả Tiểu Đoàn đều xung phong như vũ bão. Việt Cộng không ngờ chúng tôi lại mau chóng và tấn công thần tốc như thế, chúng chém vè không kịp bị sông Ðầm Dơi ngăn cản, chúng nó toán thì dùng ghe, toán thì lội bằng tay cố gắng băng qua sông thật nhanh, thoát được toán nào thì thoát. Những cây bia thịt rụng dần xuống dòng sông. Hai tiểu đoàn khét tiếng của Việt Cộng ở Vùng IV đã bị Tiểu Đoàn 2/TQLC xóa tên.
Phúc và tôi nhận vị trí phòng thủ qua đêm, kiểm điểm tại chiến trường thu rất nhiều vũ khí, đặc biệt có 2 khẩu 75 ly không giật. Ðây là vũ khí lớn nhất mà lần đầu tiên Việt Cộng sử dụng tại chiến trường miền Nam. Và đây cũng là trận chiến lớn nhất và là chiến thắng vĩ đại nhất của QLVNCH cho đến cuối 1963. Cả nước đều nghe thấy, cả Vùng IV và Sài Gòn đều rúng động. Ngày hôm sau tiểu đoàn tái chiếm quận, nhìn chợ Ðầm Dơi tan nát, tất cả phải xây dựng từ đầu. Dân chúng ngơ ngác trở về, héo hắt nhìn nơi làm ăn nuôi sống của mình giờ đây phải làm lại tất cả…
Bốn ngày sau xác Việt Cộng sình thúi nổi đầy trên dòng sông, mùi hôi nồng nặc không đóng quân được phải đổi vị trí. Tiếp theo đó ngày nào phi cơ cũng thả báo chí tường thuật về trận đánh Ðầm Dơi cho cả Tiểu Đoàn 2 xem.
Tất cả quân dân thành phố Cà Mau đã hân hoan đón chào Tiểu Đoàn 2/TQLC tại vận động trường. Tôi và Phúc cũng có mặt trong hàng quân đó. Ðêm đó hai thằng lại ra phố và say bất kể trời đất.
Một cuộc đón rước thật rầm rộ từ Cà Mau đến Sài Gòn. Dân chúng cả vùng Thị Nghè đổ xô ra đường để chào mừng và đón tiếp, tiếng kêu la vang động cả vùng, tiếng kêu tên ơi ới vì biết chắc rằng những người thân yêu của họ còn sống trong đoàn quân chiến thắng trở về.
Thị Nghè là nơi đồn trú của Thủy Quân Lục Chiến. Buổi lễ trình diện Tiểu Đoàn 2 lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Chính Phủ tại bến Bạch Ðằng, huy chương được trao tặng từng người cũng như cho đơn vị và Binh Chủng TQLC.
Trước một chiến thắng như vậy, ngoài vị tiểu đoàn trưởng tài ba, ngoài các đại đội trưởng can đảm và kinh nghiệm cộng với truyền thống Binh Chủng mà tất cả các cấp trong Tiểu Đoàn đã tạo được chiến thắng vẻ vang đó, còn có sự bén nhạy, thông minh gan dạ và thật quả cảm của Nguyễn Xuân Phúc.
Thật vậy, nếu Phúc không quyết định sớm thì giờ đây trên mảnh đất lạc loài nầy tôi chưa chắc đã còn được ngồi đây để viết lên mấy dòng thật khiêm nhường cho Phúc. Cho tôi xin một đóa hoa hồng riêng gởi cho Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc.
Những tháng năm gian nan, hiểm nguy, cuộc đời chỉ có sông nước và mây trời, cuộc chiến càng ngày càng mãnh liệt. Phúc thật sự đã trưởng thành trong khói lửa, đã thật sự già dặn với kinh nghiệm của chiến trường. Ðiều nầy Phúc đã minh xác thật rõ ràng trong trận Mậu Thân 1968 đợt 2 với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6/TQLC.
Sau khi Việt Cộng đã làm chủ toàn vùng Gia Ðịnh, đặc biệt Việt Cộng đã chận đứng và làm chủ cầu Bình Lợi. Một lần nữa Phúc đã thật sự làm rạng danh cho Thủy Quân Lục Chiến với sự thông minh, mưu lược và số kinh nghiệm sẵn có đã chiếm lại cầu Bình Lợi, kiểm soát toàn vùng và chận tất cả các đường rút lui của Việt Cộng. Nhờ sự nhanh nhẹn đó của Phúc mà Tiểu Đoàn 1/TQLC đã thanh toán các đơn vị Việt Cộng tại Ngã Ba Cây Thị và Ngã Năm Bình Hòa thật mau chóng, và điều đáng kể là Việt Cộng bị bí lối nên đã ra đầu hàng hằng trăm tên với Tiểu Đoàn 1/TQLC.
Kết quả của trận chiến, Phúc nhận 2 viên đạn, một viên xuyên ngực, một viên xuyên cổ và một mảnh pháo làm rách mặt. Robert Lửa phải rời khỏi chiến trường gần 6 tháng. Công của ai? Danh vọng của ai? Phúc vẫn là Phúc, vẫn hào khí ngất trời. Ðối với Phúc điều đó không cần thiết, đó chỉ là hư danh vụn vặt. Và Phúc vẫn ngày trời tháng phật, vẫn lang bạt mây trời…
Ở nhà thương ra Nguyễn Xuân Phúc được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ, dù không thích hợp, nhưng Phúc vẫn làm tròn bổn phận, và Phúc đã chứng tỏ thật xuất sắc khả năng của mình ở mọi môi trường, kể cả môi trường không thích hợp. Ở điểm nầy không ai thấy được, cho tôi thay mặt Phúc để minh xác: Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ toàn là những “cán bộ” …(?) thành ra rất khó khăn cho đơn vị trưởng. Nhưng Phúc đã tuyệt vời tái tổ chức đơn vị đúng với ý Phúc, và với một lý tưởng sáng ngời, với bộ óc tổ chức đầy kỷ cương, Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ đã vào khuôn phép, xây dựng đúng nghĩa một đơn vị yểm trợ.
Vì ông quá trong sạch, vì ông ta quá sáng, tất cả các “cán bộ” phải kính nể là điều hẳn nhiên. Tôi nghĩ làm được chuyện nầy chỉ có Phúc, vì nó còn khó hơn một trận đánh quyết định. Phúc đã thành công thật xứng đáng, tôi xin được vinh danh cho Robert Lửa.
Nhưng Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ đâu phải là nơi dừng chân thích hợp với mẫu người của Phúc, vì Phúc có lần nói với tôi ở hồ tắm Ngọc Thủy, Thủ Ðức: “Moa không thể nằm ở đây, moa phải xin ra tác chiến”.
Sau lần tâm sự nầy, Phúc đã đạt được nguyện vọng. Tiểu Đoàn 2/TQLC hỗn danh Trâu Ðiên, tiểu đoàn đầu đời của Phúc, tiểu đoàn đã vang danh từ Nam ra Bắc. Thật sự các đơn vị VC đã run sợ khi đụng với Trâu Ðiên. Bằng chứng là khi bắt được tù binh họ đều hỏi: “Các anh có phải là Trâu Ðiên không?” – Trâu Ðiên thật sự là do VC đặt sau một trận đánh ở Tam Quan, Bồng Sơn. Và tất cả các đơn vị bạn của QLVNCH đều hãnh diện với Tiểu Đoàn nầy. Phúc đã nghiễm nhiên trở thành con chim đầu đàn của Trâu Ðiên.
Những chiến thắng của Trâu Ðiên do Robert Lửa chỉ huy đã sơn thêm thật sáng, thật chói cho quân sử của đại đơn vị Thủy Quân Lục Chiến và thêm một lần nữa, tôi xin ghi ra đây để trải lòng với bạn hữu mà tôi rất kính phục: Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc.
Chiến trường Hạ Lào đã diễn ra thật qui mô, chiến trường thử lửa một mất một còn với Hà Nội. Trâu Ðiên của Phúc đã nhập trận cùng với Tiểu Đoàn 7 của Thiếu Tá Phạm Nhã, Tiểu Đoàn 4 của Thiếu Tá Kỉnh, Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh của Thiếu Tá Ðạt, đặt dưới quyền chỉ huy của Lữ Đoàn A do Ðại Tá Hoàng Tích Thông chỉ huy và Trung Tá Phan Văn Thắng làm tham mưu trưởng.
Lữ Đoàn A thiết lập căn cứ hỏa lực nằm phía Nam của quốc lộ 9 và Tchépone. Trâu Ðiên bảo vệ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và pháo binh. Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4 mở các cuộc hành quân nới rộng vị trí Lữ Đoàn, chuẩn bị cho mục tiêu Tchépone.
Áp lực địch mỗi ngày mỗi nặng, một vài đơn vị bộ binh, thiết giáp đã tan hàng. Lữ Đoàn 3 Dù của Ðại Tá Thọ ở phía Bắc quốc lộ 9 đã anh dũng và hiên ngang giữ vị trí cho đến cùng, không lùi bước, không bỏ vị trí, không đầu hàng. Với tình hình đó, Lữ Đoàn A/TQLC cũng bị bao vây bốn phía. Việt Cộng tiếp tục tấn công ngày cũng như đêm với đủ mọi vũ khí, đặc công được tung ra tối đa để đột kích Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A/TQLC.
Nhưng Lữ Đoàn với sự bảo vệ TĐ.2 của Phúc đã đánh bật được các cuộc tấn công và đã bắt sống cũng như tiêu diệt rất nhiều Việt Cộng ở trong vòng rào Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn. Các Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4 cũng không kém, quần thảo không có thì giờ để nghỉ ngơi, hết tiền pháo lại hậu xung, tình hình thật nóng bỏng.
Trong lúc đó Tiểu Đoàn 8/TQLC của tôi (Phán) đang nằm ở Cô Rốc. Tiểu Đoàn 3 của Trung Tá Bảo nằm giữa đường tôi và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn. Tất cả các đơn vị đều bị vây khốn và pháo đổ xuống hàng ngày hàng đêm. Chúng cố cầm chân tôi và Trung Tá Bảo bằng cách bám thật chặt, vây quanh các điểm nước.
Hỏa châu sáng rực cả một vùng trời, phi cơ Mỹ yểm trợ tối đa. Phúc vẫn hiên ngang chống trả mọi cuộc tấn công của địch. Trong cuộc hành quân Hạ Lào không có một cố vấn Mỹ nào được đi theo. Tất cả mọi phi tuần quan sát và đánh bom đều phải liên lạc về Khe Sanh để nơi đây hướng dẫn đánh. Từng loạt B-52 trải thảm, Tiểu Đoàn 2 của Phúc đã bảo vệ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn vững vàng.
Thương vong của các đơn vị càng ngày càng cao. Ðây là mối lo âu lớn nhất của các cấp chỉ huy với cố gắng tối đa để tải thương kể cả bằng lưới đạn của pháo binh. Tuy vậy vẫn không đủ để đưa hết thương binh và xác chết về được.
Sau khi Lữ Đoàn 3 Dù của Ðại Tá Thọ đã chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, căn cứ hỏa lực của ông bị bộ binh và chiến xa tràn ngập. Còn lại một cái gai chính, đó là Lữ Đoàn A/TQLC. Tất cả các mũi dùi địch đều quay cả về phía Lữ Đoàn A/TQLC. Chúng làm một trận địa pháo khủng khiếp như là địa ngục của trần gian. Trong máy, tiếng ra lệnh của Phúc vẫn bình tĩnh, chậm rãi và thật rõ ràng, điều động các con cái của ông ta trám vào những chỗ bị chọc thủng. Tiếng Phúc dõng dạc ra lệnh luôn cho pháo binh trực xạ vào biển người.
Tình hình quá khẩn trương, tụi tôi chỉ biết theo dõi máy, thật nóng ruột và lo sợ cho họ. Cố tìm mọi cách làm sao để chia sẻ với Phúc và con cái ông ta trong hoàn cảnh đó, chính tụi tôi cũng đang trong tình trạng không thua gì Phúc, chỉ trừ chúng chưa dùng biển người.
Ðêm đó trời tối mịt mùng, không khí u buồn thê lương, tôi không biết là đêm thứ mấy của cuộc hành quân Hạ Lào. Tiếng kêu trong máy bỗng báo cáo loạn lên, Tiểu Đoàn 7 và 4 mất liên lạc. Súng hai bên dồn dập không ngừng, hỏa châu được soi sáng tới tấp, những tiếng nổ xé trời liên tục. Cả một khu núi rừng thâm u rung chuyển, lửa lóe lên mịt trời, không còn phân biệt được tiếng súng nào của địch của ta. Các đơn vị đang đụng kịch liệt, tiếng Phúc liên tục gọi Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4.
Bỗng tiếng của Ðạt Pháo Binh hớt hãi báo cáo thật gấp:
-Cua của tụi nó đã sát bờ rào!
Vẫn giọng thật ấm trầm và bình tĩnh, Phúc ra lệnh cho pháo binh hạ nòng bắn thẳng. Chận đứng đợt thứ nhứt, đợt thứ hai nối tiếp và cứ thế liên tục. Ðạt báo cáo đều:
-Biển người tụi nó được sử dụng sau hai đợt chiến xa…
Phúc hét lớn trong máy ra lệnh cố giữ vị trí không cho địch tràn vào và ra lệnh cho Ðạt rất ngắn nhưng rất sắc:
-Ðạt! Còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu không cần xin lệnh nữa!
Mặt khác Phúc vẫn cố gắng kêu Tiểu Đoàn 7 và 4 tiếp viện, nhưng trong thâm tâm Phúc biết chắc chắn rằng TĐ.7 và TĐ. 4 đã bị nặng nề lắm rồi.
Từ đầu đến cuối chỉ một mình Phúc ra lệnh và chỉ huy toàn diện. Mặt khác Phúc vẫn cố gắng gọi máy bay Mỹ xin thả trái sáng và yểm trợ cho ông ta chung quanh căn cứ. Vẫn chậm rãi bình tĩnh một cách khác thường, ông ta cho biết sơ qua tình hình và xin được yểm trợ gấp, tối đa. Ðây mới thật sự là giờ phút lịch sử của Phúc.
Ðạt báo cáo khẩn cấp:
-Cua và biển người đã tràn ngập các pháo đội, chúng đang tiến vào BCH/LĐ.
Phúc trả lời:
-Ðạt, còn cây pháo nào chơi cây đó, chơi tụi nó tới cùng.
Và từ đó Phúc mất liên lạc với Ðạt.
Bộ binh Bắc Việt tràn ngập vị trí Lữ Đoàn, trận cận chiến trong đêm tối bắt đầu. May thay, Phúc đã tiên liệu sẵn ám hiệu của đơn vị: “Tay áo mặt xắn thật cao, cánh tay trái thả xuống”. Mặt khác ông gọi tất cả các đại đội bên ngoài về cứu BCH/LĐ.
Trận chiến tôi không nhìn thấy, nhưng nghe con cái của Phúc báo cáo đều đặn. Lửa ngút trời làm sáng tỏ cả một khu núi rừng rộng lớn. Hỏa châu tiếp tục soi sáng, tiếng máy bay vẫn bao vùng trên không phận.
Hình như trận chiến đã quá khốc liệt, địch và chiến xa đã tràn ngập vị trí Lữ Đoàn. Bỗng tôi nghe Phúc dùng tiếng Anh yêu cầu đánh bom thẳng vào vị trí ông ta, lặp đi lặp lại hai ba lần:
– I’m Crazy Buffalo Battalion Commander.
Một hai phút sau giọng Phúc gấp và lớn, vừa tiếng Việt vừa tiếng Anh:
– Ð.M, I’m Ground Commander. Go ahead, do it, please!
Từ đó Tiểu Đoàn 8 của tôi và Tiểu Đoàn 3 của Tr/Tá Bảo cố gắng theo dõi Lữ Đoàn nhưng tất cả đều im lặng, một sự im lặng đáng run sợ. Chúng tôi cố gắng gọi Phúc (TĐ.2), TĐ.7 và TĐ.4 nhưng tất cả vẫn im lặng. Căn cứ đã bị bỏ ngỏ…
Mãi đến khoảng 4 giờ sáng, âm thoại viên của tôi báo cáo có tiếng Thiếu Tá Phúc, tôi liền chụp máy thật nhanh và theo dõi. Giọng Phúc quá nhẹ và quá chậm có lẽ vì quá mệt mỏi. Ông ta đã liên lạc được với Tiểu Đoàn 7 và TĐ.4. Tôi nói:
-Tôi sẽ thắp đèn cầy cho các ông, cứ đi hướng đèn thì sẽ gặp TĐ.3 và TĐ.8.
Thật tình mà nói trong giờ phút nầy ông ta (Phúc) vẫn còn sáng suốt và thông minh để liên lạc được với TĐ.3 và tôi để thắp những ngọn đèn cầy cho ông ta đi. Hỏa châu bắt đầu đánh dấu cho các đơn vị bạn. Sau chữ cám ơn nhẹ nhàng, ông ta tắt máy.
9 giờ sáng hôm sau gặp cánh tiền đồn của Tiểu Đoàn 3, Phúc cùng đi với Ðại Tá Thông và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn. Một lúc sau nghe báo cáo gặp được Ðạt và lần lượt các Tiểu đoàn 7 và TĐ.4. Họ cố gắng đi thêm vài cây số để tìm bãi đáp. Trung Tá Bảo Tiểu Đoàn 3 làm an ninh bãi đáp, sau đó trực thăng lần lượt đáp xuống để mang những đứa con thân yêu còn lại trở về Khe Sanh...
Phúc! Ông đã làm được tất cả những gì mà ông phải làm trong tình hình và hoàn cảnh bi đát như vậy. Thật sự ông đã làm được những việc mà không ai làm được. Ðã tròn với bổn phận, đã hết nhiệm vụ, ông không cần ai khen ngợi, ca tụng, ông không cần huy chương, ông cũng chả cần lon lá. Ông đang đau xót, đau xót tận cùng trong lòng của ông, khi nghĩ tới những thằng em, đồng đội của ông đang cô đơn, lạnh lẽo nằm rải rác đâu đó trên chiến trường Hạ Lào. Nhân danh một người bạn, cho tôi được nghiêng mình kính phục ông.
Vẫn bộ rằn ri bạc màu, không bao giờ chải chuốt, vẫn bình dân như một người lính, một buổi tối mênh mang trên khách sạn Hương Giang nhìn xuống dòng sông hiền từ. Trời không trăng, một vài vì sao nhỏ lấp lánh, trán của ông (Phúc) nhăn lại, sự quặn thắt tận cùng của ông, vết thẹo căng dài ra trên má ông. Ông đã nuốt hàng hàng lớp lớp đắng cay trong từng ly rượu. Cặp mắt ông nhíu lại và ông gục xuống bàn mà không hay…
Ðầu năm 1975, Nguyễn Xuân Phúc nhận Lữ Đoàn 369/TQLC.
Với kinh nghiệm đầy mình, với già dặn của chiến trường, Phúc đã dẫn Lữ Đoàn TQLC đi thay Lữ Đoàn Dù ở đồi 1062 Thường Đức, ngọn đồi lịch sử của các chiến sĩ Dù bách chiến bách thắng. Tùng, cùng khóa với Phúc, làm Lữ Đoàn Phó, một Ðỗ Hữu Tùng, người đã làm lịch sử cho Thủy Quân Lục Chiến. Tùng với Tiểu Đoàn 6/TQLC đã hạ hàng chục chiến xa và bắt sống 5 chiếc để mang về tận Sài Gòn và Huế triển lãm cho cả nước.
Tuy nhiên lịch sử xoay vần, 29/3/75 Ðà Nẵng mất, Phúc, Tùng và binh sĩ của các ông đã cùng chung số phận. Binh Chủng mất các ông, quân đội mất các ông như mất những viên trân châu quí giá nhất. Mẹ Ðà Lạt đã mất đi đứa con thân yêu được nuôi dưỡng bằng một lý tưởng vượt thoát. Khóa 16 đã mất đi một người bạn mà anh ta đã làm sáng rực và vinh danh cho khóa. Ðâu đây trên đời sống lưu vong này vẫn còn vang vang tiếng Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc.
Cho tôi được hâm nóng bầu rượu này để sưởi ấm phần nào cho người bạn là Nguyễn Xuân Phúc và cũng để được đền đáp ơn tri ngộ giữa tôi và Phúc đã cùng chiến đấu dưới cùng một màu cờ và sắc áo Thủy Quân Lục Chiến.
Trung Tá Nguyễn Văn Phán2
Tiểu Đoàn Trưởng TÐ8/TQLC.
(Quân nhân các cấp trong TĐ.8 gọi Anh Phán là Anh Hai)
***
Trâu Điên Thiếu Tá Lê Quang Liễn:
Nhớ về NT Nguyễn Xuân Phúc là nghĩ đến một cấp chỉ huy có tài thao lược, một đồng đội có thủy chung, một người anh, và người bạn rất thân tình. Sống với anh Nguyễn Xuân Phúc như có hai thái cực:
–Khi làm việc, nhất là lúc đụng trận, anh rất nghiêm nghị.
-Lúc về hậu cứ, ăn nhậu thì anh rất thân tình, cởi mở, cư xử thân mật.
Trong anh, có hình ảnh của một cấp chỉ huy với tài lãnh đạo trong tương lai của Quân Lực đang hình thành:
-Một cấp chỉ huy và lãnh đạo có học thức, có lý tưởng, liêm khiết, và gần gũi với thuộc cấp.
***
Trâu Điên Trưởng Đại Tá Ngô Văn Định:
Khi tôi về làm TĐT/TĐ2 thay Ông Lê Hằng Minh tử trận tháng 6/1966 thì Ông Hay Chùa làm TĐP, Phúc làm ĐĐT/ĐĐ4. Tôi đề nghị với Tư Lệnh cho Ông Chùa về Sư Đoàn để ông Phúc làm Tiểu Đoàn Phó.
Ngay những ngày đầu hành quân ở khu Cồn Thiên Gio Linh Quảng Trị, tôi đã nhận biết được Nguyên Xuân Phúc TĐ Phó là một sĩ quan gan dạ và là cấp chỉ huy tôi có nhiều cảm tình. Đến năm 1967 tôi đề nghị cho anh đi học Chỉ Huy Tham Mưu, đi học về, vì nhu cầu anh được làm TĐP/TĐ5/TQLC, đánh trận Rạch Ruộng, một trận chiến thắng lớn của TĐ5 năm 1968, sau đó anh được đi nhận chức TĐT/TĐ6 hành quân Mậu Thân ở Gia Định.
Năm 1969, tôi bị thương nặng anh ra lãnh trách nhiệm chỉ huy TĐ2 thay tôi. Năm 1970, TĐ2 do anh chỉ huy trong trận Preveng ở Miên, đã đem về cho hiệu kỳ TĐ2 một ngành Dương Liễu, và đây là Dương Liễu thứ 8 nên TĐ2 được mang dây biểu chương mầu Tam Hợp.
Năm 1971 anh dẫn Trâu Điên sang Hạ Lào, anh thăng Trung Tá và vẫn coi TĐ2 cho đến khi đánh vào Quảng Trị năm 1972 thì giao TĐ2 cho Thiếu Tá Trần Văn Hợp và anh đi làm Lữ Đoàn Phó LĐ147/TQLC, và sau đó làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ369/TQLC
Anh là một sĩ quan giỏi, không bao giờ biết đến đồng xu cắc bạc nào của anh em. Không làm điều gì mất danh dự của Quân Đội và TQLC. Anh mất đi để lại cho tôi niềm luyến tiếc.
***
TQLC Đại Tá Phạm Văn Chung:
Khoảng đầu năm 1968, Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2 Trâu Ðiên được chỉ định về nắm TĐ.6/TQLC. Ð/Úy Nguyễn Xuân Phúc, ngay tuần lễ đầu tiên đã chứng tỏ khả năng chỉ huy, tương lai hứa hẹn là một trong những tiểu đoàn trưởng đầy đủ phong độ, kích thước của Binh Chủng.
Vào một đêm khuya, sau khi nhận bàn giao Tiểu Đoàn 6 được vài ngày, 1 tiểu đoàn CSBV được tăng cường các đơn vị đặc công đã tấn công ngay vào đầu cầu phía Nam cũng là nơi đặt Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 6/TQLC. Sau ít giờ giao tranh, Đại Đội Phó Ðại Đội 1, đơn vị có trách nhiệm chận địch ngay khu dừa nước phía Đông cầu, bị tử thương. Và từ chỗ yếu đó địch bắt đầu khai thác.
Ðang trong hầm chỉ huy, Ð/Úy Phúc nhìn thấy các tổ đặc công địch đeo đầy chất nổ chạy lăng xăng sát đầu cầu. Anh phản ứng nhanh chóng bằng cách đưa ngay 1 trung đội thuộc tuyến phòng thủ Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn ra tiêu diệt các tổ đặc công này và bắt tay được với ÐĐ.1, ép địch chạy vào khu dừa nước rậm rạp. Sau đó anh điều động các đại đội khác đẩy địch xa dần về phía Đông, hơn 1 đại đội địch bị anh khóa chặt trong khu dừa nước phía Nam cầu Bình Lợi.
Trời sáng lần, địch quân không thể nào thoát được. Các toán Tâm Lý Chiến đã phải dùng loa phóng thanh kêu gọi chúng đầu hàng, trực thăng bay quần gây áp lực tinh thần địch. Sau nhiều giờ kháng cự lẻ tẻ, tất cả khoảng 150 cán bộ, binh sĩ (gần 2 đại đội CSBV) đầu hàng, ta tịch thu toàn bộ vũ khí, trên trận địa địch bỏ lại hơn 40 xác nữa, vũ khí nặng nhẹ vứt ngổn ngang.
Chiến công đầu tay của Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc cũng là chiến công đầu của Tiểu Đoàn 6 Cọp Biển.
***
Tư Lệnh TQLC Thiếu Tướng Bùi Thế Lân:
Chọn một đại đội trưởng TQLC đã là một điều khó, cấp chỉ huy ở trên phải cân nhắc kỹ lưỡng, nhất là về khả năng và tác phong, vì dưới quyền chỉ huy tác chiến của họ luôn luôn có trong tay hơn một trăm sinh mạng, vậy thì chọn tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng là một việc vô cùng hệ trọng.
Tôi đã chọn Phúc làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn phó rồi lữ đoàn trưởng thì đủ biết Phúc có đầy đủ tư cách và khả năng, Phúc giỏi. Trong 7 ngày cuối cùng ở Hạ Lào, tôi chỉ còn làm việc trực tiếp với Phúc, và Phúc là người có công nhất trong giai đoạn rút quân khỏi Hạ Lào.
Bố tôi và bố Phúc là bạn thân cùng trường, trong ngành kỹ sư, nhưng chưa bao giờ hai cụ đề cập với tôi về chuyện Phúc ở TQLC, và Phúc cũng chẳng bao giờ quan tâm tới điều này.
Điều Phúc quan tâm là lính no hay đói, Phúc không biết gì về tiền bạc cả.
***
Trâu Điên Tô Văn Cấp.
Đang vui với đồng đội ở TĐ5/TQLC, chỉ vì tội bốc đồng, tôi bị lãnh 15 ngày trọng cấm, ngồi tù QC 202 rồi bị đổi về TĐ2/TQLC khiến tôi buồn lắm!
Tháng 6/1966, trình diện Đại Đội Trưởng ĐĐ.4/TĐ2 tại Đà Nẵng, tôi tiến tới đứng nghiêm đưa tay chào ĐĐT Nguyễn Xuân Phúc và xưng danh đúng quân phong quân kỷ, nhưng “ông ta” vẫn ngồi dựa lưng vào ghế, hai chân gác lên mặt bàn, tay cầm điếu thuốc lá Ruby Queen gõ gõ lên hộp quẹt Zippo, hồi lâu ông cười ruồi rồi hất hàm nói:
-Ông đánh lộn bên TĐ5 rồi về đây kiếm tôi nữa phải không?
Đã từng nghe danh nghệ thuật trị những tên “ba-gai” của ông niên trưởng này từ lâu, nay đụng mặt trong hoàn cảnh này khiến tôi đành phải cắn môi đến rớm máu để nuốt cục buồn, bụng muốn trả lời “chưa biết”…, nhưng thôi, tôi đành im lặng!
Sau khi tỏ vẻ lạnh nhạt, ông đứng dậy quẹt lửa, châm thuốc hút, nhả khói rồi chậm rãi bước đi, miệng nói:
– Ông cạo râu đi rồi tìm Trung Úy Đại Đội Phó mà trình diện.
Đại Đội Phó là Trung Uý Trần Văn Hợp – người bạn cùng Khóa 19 với tôi, hắn mới mang xe GMC đến đón tôi tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn trong Quân Trấn Đà Nẵng. Gặp hắn tôi mừng vội tiến tới chào, nhưng hắn không bắt tay hay nói gì cả mà chỉ tôi lên ngồi phía sau GMC, còn hắn thì lên ngồi một mình trên cabin, dù cabin GMC dư sức ngồi hai người. Đó là lý do tôi không thèm trình diện ĐĐP Hợp nữa, mà đi tìm chỗ khuất trong khu “biu-đinh” xây dở dang, rồi giăng võng nằm ẩn mình trong bóng tối suy nghĩ sự đời.
Công bằng mà nói, chả cấp chỉ huy nào muốn nhận những tên “ba-gai” từ đơn vị khác chuyển đến, nhưng tôi không ngờ chỉ vì một phút bốc đồng mà tôi bị bạn đồng khóa và đàn anh ở đơn vị mới khinh thường đến thế!
Đang co mình trong góc tối để suy nghĩ tình đời thì tôi nhận hung tin từ đơn vị cũ mà tôi vừa mới rời khỏi là TĐ5/TQLC đụng trận và thiệt hại nặng tại Mộ Đức Quảng Ngãi, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Dương Hạnh Phước, cố vấn Mỹ, bác sĩ Lê Hữu Sanh đều tử trận! Riêng ĐĐ.4 cũ của tôi thì thiệt hại 3/4 quân số! Tr/Úy ĐĐT Dương Bửu Long bị thương, 2 Trung Đội Trưởng là Trần Tử Phương và Thảo tử trận, còn Thiếu Úy Lê Đình Quỳ (K20VB) và Chuẩn úy Nguyễn Văn Lộc (K17/TĐ) bị VC bắt3, tất cả họ là anh em, đồng đội thân thiết của tôi!
Đến đơn vị mới thì họ không cần, đơn vị cũ thì gặp đại nạn, bạn bè, đồng đội đang cần tôi thì tôi lại “trốn” trong một xó tối! Quá chán nản, tôi xách balo ra đi, chưa biết đi đâu, có thể tìm về đơn vị cũ hay bỏ về Saigon chơi cho bõ ghét thì Thiếu Úy Nguyễn Quốc Chính (K20VB) Trung Đội Trường TrĐ41/ĐĐ4 xuất hiện đúng lúc, Chính nói:
-Anh đừng đi, họ “thử lửa” anh đấy, chính anh Phúc xin anh về đại đội mà.
Nói xong, Chính mời tôi điếu Ruby và hớp café sữa rồi ngồi tâm tình nên tôi hiểu phần nào thế sự, tự ái được vuốt. Vả lại, gặp tình thế này thì tôi đành “phải thế”, ở lại coi “sẽ ra sao ngày sau” rồi sẽ tính. Trước mắt là lòng tôi được sưởi ấm bằng tình cảm của một đàn em dù mới chỉ gặp lần đầu.
Trong thời gian này, TĐ.2/TQLC chịu trách nhiệm an ninh trật tự trong vụ “Biến Động Miền Trung”, giải tỏa bàn thờ “xuống đường”. Đại Đội Trưởng không giao nhiệm vụ và nói năng gì với tôi cả, tôi cũng chả cần xin việc. Vài ngày sau, “xếp” gọi tôi ra lệnh:
– Ông xuống nhận Trung Đội 43 để sáng sớm mai đi hành quân.
Trung Đội 43 chưa có sĩ quan trung đội trưởng, nhưng ông ĐĐT muốn làm khó không cho tôi nhận từ sớm, tới lúc đi hành quân nới giao cho, hẳn là ý “Sếp” muốn thử lửa tôi nên tôi cũng không hỏi thêm bất cứ điều gì, tôi bất cần. Tôi gọi Trung Đội Phó là Trung Sĩ Tuyết, truyền lệnh vắn tắt: “Chuẩn bị sáng mai đi hành quân.”
TĐ2/TQLC tiến quân dọc theo những xóm làng dọc ven biển, đụng địch tại mục tiêu Phù Liêu Gia Đặng, rồi quân ta truy kích địch về tới ngã ba sông Vĩnh Định, thôn Bích La, Quảng Trị. Địch hết đường thoát nên tử thủ tại đây nhưng rồi cũng bị TĐ1 và TĐ2 đánh tan. Suốt cuộc hành quân này Đại Đội Trưởng (ĐĐT) Nguyễn Xuân Phúc luôn để trung đội tôi lẽo đẽo theo sau và không hề ra lệnh hay nói năng gì cả.
Tại Phù Liêu, khi cánh quân đi đầu nổ súng, Thiếu Úy Kiệt (K20/VB) tử thương thì ở phía sau, VC bất ngờ “độn thổ” từ dưới cát chui lên, tấn công vào Trung Đội 43 của tôi, nhưng anh em đã nhanh chóng phản ứng cấp thời, không hề hấn gì mà VC còn bỏ lại vài cây AK, vài xác chết. Tôi báo lên đại đội nhưng “Sếp” Phúc vẫn im lặng, không lên tiếng khen chê. Đại Đội tiếp tục truy kích giặc đến thôn Bích La Quảng Trị.
Tại Bích La Thôn, VC bị TĐ.1 và TĐ.2 dồn vào cửa tử, ngã ba sông Vĩnh Định, nên lợi dụng đêm tối, buộc chúng phải liều mình thoát thân. Khi chúng lội men theo bờ sông, đã đụng phải tuyến phòng thủ Trung Đội 43 của tôi với lựu đạn gài và mìn claymore khiến chúng bỏ lại hơn chục mạng.
Sáng hôm sau ngồi trên miệng hố, tôi đang nghĩ về những cái chết quá dễ dàng thì thấy ĐĐT Phúc đi đến, tôi làm bộ như không biết để khỏi phải đứng dậy chào. Khi tới sau lưng tôi, ĐĐT lên tiếng rồi đưa ca nhôm cà phê cho tôi và nói:
– Làm hớp đi cho ấm bụng, chú mày làm ăn được đấy.
– Cám ơn Trung Úy, anh em Trung Đội 43 giỏi chứ không phải tôi.
Ở đơn vị tác chiến, khi đầm ấm, thân thiện thì anh em nhà Võ xưng hô với nhau là “ông anh, niên trưởng” và “chú mày”. ĐĐT đã gọi tôi là “chú mầy” và cho uống cà phê đường, nhưng vì ác cảm lúc đầu, và thái độ coi thường nên tôi trả lời và gọi đúng cấp bậc nhà binh chớ không có “ông anh” gì cả. Phải giữ đúng nguyên tắc quân phong quân kỷ như SVSQ cán bộ K17 đã dạy tân khóa sinh: “Trong quân đội chỉ có tôi chứ không có em”.
ĐĐT ra lệnh cho tôi thu lượm vũ khí, căn dặn chi tiết rõ ràng hơn: “Phải cẩn thận”. Dường như anh không thèm để ý đến cử chỉ khó chịu của tôi, trái lại còn mỉm cười. Anh im lặng móc thuốc hút và đưa tôi một điếu, rồi đi đến vị trí phòng thủ Trung Đội 41 của Nguyễn Quốc Chính.
Ðây là lần đầu tiên anh trực tiếp ra lệnh cho tôi, những lần trước chỉ cho lệnh qua các hiệu thính viên. Thái độ thân thiện nầy cùa anh làm dây thần kinh tôi bớt căng thẳng, tự ái được vuốt nên tôi phải nhìn lại bản thân mình.
Sau một đêm vất vả với súng đạn nhưng được bình an, sáng sớm trời lạnh, nhìn xác địch trước tuyến mà lại còn được một ngụm cafe nóng, rít một hơi thuốc, ngửa mặt lên trời nhả khói vòng tròn là niềm hạnh phúc nhất của lính đánh giặc. Điếu thuốc đầu ngày làm tôi sảng khoái, nhất là điếu thuốc từ tay “Sếp”, một người mà tôi ghét cay ghét đắng ngay từ khi về trình diện.
Hình như tôi say thuốc, nhìn qua khói thuốc, tôi thấy dáng anh đi đầy vẻ tự tin với thái độ “kẻ cả”, tôi chợt nhận ra cử chỉ của mình vừa rồi đầy mặc cảm tự ti! Còn anh, tuy thấp hơn tôi nhưng anh lại cao hơn tôi một “cái đầu”.
Tay tôi mân mê điếu thuốc hút dở dang, điếu thuốc in dấu tay của Đại Đội Trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Có lẽ điếu thuốc đó đã làm thay đổi thái độ bất cần đời của tôi, nay tôi còn nhớ đó là điếu thuốc lá Ruby Queen đựng trong bao màu tím nhạt. Phong cách “người lớn”, rộng lượng của cấp chỉ huy hay hành động ích kỷ có thể làm thay đổi cuộc đời của một thuộc cấp. Thái độ “người lớn” của anh Phúc khiến tôi không còn là một con “ngựa non háu đá”.
Sau khi ổn định tình hình vụ “Biến Động Miền Trung”, đánh đuổi quân VC từ Phù Lưu, Gia Đẳng đến Bích La Thôn, Chiến Đoàn B TQLC trở lại Huế dự mừng lễ Chiến Thắng, một số quân nhân được ân thưởng huy chương và thăng cấp, trong đó có Thiếu Tá Lê Hằng Minh được vinh thăng Trung Tá.
Chiến Đoàn B tiếp tục hành quân, BCH Chiến Đoàn và TĐ.1 xuôi Nam, tăng phái cho SĐ2BB tại Quảng Ngãi. TĐ.2 tăng phái cho SĐ.1BB tại Quảng Trị.
Sáng 29-6-1966, TĐ.2 rời ngã ba cầu An Hòa đi Quảng Trị. Ðoàn xe vừa qua khỏi cầu Phò Trạch, Phong Ðiền thì bị phục kích. Ðịch từ hai bên đường độn thổ lên cận chiến ngay. Tiểu Đoàn Trưởng-Trung Tá Lê Hằng Minh cùng hơn 40 quân nhân tử trận, hơn 100 người bị thương, trong đó có anh Phúc, Hợp và tôi.
Trần Văn Hợp và tôi bị thương nhẹ nên tiếp tục ở lại cùng đơn vị, riêng anh Phúc bị đạn xuyên từ ngực trổ ra sau lưng nên anh phải nằm bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Huế. Không ai giải thích được vì sao anh may mắn thoát chết với vết thương như thế. Chúng tôi chúc anh may mắn, nhưng anh không cho là may mắn mà còn “nói phét”, chửi tụi VC bắn dở. Ðúng là khôi hài kiểu Nguyễn Xuân Phúc.
Chỉ sau một thời gian ngắn nằm bệnh viện, anh trở lại đơn vị, anh làm Tiểu Đoàn Phó TĐ.2 thay thế cho Đ/Uý Hay (Chùa).
Tân Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2 là Đồ Sơn Thiếu Tá Ngô Văn Định
Khi anh Phúc lên làm TĐP/TĐ.2 thì Trần Văn Hợp lên làm ĐĐT/ĐĐ.4, còn tôi được lên làm ĐĐP/ĐĐ.4. Ðược sống gần và sinh hoạt chung, chúng tôi thấy anh luôn tự tin, khẳng khái, không bao giờ xun xoe với thượng cấp. Ðàn em học được nơi anh kinh nghiệm tác chiến và xử thế, nhất là tình huynh đệ.
Một thời gian sau, anh được điều động đi làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.6/TQLC. Trước khi đi, anh khuyên nhủ và gần như cảnh cáo tôi:
-Tao đi rồi, chú mày phải cẩn thận, đất dụng võ ở TQLC hẹp lắm. Chú mày đã phạm một lỗi lầm lớn.
Tôi sống với Anh Phúc một thời gian ở TĐ.2, từ thái độ khinh rẻ (thử thách) tôi lúc ban đầu, nay ra đi đơn vị mới Anh ân cần căn dặn những điều cần thiết. Tôi hiểu ý anh, nên “con ngựa chứng” trong tôi đã bị Anh khuất phục.
Anh làm TĐT/TĐ.6, trong trận Mậu Thân đạn lại xuyên cổ, pháo cào rách mặt, sau khi xuất bệnh viện anh về làm TĐT/TĐ Yểm Trợ Thủy Bộ, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Tháng 1/1969 anh trở lại làm TĐT/TĐ.2 Trâu Điên thay thế Đồ Sơn khi Đồ Sơn bị trọng thương trong cuộc hành quân U Minh.
Khi Anh trở lại nắm TĐT/TĐ.2, Tiểu Đoàn Phó là Thiếu Tá Nguyễn Kim Đễ, Ban Ba (phụ tá) là Tr/Uý Nguyễn Kim Thân, các Đại Đội Trưởng là Đại Úy Trần Văn Thương ĐĐ.3, Trần Văn Hợp ĐĐ.4, Vũ Đoàn Dzoan ĐĐ.2, Tô Văn Cấp ĐĐ.1. Đại đội phó là các Tr/Úy Lâm Tài Thạnh, Phạm Văn Tiền v.v… Với thành phần sĩ quan như vậy thì anh Phúc “khỏe re” và cũng là thời gian vui nhất, cùng làm, cùng chơi vì đại đa số còn độc thân, nhậu ào ào nhưng khi vào việc thì đâu ra đó, không la ó. Khi đụng trận mới thấy cái bình tĩnh của anh, anh không hối thúc la ó, cứ để cấp đại đội thoải mái phối hợp với nhau tùy tình hình, thỉnh thoảng anh xen vào câu ngắn gọn: “Cần gì không?”.
Thuộc cấp nào cũng thích kiểu chỉ huy nầy thay vì sốt sắng quá, hồi thúc thuộc cấp với lệnh: “Bằng mọi giá phải chiếm cho được mục tiêu”.
Khi Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó đi phép để chuẩn bị thành lập đơn vị mới. Đ/Uý Trần Văn Thương thuyên chuyển thì anh Phúc phân vân khi phải chọn 1 trong 3 Đại Úy ĐĐT còn lại lên trám chỗ TĐP. Cả 3 ĐĐT này đều thuộc Khoá 19, đều có khả năng và đánh đấm như nhau, hơi khó chọn nên anh cứ “thả nổi”. Tới khi Tiểu Đoàn chuẩn bị đi hành quân ở Chương Thiện thì anh gọi tôi lên ra lệnh:
– Chú mày giao Đại Đội 1 lại cho Trung Úy Lâm Tài Thạnh, sang coi ĐĐ.3 của Thương (thuyên chuyển) và tạm thời coi luôn “cánh B”.
Tôi bị bất ngờ nên hỏi lại:
– Sao lại tôi? Còn hai thằng Hợp và Dzoan đâu? Tụi nó là dân kỳ cựu TĐ.2, nhất là Hợp, nó lên trung úy trước tôi và làm đại đội phó cho anh từ lâu.
– C.! Nhưng nó đi Mỹ nên lên đại úy sau mày, cứ bàn giao đại đội cho Thạnh ngay, đi hành quân chuyến này xong rồi về tính sau.
Chẳng phải quân tử “Tàu”, đã chọn nghiệp lính mà được đàn anh nâng đỡ thì còn gì bằng, nhưng cũng phải “biết mình, biết người” cho phải phép, vì Hợp gốc ĐĐ.4/TĐ.2, học trò cưng của anh Phúc, chỉ kẹt một sợi tóc, vì thời gian trận Mậu Thân 1968, Hợp đang du học tại Mỹ nên cái lon đại úy của hắn ít thâm…hơn của tôi nên anh chọn tôi đi cánh B. Cánh B là con đường “tương chao”, có thể làm phó sau này. từ phó lên trưởng là tương lai.
Mưu sự do Anh, thành sự tại cái số của tôi nó đen-đen làm sao ấy! Trong cuộc hành quân này, anh Phúc coi cánh A với ĐĐ.1 của Thạnh và ĐĐ.4 của Hợp, tôi coi cánh B với ĐĐ.3 và ĐĐ.2 của Dzoan.
Nhưng rồi trong chuyến hành quân này, tôi bị trọng thương (gãy chân tay) trên kinh Cán Gáo, Chương Thiện, bị loại khỏi vòng chiến, rời TĐ.2 luôn (9/1969).
Sau đó anh chọn Hợp coi cánh B và đề nghị đưa Dzoan đi làm phó ở tiểu đoàn khác. Nhưng Dzoan không chịu đi để tiến thân mà cứ đòi mài sừng làm Trâu, sau khi tôi bị thương ít lâu thì Dzoan cũng bị thương và giã từ vũ khí.
Trong thời gian hơn 1 năm tôi nằm bệnh viện, mỗi khi Tiểu Đoàn về hậu cứ (Thủ Đức) tái trang bị là anh Phúc ghé thăm tôi tại bệnh vện với 1 cây thuốc lá Ruby Queen và câu quen thuộc:
– C.! Chú mày làm tao mất hứng!
Bị anh sỉ vả mà tôi vẫn vui và nhớ mãi, nhớ nụ cười chúm chím rất có duyên của Anh với cái sẹo ngang mặt.
Khi tôi ra hội đồng y khoa, được phân loại 2 vĩnh viễn, được phép rời Binh Chủng, hoặc có thể giải ngũ, tôi buồn nên tìm đến anh, anh can thiệp cho tôi tiếp tục ở lại TQLC, nhờ vậy mà tôi lại được gặp anh lần cuối cùng trên bờ biển…
Lần Cuối Với Anh.
Những ngày tháng 3/1975, khi chiến trận bùng nổ khắp nơi, theo lệnh của Tổng Thống, Trung Tướng Tư Lệnh QĐ1 cho Sư Đoàn Nhảy Dù rút khỏi Đà Nẵng để về Saigon làm tổng trừ bị, Sư Đoàn TQLC sẽ tái phôi trí quân lại để trám vào chỗ trống do Nhảy Dù rút đi. Cuộc thay quân bắt đầu ngày 14/3/75.
TQLC chỉ để LĐ.147/TQLC ở lại Quảng Trị, Huế, còn LĐ.258/TQLC thay LĐ.2 Dù khu vực Bắc Hải Vân. LĐ.369/TQLC thay LĐ.3 Dù khu vực Đại Lộc, LĐ.468/TQLC từ Saigon ra thay LĐ.1 Dù trên đèo Hải Vân.
Thời gian này, LĐ.369/TQLC của Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, LĐP là Trung Tá Đỗ Hữu Tùng gồm có 3 tiểu đoàn là: TĐ.2 của Thiếu Tá Trần Văn Hợp, TĐ.6 của Trung Tá Lê Bá Bình, TĐ.9 của Thiếu Tá Lâm Tài Thạnh. LĐ.369/TQLC thay thế LĐ.3 Dù vùng Thường Đức, Đại Lộc phía Tây Đà Nẵng xong vào ngày 16/3/75.
Ngày 28/3/75 LĐ.369/TQLC được lệnh di chuyển về phòng thủ căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Nhưng chỉ có TĐ.2 và TĐ.6 đã về đến nơi vào rạng sáng 29/3, còn TĐ.9 của Th/Tá Lâm Tài Thạnh thì ở quá xa nên vẫn còn tiếp tục trên đường di chuyển và chỉ về đến nơi vào chiều tối 29/3/95 (và TĐ.9 phải đơn phương chiến đấu suốt đêm 29/3 với lực lượng địch với quân số gấp bội)
Khoảng 12 đêm 28/3, Trung Tướng Tư Lệnh QĐI đến với SĐ/TQLC và ông ở lại trong Trung Tâm Hành Quân SĐ/TQLC (TTHQ) trong căn cứ Non Nước cho tới sáng 29/3, thì Ông cùng với TQLC bơi ra tàu Hải Quân tại bờ biển Non Nước.
Khỏang 6.30 giờ sáng 29/3/1975, không khí trong TTHQ quá nóng và ngột ngạt (có mặt trời ngồi trong đó). Tôi bước ra ngoài đề hít thở không khí bờ biển thì thấy anh Phúc, anh Tùng và Trần Văn Hợp đứng nói chuyện trước cửa TTHQ. Anh Tùng nói máy liên lạc với TĐ.9 đang trên đường rút về.
Khoảng 7 giờ sáng, khi có 2 tàu LSM của HQ tiến vào bờ biển Non Nước, lần lượt Trung Tướng TL/QĐI đi cùng với Đại Tá Tango TLP/TQLC, Trung Tá CHT/PB Đặng Bá Đạt, Trung Tá Nguyễn Văn Phán (lúc này anh Phán là TĐT/TĐ/THD), P3 và TTHQ chúng tôi theo sau. Trước khi ra tàu HQ, tôi đứng nghiêm chào hai anh Phúc và Tùng.
Hai anh vẫn đứng tại đó, tiếp tục liên lạc với TĐ.9 đang trên đường rút về.
Bằng đủ mọi cách để mưu sinh thoát hiểm “vượt sông”, tôi, Thiếu Tá Phạm Văn Sắt, Thiếu Tá Phan Công Tôn đã vượt sóng bám vào dây để được kéo lên tàu, trong khi đó thì Đại Uý Nguyễn Văn Hưởng được kéo lên nửa chừng thì tuột tay rớt trở lại xuống biển và mất tích.
Khoảng 9-10 giờ sáng 29/3/75, khi 2 tàu LSM đang tiếp tục kéo vớt những “cọp biển” thì VC pháo kích, vài quả đạn rơi quanh tàu, nên tàu lui ra khơi, sóng nước kéo theo nhiều, nhiều cọp biển về “thuỷ cung”! Còn trên bờ, nơi hai Anh Phúc Tùng đứng đó thì một cơn bão lửa sấm sét mù trời khiến nhiều người về “thiên quốc”! Hai Anh Phúc, Tùng “mất tích” từ giờ phút đó!
Bình thường như những người bình thường thì hai anh đã lên được LSM, nhưng các anh là cấp chỉ huy lý tưởng, ở lại để điều động đơn vị cuồi cùng là TĐ.9 và có lẽ hai Anh đã ở lại đó mãi mãi. Tôi không bao giờ gặp lại hai anh Phúc, Tùng nữa!
Có người viết rằng thấy hai Anh lên trực thăng, có người nói hình như hai Anh lên tàu, lại còn có bố (láo) nghe tiếng anh kêu gọi thuộc cấp rút lên đỉnh Sơn Chà tử thủ!
Không thấy tận mắt chuyện gì xảy ra, thì xin đừng “thần thánh hoá” và cũng không nên bịa chuyện làm mờ những tấm gương sáng.
Trong bài “Trận chiến sau cùng của Tiểu đoàn 9/TQLC”, Trưởng B.3/TĐ.9 là Đại Uý Tân An Ðoàn Văn Tịnh viết: (xin trích):
Sáng ngày 29/3/1975, gần 10 giờ trưa cánh A mới tới được bờ sông Hàn. Tôi gọi Trung Tá Tùng. Tiếng của anh Tùng trong ống liên hợp và chiếc loa nhỏ gắn trên máy PRC-25 không được rõ ràng, lẫn lộn với một loạt âm thanh quen thuộc, hình như tiếng cánh quạt của trực thăng hay tiếng sóng biển vỗ vào mạn tàu.
– Thái Dương đang ở đâu? Trên máy bay hay tàu thủy?
– Sao Tân An lại hỏi vậy?
– Vì tôi nghe có tiếng quạt đập gió hay tiếng oằm oặp của sóng.
– Không tàu cũng chẳng máy bay. Ðó là tiếng sóng vỗ bên bờ biển.
Tôi nghe tiếng la rất lớn của Trung tá Phúc:
– Cho Tân An ngay tần số của Hợp, và Hợp có bổn phận đón Tiểu Đoàn 9.
– OK, OK! Tân An đây Thái Dương. Hãy ghi tần số nầy và liên lạc với Hà Nội để Hà Nội thu xếp đón Tiểu Đoàn 9 lên tàu.
– Ðáp nhận. Ðại Bàng!
– Chúc may mắn.
“Ầm”!
Bỗng tôi nghe trong máy một tiếng nổ rất lớn cắt ngang tiếng nói của anh Tùng và chấm dứt cuộc đối thoại. Ðó là lần nói chuyện sau cùng của chúng tôi với Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng. (Hết trích)
***
Đối chiếu diễn tiến cuộc đàm thoại giữ LĐP Đỗ Hữu Tùng và Tân An Đoàn Văn Tịnh cùng sự kiện mắt thấy tai nghe của chúng tôi (Anh Sắt, Tôn, Cấp) thì có thể biết được chuyện gì đã xảy ra với hai Anh Phúc Tùng vào khoảng 10-11 giờ sáng ngày 29/3/75 tại bãi biển Non Nước.
Lần đầu tiên, khi trình diện TĐ.2 tại Đà Nẵng, năm 1966, tôi gặp ĐĐT/ĐĐ4 Nguyễn Xuân Phúc thì lần sau cùng tôi gặp Trung Tá LĐT/LĐ.369 Nguyễn Xuân Phúc cũng tại Đà Nẵng, không ngờ đó là lần sau cùng tôi gặp Anh!
Anh Phúc không cho tôi huy chương và cấp bậc, tiền bạc thì lại càng không vì Anh quá nghèo. Tôi ghét cay ghét đắng, có thể nói là hận Anh ngay từ khi mới đến trình diện. Nhưng “ở lâu mới biết lòng người có nhân”, với phong cách chỉ huy và tài lãnh đạo, cung cách “sống đẹp” với người xung quanh đã khiến tôi kính và phục Anh, nếu không muốn nói Anh là “thần tượng” của tôi.
Không chỉ riêng tôi, mà khi tiếp xúc với những người biết Anh, những ai từng làm việc với Anh thì hầu như tất cả đều dành cho Anh sự ngưỡng mộ, cảm tình yêu mến.
Nửa đường gãy gánh, con đường binh nghiệp Anh chưa thành công, nhưng anh đã thành danh. Nay ở một nơi nào trên Thiên Quốc, anh đang cười, ngất ngưởng ly rượu cầm tay, tay kia đánh nhịp hát: “Trấn Thủ Lưu Đồn”./.
1 Đã hy sinh
2 Anh đã qua đời ngày 01/12/2020 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ
3 Về sau Lộc trốn thoát; còn Quỳ, tới 1973 mới được thả do trao đổi tù binh
Trung Tá VNCH NGUYỄN XUÂN PHÚC Vị Chỉ Huy Đáng Kính Của Tiểu Đoàn 2 TQLC Trâu Điên

