Thắm thoát hai năm đã qua kể từ ngày Thầy Phạm Xuân Ái đi xa, 26/10/2022. Tôi, một học trò cũ của Thầy, trong lòng biết bao nhiêu thương nhớ người Thầy thân yêu, nhớ đến những kỷ niệm sâu đậm với Thầy.

Năm học 1969 – 1970 năm học lớp đệ tứ mà sau đó đổi thành lớp 9, tôi tham gia Ban Đại diện học sinh do anh Võ Văn Tuấn làm Tổng Thư ký, anh Võ Quang Tụi Phó Tổng Thư ký sáng, anh Trần Hoàng Thụy Phó Tổng Thư ký chiều. Khối Báo chí có anh Trương Văn Vân làm Trưởng khối, anh Nguyễn Văn Nhã làm Phó Trưởng khối sáng – người sau này rất nổi tiếng là một nhà ngoại cảm, Thầy Sáu Nhã – và tôi làm Phó trưởng khối chiều. Theo thông lệ, Tết đến Khối Báo chí có nhiệm vụ làm báo Xuân và thiệp Xuân. Ban Biên tập xét chọn và Thầy Phạm Xuân Ái là một trong những Thầy Cô làm cố vấn. Tất cả bài vỡ đều ổn trừ bài nhạc tên Dạ khúc của anh Nguyễn Văn Nhã. Trong bài hát này có câu: ngày mai lính sẽ đi tôi, một sự đổi chỗ từ ngữ cố ý. Khi đưa đi kiểm duyệt, câu này không được duyệt. Tuy nhiên với sự bồng bột, phản kháng của tuổi trẻ – dù không biết ý đồ tác giả ra sao, bài hát vẫn in nguyên như ban đầu. Báo được in xong, Thầy Phạm Xuân Ái xem lại và thấy ngay chi tiết này. Thầy quyết định dán hai trang có bài nhạc này lại và Khối Báo chí, phải làm chuyện đó. Thầy mắt nhắm mắt mở để tụi tui làm. Thế là chỉ dán lấy có, người đọc gỡ ra dễ dàng. Mọi chuyện cũng êm xuôi. Hú hồn vì sau này mới biết anh Nhã là Việt Cộng thứ thiệt!

Năm học 1970 – 1971, tôi lên lớp 10B1. Vì học trễ một năm nên tôi đồng thời học lớp 11 ở trường Hưng Đạo. Sau khi đậu Tú tài 1, tôi xin vào học trường mình với tư cách là một học sinh trường ngoài. Lúc đó trường có quy định thu nhận học sinh trường ngoài đậu Tú tài 1 hạng Bình, Ưu. Số học sinh này cũng nhiều, gần 1/3 lớp. Các Thầy Giám thị trường mình chăm sóc học sinh phải nói là số một. Lớp cũ của tôi có 4 đứa học nhảy cùng xin vào lớp 12 và các Thầy xếp chung một lớp 12B1. Sau này hỏi thăm các lớp khác cũng vậy, các bạn cùng chung lớp dưới đều được xếp chung lớp 12 với nhau. Cuối năm khi rút hồ sơ thì đầy đủ học bạ, thành tích biểu từ đệ thất đến lớp 12. Với cách làm này nếu có thanh tra thì tụi tui tiêu rồi vì thấy ngay một năm học mà học hai cấp lớp! Năm lớp 12 tôi được học lớp Thầy Phạm Xuân Ái dạy Pháp văn sinh ngữ 1 và đồng thời là Giáo sư hướng dẫn. Thầy có một phong cách dạy rất đĩnh đạc, tự tin. Thầy tạo ra sự tin tưởng nơi học trò. Tôi còn nhớ đề kiểm tra vấn đáp lục cá nguyệt của Thầy là bài thơ La mort du pélican của nhà thơ Alfred de Muset, dài ơi là dài nhưng ý nghĩa rất hay. Nhờ học với Thầy mà đi thi Tú tài 2 năm đó tôi được 17,5/20 điểm môn Pháp văn. Trong vai trò Giáo sư hướng dẫn, Thầy đã lo chu toàn cho mọi học sinh lớp, suốt năm học lớp không có vấn đề gì. Thầy rất bảo vệ và xây dựng tinh thần Petrus Ký.Thầy tham gia một cách tích cực các hoạt động hiệu đoàn, sinh hoạt học sinh… Tôi còn giữ một tấm ảnh của Thầy chụp khi dẫn học sinh thăm đơn vị quân đội vào dịp Tết. Những bạn học năm học 1971 – 1972 chắc nhớ sự kiện “chiến tranh” với trường trung học Chu Văn An dẫn đến việc chúng ta được nghỉ học một tuần lễ. Lúc đó chắc Thầy không biết lớp Thầy hướng dẫn có 3 đứa cùng tham gia chăm ngòi cuộc “chiến tranh” này. Đó là Trương Thành Mỹ (hiện ở Canada), Ngô Văn Phượng (hiện ở Mỹ) và tôi. Hôm đó đang học thì tụi bạn “Trời đánh” rủ rê: Mấy đứa thi đấu trên sân Cộng Hòa bị Chu Văn An ăn hiếp, mình lên ủng hộ tụi nó đi. Thế là ba đứa tôi cùng cả chục bạn khác chạy lên sân Cộng Hòa. Trên đường đi gần sân Cộng Hòa thì gặp một bạn mang phù hiệu Chu Văn An xui xẻo. Lập tức bạn này bị “hội đồng”. Cả bọn hí hửng vào sân Cộng Hòa phía đường Tân Phước, xe cộ dựng ngổn ngang ở ngoài. Vừa leo lên khán đài C nhìn xuống sân thì thấy một đoàn người đang chạy rần rần về phía chúng tôi. Rồi một trận mưa đá bay ào ào lên khán đài. Anh Liêm, tôi không nhớ lớp nào, trúng đá vào đầu máu chảy ướt cả áo. Cả bọn rút vào phòng mà phía trên có đồng hồ, bảng tỉ số cố thủ. Tôi nghe nói lúc đó nhờ bạn Phạm Bá Long Ẩn, hiện ở Úc, gọi điện thoại cho Ba bạn ấy bên Quân Cảnh nhờ giải vây cho bọn tôi. Kết quả chiếc xe honda dame của anh Phượng bị đốt cháy thê thảm. Đúng là trẻ con, làm mà không cần biết hậu quả là gì! Chắc lúc đó Thầy cùng Ban giám đốc bù đầu lo giải quyết. Sau này tôi nghe Bác Nguyễn Đậu, tài xế của trường, kể lại về trận chung kết giữa hai trường năm đó, tôi không nhớ là môn gì. Sau khi đội lên xe thì đại diện của Bộ Giáo dục mới cho biết địa điểm thi đấu. Hai đội đấu mà không có khán giả. Sau một tuần nghỉ học, thêm sự trung gian hòa giải của các bạn Ban đại diện Gia Long thì mọi chuyện cũng yên ổn.

Sau năm lớp 12, tôi vào ban Toán Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1976, tôi tốt nghiệp và được phân về dạy trường Chu Văn An! Đúng là éo le! Đây là ngôi trường mà tôi gắn bó những năm đầu tiên của nghề giáo. Đây cũng là nơi mà tôi có những bạn đồng nghiệp yêu quí, những học trò thân yêu vẫn liên lạc với nhau đến tận bây giờ. Năm 1978, trường Chu Văn An bị giải thể. Thầy Cô, học sinh phân về ba trường: Hùng Vương, Trần Khai Nguyên và trường mình. Tôi gặp may mắn được phân về trường mình. Ôi sung sướng biết bao nhiêu! Tôi được gặp lại nhiều Thầy Cô đã dạy mình: Thầy Trần Thành Minh, Cam Duy Lễ, Trần Văn Thưởng môn Toán, Thầy Nguyễn Văn Lộc môn Lý Hóa, Thầy Bùi Trọng Chương môn Công Dân, Thầy Đinh Văn Vĩnh, Cô Trần Thị Ngọc Dung môn Quốc Văn, Cô Phan Ngọc Loan môn Pháp Văn và Thầy Phạm Xuân Ái cùng nhiều Thầy Cô khác. Tôi có dịp thưa chuyện cùng Thầy. Thầy hay kể lại chuyện đi dạy thời xưa. Thầy bảo: Đi dạy lúc đó nhiều tiền lắm. Mỗi tuần cả nhà đều đi nhà hàng. Các Thầy đều mua xe hơi. Nghe thấy mà ham trong lúc nghèo đói ăn không đủ no. Thầy cũng giải thich vì sao chữ Petrus không có dấu sắc. Tôi cũng hân hạnh được ngồi uống
cà phê với các Thầy ở quán đường Lý Thái Tổ. Thầy Trần Thành Minh, Thầy Huỳnh Thanh Nghiêm hay ghẹo bà chủ quán là “bồ” của Thầy. Gian nan, khổ cực rồi các Thầy Cô cũng đi định cư: Thầy Chương, Thưởng, Vĩnh, Cô Loan, Dung … đi Mỹ. Riêng nhà Thầy thì đi Pháp. Thầy trò lại xa cách nhau.

Năm 2003, tôi dẫn đoàn học sinh đi thăm Pháp. Trước khi đi, Thầy Trần Thành Minh có đưa số điện thoại của Thầy và bảo qua đó liên lạc. Lúc đó còn khó khăn nên không gọi trước cho Thầy từ Việt Nam mà đến nơi mới gọi thăm Thầy. Sáng chủ nhựt, khi các em đi chơi tôi ở phòng trọ thì thầy đến. Ôi sung sướng biết bao nhiêu vì cả chục năm mới gặp lại Thầy. Thầy vẫn như xưa: ung dung, tự tại. Thầy dẫn tôi đi thăm Paris. Qua Pháp, Thầy làm việc trong trường học nên về hưu có lương hưu, đi xe bus không tốn tiền. Thầy không cho tôi trả tiền gì cả: tiền xe, tiền ăn, tham quan… Thầy bảo: Thầy nhiều tiền lắm, tiền lương hưu, tiền mấy người con gửi hằng tháng, xài không hết, em đừng lo. Ôi tấm lòng yêu quý của Thầy. Hôm đoàn về Việt Nam, Thầy ra tận phi trường để tiễn. Thầy bảo: phải chi tôi còn đứa con nào ở Việt Nam để lâu lâu về chơi, gặp bạn bè. Thầy đưa bốn chai rượu chát ngon bảo đem về cho các Thầy Trần Thành Minh, Cam Duy Lễ, Huỳnh Thanh Nghiêm và tôi. Chèn ơi hành lý chật cứng cũng phải tìm cách nhét vào. Đúng là Thầy lịch sự như Tây. Năm 2005 tôi lại có dịp qua Pháp. Lần này có chút kinh nghiệm nên theo hướng dẫn của Thầy, tôi đi metro, xe bus đến nhà Thầy ở Antony, Paris. Thầy ở trong một căn hộ, gần đó có quán ăn xã hội nên nếu lười nấu nướng có thể qua đó ăn trưa, tối. Đến nơi thăm hỏi Thầy Cô xong thì Thầy lại lôi đi lòng vòng phố xá Paris. Hai Thầy trò, một già một trẻ, hăng hái đi khắp nơi không biết mệt. Thầy hỏi thăm cặn kẻ về cuộc sống của những bạn bè còn ở lại Việt Nam. Khi trở về Việt Nam, cũng như lần trước, Thầy lại gửi quà cho các Thầy. Lần này đã chuẩn bị nên không có gì trở ngại.

Đó là lần cuối tôi gặp trực tiếp Thầy. Sau đó tôi chưa có dịp trở lại Pháp. Thầy không dùng email, không dùng điện thoại di động nên rất khó liên lạc với Thầy. May mắn tôi có người bạn ở Paris nên lâu lâu nhờ gọi điện thoại bàn hay đến thăm Thầy.

Thế rồi quy luật muôn đời cũng đến! Ngày 26/10/2022 nghe tin Thầy mất! Lại một người Thầy vô cùng yêu quý, một người Thầy muôn vàn thân thương ra đi.Thế là không còn dịp tâm sự, trò chuyện cùng Thầy, không còn dịp lang thang cùng Thầy trên phố phường Paris, không còn dịp bịn rịn chia tay Thầy. Các Thầy Cô dạy lớp 12 còn lại không đủ đếm hết bàn tay! Chỉ còn Thầy Phan Lưu Biên (Toán), Thầy Lê Văn Khiết (Lý hóa), Thầy Dương Ngọc Sum (Sử địa), Thầy Liêng Khắc Văn (Anh văn) mà thôi!

Hôm nay viết những dòng này để tưởng nhớ đến Thầy, người Thầy tận tâm giảng dạy, vị giáo sư hướng dẫn hết lòng vì học trò, một vị giáo sư toàn tâm toàn ý với nhà trường.

Giờ đây tất cả chỉ còn là hoài niệm!