Thang thuoc day thi – Ngo Nguyen Dung

Trong bữa cơm tối hôm đó, bà Từ Phụng săm soi ngắm nghía sáu đứa con đang tuổi lớn. Bất giác bà nhận thấy, đứa nào cũng thay đổi, ngoại hình lẫn tâm tính. Năm cô con gái cách nhau năm một mỗi tối tắm gội lâu lắc hơn trước. Chúng nó để ý cách ăn mặc kỹ lưỡng và khó khăn hơn trước. Chúng nó bắt đầu biết thầm thì chuyện vãn cùng nhau, và đột ngột ngưng ngang khi người khác tới gần. Chúng nó trao đổi cho nhau, không hiểu có từ đâu, những bài thơ và những bản nhạc tình chép tay. Chúng nó bực bội tột độ chỉ vì một mụt mụn mới mọc. Lúc nầy đây, bà Từ Phụng mới nhận ra những cá tính khác biệt của mỗi cô con gái ở tuổi dậy thì. Chỉ mỗi mình Liên là đứa thố lộ cho bà biết khi cô có kinh nguyệt lần đầu tiên. Còn những đứa khác trao đổi kinh nghiệm với nhau, không cần tới bà. Điều làm cho bà bận tâm là những tăng trưởng thể xác cũng như tâm lý của Lâm, đứa con nối dõi độc nhất của gia đình, giữa năm đứa con gái hay trở tính bất ngờ. Bà lo ngại, biết đâu chừng chúng nó làm cho cậu nhỏ hóa “nữ tính” lúc nào không hay.

“Bà lo lắng chi vậy?”, ông chồng hỏi. “Nếu quả thật vậy, tui với bà tìm cho nó một chân hoạn quan trong cung tỳ thiếp ở triều đình. Cũng danh giá lắm chớ? Biết bao nhiêu cha mẹ đem con trai họ đi thiến để được vậy”, ông chêm vô, kèm theo chuỗi cười hóm hỉnh.

“Không, con trai tui không đi đâu hết. Nó ở đây để coi sóc việc nhà và ruộng mạ. Ông nên nhớ, gần tới hạn thanh toán tiền lời mướn ruộng cho ông điền chủ rồi đó”, bà Từ Phụng nhắc nhở.

“Bà có biết chuyện thiên hạ xầm xì về gia cang ổng mấy lúc gần đây không vậy?”

“Tui cũng nghe nói. Cẩn thận khi nói mấy chuyện đó nghe ông! Tai vách mạch rừng. Chuyện không ăn nhầm gì tới mình”, bà dặn dò, mặt ra vẻ nghiêm trọng, ngụ ý nhắc ông ngừng đề cập tới những đề tài đó.

Chuyện Lâm có bị mấy cô chị hóa “nữ tính” hay không, không một ai kiểm chứng được trong mùa nắng dai dẳng khác thường suốt nhiều tháng nay. Chỉ mỗi sự kiện, sáng nọ sau khi thức giấc, cậu nhỏ thấy người khó chịu và lên cơn sốt. Trước khi bà Từ Phụng ra đồng, bà đã nấu cháo gừng cho cậu và dặn dò mấy cô con gái, nhớ đem cháo vô giường cho cậu ăn khi còn nóng và bỏ thêm một thỏi đường thốt nốt. Theo lời má dặn, Liên thoa dầu nóng lên lưng cậu, rồi lấy đồng tiền mòn cạnh cạo gió. Rồi cậu được trùm mền kín mít. Lúc chiều, sốt giảm Lâm vẫn còn yếu. Lúc cậu Bảy đi học về, cậu liền tới cạnh giường, kể cho cậu nghe mấy chuyện xảy ra trong ngày. Như thường lệ, cậu và mấy đứa học trò khác vẫn tới chơi với ông khách và con khỉ liến láu.

“Lúc chỉ còn mình cậu ở đó”, giọng cậu nôn nao, “ông khách lên tiếng hỏi thăm cháu bằng tiếng Việt rành rọt. Ổng còn dặn, nếu ba ngày tới cháu chưa khỏi bệnh, cậu nhớ cho ổng biết, để ổng tới đây khám bệnh cho cháu.”

Lâm nghe cho có. Trong cơn sốt, giọng nói của cậu Bảy vang vọng trong tâm thức cậu như tiếng rền vang của hàng ngàn con ve, pha lẫn tiếng dế gáy, tưởng như có người thứ ba xen vô mẩu đối thoại.

Giữa khuya cậu ói mửa nhiều phen. Người cậu nóng như lửa và cậu bắt đầu nói nhảm. Chừng như cậu nói về cây cỏ, hoa lá, thú vật và những từ ngữ lạ lùng bằng thứ ngôn ngữ tròng tréo khó hiểu chưa ai nghe bao giờ. Hai ngày kế tiếp, cậu được bà Từ Phụng chữa trị bằng mọi phương pháp truyền thống, nhưng vẫn không đem lại kết quả. Bà trở nên hoảng loạn và ngồi canh chừng cậu trong mùng suốt hai đêm liên tiếp. Tới ngày thứ ba, khi nghe cậu Bảy thuật lại lời căn dặn cùa người khách lạ ngồi cạnh gốc cây bồ đề, bà tức tốc tới tìm ông. Bà cất tiếng tự giới thiệu và dẫn ông tới nhà, với con vượn ngồi trên vai, và chiếc xe kéo đựng những đồ vật lỉnh kỉnh. Dọc đường bà huyên thiên kể chuyện bệnh tình Lâm, nguyên nhân cũng như tất cả triệu chứng kèm theo, không cần biết ông khách hiểu hay không. Mọi bệnh trạng, bà nói thẳng thừng, tới đột ngột chỉ sau một đêm, như đám vong hồn độc địa nào có ý định tới bắt cậu.

Khi hai người tới nhà, ông khách lịch sự cất lời, kêu bà cho ông gặp Lâm. Bấy giờ bà Từ Phụng mới bật tiếng thất thanh.

“Cái gì? Ông nói được tiếng xứ tui sao? Tui cứ tưởng… Tui nghe nói…”

“Chỉ bao nhiêu thôi”, ông khách nhếch cười trả lời và ra dấu bằng tay. Bà Từ Phụng gọi Loan, cô con gái út, là đứa duy nhất có mặt hôm đó nhằm canh chừng sức khỏe cho Lâm, đi pha trà.

Ông khách ngỏ ý muốn một mình ở cạnh Lâm. Lát sau ông trở ra ngồi cạnh bàn, chỗ bà Từ Phụng đang nóng lòng chờ đợi. Loan đem khay trà ra và rót trà ướp bông lài thơm thoảng.

“Mời ông dùng trà”, cô con gái thều thào ngại ngùng. Cùng lúc cô liếc mắt len lén ngắm nhìn ông khách, một đạo sư Ấn độ giáo, được hết thảy dân làng nhắc nhở và đặt tên cho ông là Đạo Sĩ. Mới nãy, lúc ông và người mẹ luôn miệng kể lể bước vô sân, cô đã ngó thấy từ ô cửa bếp. Hôm nay, người đàn ông dị chủng vấn tóc trong chít khăn quấn đầu và chỉ mặc mỗi chiếc quần dài rộng, màu đỏ bạc thếch. Bước chân ông nhẹ tênh bên cạnh má cô không ngớt huơ tay theo câu chuyện kể. Mảng lông nhuốm bạc trên làn da ngực nâu sẫm của ông gợi lên trong trí Loan một cảm xúc khó giải thích, như đã bao phen cô nghiệm thấy trong giấc chiêm bao sàm sỡ. Thân xác cô không manh vải che mong đợi cùng nỗi hiến dâng trọn vẹn, như mặt đất trinh nguyên khô cằn khao khát trông chờ cơn mưa ấm trút xuống, được những bàn tay mùa màng dịu dàng ve vuốt. Những bàn tay, từng phiến từng phiến rắc mưa cảm xúc xuống thân xác cô. Những ngón tay, từng ngón từng ngón rẩy những hạt mầm hoa trái không tên lên mảnh vườn thầm kín của cô. Những cánh tay, từng cánh từng cánh đong đưa võng mây thốc cô lên mái trời thiên thanh.

Trong khoảng khắc nầy, khi đứng đối diện ông khách lạ chỉ một khoảng tay vói, cô chạm phải đôi mắt ma thuật và mồ hôi từ người ông tỏa ra mùi hương gỗ quý, bắt cô liên tưởng những giấc chiêm bao thỉnh thoảng lại trở về. Căn cứ theo diện mạo, tuổi ông khoảng độ gấp ba, dám chừng gấp bốn lần tuổi cô. Thần sắc ông toát ra một ma lực, mà cô chưa lần nào cảm nhận được từ người đàn ông nào khác.

Loan cầm khay trống trở vô bếp, hai tay run rẩy vì xúc động, cô hoang mang tới ngồi cạnh cửa sổ. Bất chợt cô thấy ra quang cảnh trước mắt trong trẻo và rõ ràng từng chi tiết một. Những bóng ảnh lập lòe của phông mây trên nền trời xanh tái. Những sắc độ khác biệt của vòm cây lá. Ngay cả những tia sáng mặt trời lập lòe hình nón cũng đượm một màu vàng lục tươi tắn kỳ diệu mà cô chưa từng thấy trước đây. Cô còn cho rằng, thoảng đưa theo gió, cô còn có thể bắt được những hương thơm của trái chín quê nhà. Ôi, đáng yêu và du dương xiết bao tiếng chim ríu rít bên tai! Những đoạn đường giới hạn trong thế giới quan của cô mỗi ngày từ nhà tới trường, từ nhà ra chợ, từ nhà ra ruộng, mở rộng cửa, cho cô tìm tới chân trời nhuốm sắc cầu vồng. Cô linh cảm rằng, bắt đầu từ khoảnh khắc nầy, cô có được khả năng thấu hiểu ý nghĩa của đời sống dành cho riêng mình.

Loan bị dòng suy tư rối rắm cuốn trôi vào chuỗi tâm tư ngập tràn cảm xúc, khiến hai mắt cô ứa lệ vì niềm hạnh phúc khó tả. Cô chẳng hiểu ra, tại sao.

*

“Dành cho việc chữa trị tôi cần ít nhất từ ba tới bốn tuần”, Đạo Sĩ vào chuyện.

“Chẳng hề gì, thưa thầy. Chúng tôi có thể cho thầy ở trọ trong khoảng thời gian nầy”, bà Từ Phụng cất tiếng, không chút do dự. “Thầy nói cho tôi biết, nó bị bệnh gì được không?”

“Tôi chỉ yêu cầu bà chuyện nầy”, ông thấp giọng, không trả lời thẳng câu hỏi. “Khi nào cậu nhỏ khỏi bệnh, bà cho phép tôi truyền lại cho cậu những nguyên tắc chữa bệnh mà tôi đã học được từ các đạo sư tổ về y học thiên nhiên tại quê hương Ấn Độ của tôi và tự tay cải tiến. Đó là điều kiện duy nhất của tôi.”

Bà Từ Phụng thấy không có gì trở ngại. “Thưa thầy, đó là điều vinh hạnh to tát cho chúng tôi và con trai chúng tôi, có được thầy là vị cứu tinh và giáo sư tại đây.”

Ngay sau đó, ông lẳng lặng đi ra chỗ dựng xe kéo và xách vô bao tải vải bố.

“Bà làm ơn cho tôi biết, bà…”

“Tui tên Phụng.”

“Bà Phụng, trước khi tôi pha chế thang thuốc chữa bệnh, tôi đưa ra những điền kiện sau đây: Người sắc thuốc phải là nữ giới và chưa hoen ố”, ông giải thích và ngó như thôi miên vô mắt bà Từ Phụng. “Bằng không sẽ mất hiệu quả.”

“Thầy nói vậy nghĩa là sao?”

“Nghĩa là cô ấy phải còn trinh.”

“Mấy đứa con gái của tui, chưa ai có gia đình hết, thưa thầy”, bà Từ Phụng hoang mang.

“Lẽ đương nhiên rồi. Bà tha lỗi cho tôi vì lời đường đột nầy”, Đạo Sĩ khẽ cười.

Rồi ông nhẹ tay lấy ra từ bao tải một nhúm thảo mộc. Với hai mắt lim dim, ông nhỏ giọng đọc bài niệm chú, trong lúc tán mớ thảo mộc trong cối đá thành chất bột lụn vụn màu đen. Thang thuốc nầy, theo lời căn dặn của ông, sẽ được Loan cho vô ba chén nước, nấu với lửa nhỏ, tới khi sắc lại còn hai phần ba chén thành chất lỏng đen quánh. Sau khi lọc qua rây, trong khi chờ nguội, nhớ lấy con dao gác ngang miệng chén, trừ ma đuổi quỷ.

“Luồng sinh khí của cậu nhỏ bị những sinh vật hung dữ tấn công, cản trở vòng tuần hoàn. Những năng lực tiêu cực nầy cần được đào thải bằng những phương pháp trị liệu bằng thảo dược, nhằm nối lại mối tương quan giữa tâm thân. Chúng ta, những động vật có nhân tính chỉ là một sản phẩm tình cờ của tạo hóa và vì vậy bị lệ thuộc vào đó. Bệnh hoạn không gì khác hơn là sự rối loạn giữa tâm và thân. Chỉ những phương pháp chữa trị tự nhiên mới có thể tái lập mối hòa điệu suông sẻ nầy”, ông giải thích bằng tiếng Việt dễ hiểu và sành sõi không ngờ cho bà Từ Phụng, Loan và mọi người trong gia đình vừa về nhà. Tất cả tề tựu quanh ông Đạo Sĩ đang ngồi bệt dưới nền đất, chế biến thang thuốc trị bệnh cho Lâm. Không một ai dám lên tiếng hỏi những thành phần của hợp chất ngó chẳng ngon lành kia là những gì. 

“Cậu nhỏ sẽ được điều trị bằng thang thuốc do tôi tự pha chế nầy, ba lần mỗi ngày, một tuần liền. Ta yêu cầu các người, thang thuốc chỉ được mỗi một mình cô ấy…”, ông trỏ ngón tay chỉ Loan đang đứng khoanh tay phía sau, “…chế biến, không một ai khác.”

“Tại sao tôi?”, Loan ngạc nhiên thều thào.

“Tại vì ta thấy bằng nhãn quan thứ ba của ta, chỉ có cô hội đủ điều kiện để hoàn thành việc nầy”, Đạo Sĩ giải thích ngắn gọn rồi tiếp lời: “Ngay sau đó cậu nhỏ sẽ được thôi miên ngủ ba ngày ba đêm liên tiếp, để tâm thân tự hoàn phục lại…”, Đạo Sĩ nói với tất cả những người hiện diện bằng giọng điệu vô cảm. “Để rồi chúng ta chờ coi thân xác cậu nhỏ phản ứng ra sao. Nếu như cậu vượt qua, điều nầy có nghĩa, cậu là kẻ được tuyển chọn. Và ta coi đó như là điềm báo ứng cho phép ta ở lại đất nước nầy. Bằng không, ta sẽ lên đường tìm kiếm tiếp.”

Ngay chiều hôm ấy, ông Phạm Quang kêu vài người bạn tới nhà, cất một mái chòi đơn giản bên ao sen làm chỗ trọ tạm cho Đạo Sĩ. Theo lời yêu cầu của ông khách, một góc nhà được trải rơm làm chỗ ngủ cho con vượn. Cho Đạo Sĩ là một chiếc giường lót chiếu. Một kệ thờ bằng gỗ cũ được đóng vội, bên trên ông đặt một tấm kiếng đóng khung sơn màu sặc sỡ, cẩn đá quý; một lư nhang con bằng sa thạch đỏ và một chiếc đèn trứng vịt, là nơi ông thiền tập hai lần mỗi ngày. Ông còn nhắn lời cho hay rằng, ông chỉ cần một bữa ăn trưa chay tịnh và chỉ uống nước mưa hay nước sông nấu chín, ngoài ra ông cũng rất thích, ông khôi hài nói thêm, uống nước dừa tươi. Cho con vượn, được ông đặt tên Sân Si, cũng giống như vậy và nó cũng thích có thêm một trái chuối mỗi chiều. Trả lời câu hỏi nửa giễu cợt nửa tò mò, muốn biết con vượn có thiền tập chung với ông không, ông cười cợt đáp, lẽ đương nhiên là nó phải làm theo, nếu không nó sẽ bị cắt khẩu phần chuối mỗi ngày.

*

Lần nọ, đi tiểu giữa khuya, Loan nghe văng vẳng một tràng âm thanh phát ra từ căn chòi của Đạo Sĩ, như thể tiếng ai rên rỉ vì đau đớn. Cô tò mò nhẹ chân bước lại gần, thổi tắt ngọn đèn dầu, và dõi mắt ngó qua bụi cây chỗ cô ngồi núp, tim đập rối loạn trước cảnh tượng lạ lùng đang diễn ra trước chòi lá của ông Đạo Sĩ. Trong vũng ánh sáng lập lòe của vầng trăng bán nguyệt, ông đang đứng day lưng về phía cô, quanh hông quấn mỗi manh khố, hai chân hơi dạng ra, đầu ngửng lên khung trời đêm đầy sao giăng mắc. Tóc ông thả dài tới đáy lưng. Theo mỗi động tác khoan thai, cánh tay ông co duỗi nhịp nhàng, tựa như ông muốn gom trọn vũ trụ vào người. Loan mường tượng ra những luồng hơi thở ấm của ông tụ lại trong không gian đêm dịu mát kéo thành một chuỗi dài, đính đầy tinh tú li ti, lấp lánh. Cùng lúc ông cất giọng khe khẽ, nghe như niệm chú. Hai bàn tay ông múa may uyển chuyển. Loan tưởng như cảm nhận ra, chúng vô cùng dịu dàng, và mềm lòng nhớ tới những bàn tay thỉnh thoảng hiện về trong chiêm bao. Những đợt sóng rối rắm trào dâng. Những giọt lệ ấm lăn dài trên má. Bắt đầu từ khoảnh khắc nầy, hồn xác cô cảm nhận ra những đổi thay, lên tiếng nhắn nhủ buộc cô từ giã tuổi thơ ngây, để bước vào thế giới người trưởng thành.

Một đỗi sau, Đạo Sĩ cởi khố. Lần đầu tiên trong đời, Loan thấy một người đàn ông lõa thể trước mắt. Trần truồng. Đêm rũ bóng tối, tưởng như tất cả thiên thể bị xóa sạch. Có lẽ nào người đàn ông nầy đã thu trọn cõi ánh sáng huyễn nhiệm vào người, Loan nghĩ thầm và dõi nhìn Đạo Sĩ, tay cầm chiếc khố, rảo bước về hướng ao nước. Đầu tóc ông chừng như rực lên màu trăng xanh và hóa thành ngàn cánh đom đóm lập lòe.


(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.