PHIẾM VỀ CA DAO TỤC NGỮ MIỀN NAM 

Bác sĩ Phan Giang Sang

(trích TUYỂN TẬP PHAN GIANG SANG I – Y HỌC & ÐỜI SỐNG)

Phiem ve ca dao 01

Nói tới ca dao, người ta nghĩ tới một thứ văn chương bình dân ngày xưa ngày xửa. Thứ văn chương của người có đẳng cấp thấp hèn trong xã hội. Thứ văn chương quê mùa của người chân lấm, tay bùn. Người ta hay chê bai nó, coi nó như một thứ văn chương của ‘Bình dân học vụ’. Người nào thường dùng nó, như hạng người mà:

‘Chữ nghĩa không đầy lá mít’

Thật ra ca dao là thứ văn thơ truyền khẩu, từ đời nầy sang đời khác, thế hệ nầy sang thế hệ khác, của quảng đại quần chúng Việt Nam. Ðương nhiên là phải có người đặt ra lúc ban đầu, nhưng vì mãi luân lưu truyền miệng, qua nhiều người rồi quên luôn tên tác giả. Nó kết tụ từ nhiều năm, nhiều thế hệ, qua nhiều kinh nghiệm sống thực, bằng xương, bằng máu trong đời sống của dân gian.

Họ làm ra các câu ca dao bằng loại văn thơ giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ, lại hàm nhiều ý nghĩa chỉ dạy hay chế diễu, để người nghe tự sửa sai.

Ca dao không có mỹ từ, không có điển tích cao siêu khó hiểu. Nó mộc mạc như tính tình người nhà quê chất phác. Người nhà quê thường hay nói thẳng không quanh co dài dòng mắc mỏ, không bắt phải suy nghĩ.

Ca dao xuất phát từ tấm lòng chân thật của người nông phu hiền hoà, sống an nhàn trên cánh đồng lúa bao la bát ngát.

Ca dao Miền Nam nhẹ nhàng tươi mát, nó êm ả nên thơ như cánh đồng bao la, xanh tươi lũ lượt chạy tới chân trời, góc biển. Sở dĩ nó có đặc tánh đó, vì người làm ra nó sống trong sự thanh nhàn, trong sự thanh tú của cảnh vật. Họ sống đời sống sung túc, không bon chen, không vất vả đấu tranh với cuộc sống hằng ngày. Họ không ham danh lợi. Bởi vì đất phù sa mầu mỡ của đồng bằng sông Cửu Long, với tôm cá đầy sông rạch và lúa thóc đầy đồng. Cho nên con người cũng biến thái hiền hòa, mộc mạc, chất phác. Phong tục, tập quán và văn chương chữ nghĩa cũng hài hòa dễ chịu hơn.

Nó còn có đặc điểm nữa là không tôn vinh vua chúa. Tại sao? Bởi vì người dân Nam bộ chỉ có chừng bốn thế kỷ lịch sử thôi. Có thể, họ là những người đi khai khẩn đất vùng Thủy Chân Lập. Trên đường Nam tiến khai khẩn đất hoang, dần dần họ lấn chiếm đất của người Miên để sinh sống, nay là Nam Kỳ. Vì họ đi đến đâu thì người Miên rút bỏ, dời đi chỗ khác.

Họ cũng có thể là người ly khai với triều đình. Họ chán ghét thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, họ bỏ vào Nam sinh sống như hồi đầu thế kỷ mười bảy. Chính vì vậy mà họ không muốn nói tới, không nghĩ tới việc ca tụng các vua chúa. Mà họ cũng có thể là người Trung Hoa thuộc nhà Minh vì không phục tùng nhà Thanh nên một số quan quân như: Dương Ngạn Ðịch và Trần Thượng Xuyên đem theo 3.000 quân và 50 chiến thuyền xin tùng phục chúa Nguyễn năm 1679. Chúa Hiền chỉ định họ vào Biên Hòa khai khẩn. Lâu ngày họ đồng hóa với chúng ta, vì vậy mới có biệt danh là Minh hương? Người Trung vào Nam bằng ghe bầu, nên được gọi là người bầu.

Mạc Cửu chiếm đất Miên, sau bị khuấy phá nên đem dưng đất Hà Tiên cho chúa để được sống yên ổn vào năm 1708, và được phong làm Tổng binh.

Trên đường Nam tiến đó thế nào cũng có các bậc nho sĩ, văn nhân ẩn cư vào. Vì vậy mới có những câu ca dao na ná như những câu ngoài Trung, ngoài Bắc. Ðôi khi họ cũng nhớ tới kinh thành, cố đô, cho nên mới có câu:

  ‘Ai về Bắc ta theo với,

  Thăm lại non sông giống Lạc Hồng.

  Từ độ mang lương đi mở cõi,

  Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.’

Cũng vì sống trong sự an nhàn, sung túc ấm no do thiên nhiên ưu đải, nên họ không cần lợi danh, phẩm trật vua ban. Họ chỉ học qua các cụ đồ nho ẩn sĩ mà thôi. Cũng vì vậy mà họ không thi cử, để kiếm chút danh lợi, nhờ ơn mưa móc của triều đình.

Nhưng từ khi toàn bộ Miền Nam được Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt làm Phủ Gia Ðịnh năm 1698, rồi sau Vua Minh Mạng chia làm Nam Kỳ Lục Tỉnh năm 1832. Từ đó mới có trường thi ở Gia Ðịnh. Người sĩ tử đầu tiên Miền Nam là Cụ Phan Thanh Giản (1796-1867). Ông đỗ Cử nhân ở Gia Ðịnh năm 1825, năm sau 1826 Tiến sĩ tại Triều đình Huế. Sau đó có rất nhiều danh tài khác như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Ðình Chiểu, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, vân vân. Cho nên có câu nầy:

‘Vĩnh Long có cặp rồng vàng,

Nhứt Bùi Hữu Nghĩa, nhì Phan Tuấn Trần’.

Tục ngữ cũng là một kho tàng quí giá để ta học hỏi vì nó kết tụ những thành quả hiểu biết về kiến thức, về nhân sinh quan, về vũ trụ của ông cha ta từ ngàn xưa, lưu truyền từ thế hệ nầy sang thế hệ khác. Nó là trường dạy khôn ngoan, cách xử thế ngoài đời.

Nó gần như triết lý dân tộc, đạo lý, lẽ sống theo Trời đất lại thuận lòng người mà không thua thiệt, được mọi người ưa và quí mến. Nó mang tánh chất tâm lý dạy khôn khéo ở đời, không cần phải học cao, hiểu rộng mới thấu triệt. Nó là linh hồn của dân tộc.

Cụ Dương Quảng Hàm đã viết trong Việt Nam Văn học Sử yếu (trang 6) như sau: ‘Các câu tục ngữ là do những điều kinh nghiệm của cổ nhân chung đúc lại, nhờ đó mà người dân vô học cũng có một trí thức thông thường, để làm ăn và cư xử ở đời’

Ca dao thường có hai phần: Phần trên thường không có ý nghĩa, nhưng phần sau mới chứa đựng ý chánh rất thâm để mỉa mai chế nhạo một việc gì. Chính vì vậy, người ta thường dùng câu trên và quên câu dưới. Cũng vì vậy lâu ngày chầy tháng người ta quên luôn câu dưới. Rồi từ từ nó mất luôn.

 Như ông lão nọ 70 tuổi, về Việt Nam cưới cô vợ bé tí hon bằng cháu ngoại hay cháu nội, rồi khoe khoang với bạn bè như ta đây còn gân:

“Càng già càng dẻo càng dai,

Càng lệch chân chõng, càng sai chân giường’.

“Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm”

…Nhưng đừng quên:

“Bảy mươi có của cũng vừa mười lăm,

Ðêm nằm cô ngáy, ông nằm ông ho!”

hay:

Tiếc thay con gái mười ba,

Liều thân mà lấy ông già sao đang!

Chưa chắc gì cô nàng thật lòng, hết dạ cùng ông lão. Có câu chuyện như ông lão tỷ phú ở Tây Úc (WA), xây tổ uyên ương, không phải bằng túp lều tranh với hai quả tim vàng, mà cũng không phải xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân, mà lại xây ‘Prix d’amour’ chỉ có 22 triệu thôi. Sau khi ông vừa chết, là cô nàng sang thuyền khác:

‘Trời mưa nước chảy qua sân,

Em lấy ông lão qua lần mà thôi.

Bao giờ ông lão chầu Trời,

Thì em lại lấy một người trai tơ’.

Phải chi nhà tỷ phú nầy mà biết chút văn hóa và ca dao ta, thì ông hoàn toàn thấu triệt được cái nghĩa lý thâm sâu của nó, thì ông ta đâu ra nông nổi phải chết trắng tay như thế nầy!

Riêng về phụ nữ cũng vậy:

‘Ro re nước chảy dưới đèo,

Bà già lật đật mua heo cưới chồng.

Cưới về chồng bỏ chồng dong,

Bà già mới tiếc ba mươi đồng mua heo’.

 

1/- VỀ ÐỒNG ÁNG

Việt Nam là nước nông nghiệp, hầu hết dân chúng sống về nghề cày bừa ở nông thôn, cho nên ca dao cũng đượm mùi vườn ruộng. Chính vì vậy mà ca dao dùng để ru con, để nhắc nhở nhà nông trong việc đồng áng, thời tiết, cây trái hoa quả, vì nước ta là nước nông nghiệp.  Chính vì vậy mà ruộng vườn cây trái được nói tới trong mỗi câu chuyện, vì đời sống của họ đã gắn liền với mảnh vườn, ruộng lúa, lũy tre, dòng sông, con lạch vân vân…

‘Gió đưa gió đẩy về rẩy ăn còng,

Về bưng ăn cá, về đồng ăn cua.’

Nhưng ca dao đã được truyền tụng từ đời nầy sang đời khác qua miệng chớ không được ghi chép thành sách. Nó thường hay khuyên dạy người đời về việc gì đó.

Thời tiết:

– ‘Chuồn chuồn bay thấp trời mưa,

   Bay cao trời nắng đập dừa em ăn.’

–  ‘Móng dài thì nắng,

    Móng vắn thì mưa’

–  ‘Tháng năm chưa nằm thì sáng,

    Tháng mười chưa cười đã tối’.

Ở xứ down under nầy, mọi việc đều thay đổi cả. Càn khôn bị đảo ngược, không tin thì cứ hỏi thầy ba Bình Ðịnh thử (thầy bói, phong thủy nổi danh ở Cabramatta). Ở Việt Nam lấy sao Bắc đẩu làm kim chỉ nam khi bị lạc trong rừng, còn ở xứ Kangaroo nầy thì phải tìm cho ra sao Nam tào, mà lần mò về nhà. Chính vì vậy, thời tiết cũng thay đổi luôn. Câu ‘Tháng năm và tháng mười’ ở trên, phải sửa lại cho đúng là:

‘Tháng năm chưa cười thì tối

Tháng mười chưa nằm thì sáng’

Còn muốn xem thiên văn thì:

‘Ðêm khuya thức dậy xem trời,

Thấy sao bên Bắc đổi dời qua Nam.’

Cóc cũng được kính trọng như câu:

‘Con cóc là cậu ông Trời

Ai mà phá nó ông Trời đánh cho’

Trời đánh là sấm sét, do thiên lôi cầm búa giáng trần, trừng phạt kẻ có tội. Cóc là cậu ông Trời, vì có sai khiến cả trời nữa:

1. Hễ cóc kêu hay nghiến răng thì có trời mưa.  Cóc có giác quan thứ sáu, cảm nhận được sự thay đổi thời tiết. Nên cóc kêu là báo hiệu trời sắp mưa.

“Cóc kêu trời mưa, cóc cưa trời nắng”

2. Cóc đực kêu là để báo hiệu cho cóc cái biết chỗ ở của nó, mà đến để giao tình, đẻ trứng xuống vũng nước, để duy trì nòi giống.

3. Mưa xuống đồng ruộng ngập nước mới cày bừa, cấy mạ. Mạ mới lên tươi tốt khỏi tát nước vân vân…

4. Sở dĩ cóc được kính trọng như vậy, vì nó giúp nhà nông trong việc đồng áng, vì nó ăn sâu bọ thường phá hại mùa màng. Ngày xưa ta không có thuốc rầy diệt sâu như ngày nay, do đó muốn bảo vệ mùa màng, thì phải bảo vệ con cóc. Chính vì vậy, họ chế câu nầy, vừa nhắc nhở, vừa cám ơn là phải kính trọng con cóc.

Chuyện gì cũng lấy cây trái, con tôm, con cá vân vân …ra mà nói. Tình nghèo nó đậm đà, nó nồng nàn làm sao đó quý vị, như:

‘Ðầu tôm nấu với ruột bầu,

Chồng chan, vợ húp gật đầu khen ngon’.

Ðầu tôm và ruột bầu là phần bỏ đi, thế mà ăn ngon miệng thì mới thấy tình nghèo nó chân thật, đậm đà vô cùng. Mối tình thanh cao tao nhã ở chỗ chẳng có gì cho nhau ngoài bát canh tươi. Tình yêu như vậy mới đáng quí, mới là túp lều tranh với quả tim vàng!

hay:

 – ‘Anh đi anh nhớ quê nhà,

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương’.

– ‘Mẹ mong gả thiếp về vườn,

Ăn bông bí luộc dưa hường nấu canh’.

hay:

‘Chiều chiều chim vịt kêu chiều,

Bâng khuâng nhớ bạn, chín chiều ruột đau.

Chiều chiều chim vịt kêu chiều,

 Nhớ người áo trắng khăn điều vắt vai’.

Cho đến lấy vợ lẻ, vợ mọn, ông bà ta cũng khuyên dạy kẻ hoang đàng nầy, xử sao cho êm nhà êm cửa.

‘Trồng trầu thì phải khai mương,

Làm trai hai vợ phải thương cho đồng’.

 

2/- Về VĂN CHƯƠNG

Người ta cho ca dao không có văn chương nghĩa lý. Thật ra nó không đến đỗi khô khan, thô sơ, thiển cận như người ta tưởng. Nhiều khi nó có cả hào khí anh hùng và đượm chút ít triết lý.

Ðêm khuya, mưa rơi tầm tã mà nghe người cô phụ ru con như vầy:

Ầu ơ…’Gió đưa bụi chuối sau hè,

Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ.

Con thơ tay ẵm tay bồng,

Tay nào xách nước, tay nào vo cơm’.   ầu…ơ’

Nghe sao nó buồn não nuột. Bởi vì chỉ có hai câu mà diễn tả thật đầy đủ, linh động cảnh vật và sự lam lũ cơ hàn của người phụ nữ bị bỏ rơi cô đơn bị bó tay, bó chân với con trẻ. Tuy cơ cực nhưng không oán, không nguyền rủa, mà ở vậy nuôi con, chờ chồng ngày nào đó ăn năn trở về với vợ yếu, con thơ.

Ngược lại, hãy lắng nghe anh chàng đang đau khổ cảnh gà trống nuôi con:

‘Con tôi buồn ngủ buồn nghê,

Ai cho bú thép mang ơn hằng ngày’.

Ðâu đâu ta cũng nghe đứa bé khoe cha nó:

‘Con cò nó mổ con lươn,

Bớ chị ghe lườn muốn tiá tôi không?

Tía tôi lịch sự lịch sàng,

Cái răng tấm thớt, cái đầu chôm bôm.

Còn thì tả cảnh đồng quê rất tài tình:

‘Ngó lên đám bắp trổ cờ,

Ðám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông’.

Chỉ có một câu, mà phát họa nên một bức tranh đồng áng tuyệt mỹ:

‘Chiều chiều vịt lội cò bay,

Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng.

Vô rừng bứt một sợi mây,

Ðem về thắt gióng cho nàng đi buôn.

Ði buôn đi bán biết lời biết lỗ, vân vân…

Cảnh nầy hết sức linh động và đầy mạch lạc. Cảnh vừa đẹp, vừa hay mà còn đượm mùi triết lý thanh cao không gì làm ô uế được như:

‘Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.

Nhụy vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’

Ca dao cũng nói lên lòng vị tha, lòng nhân từ bác ái, từ bi cứu giúp người hoạn nạn, hỷ xả thương yêu nòi giống:

–  ‘Lá lành đùm lá rách’

–  ‘Bầu ơi thương lấy bí cùng

   Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’

–  ‘Nhiểu điều phủ lấy giá gương,

   Người trong một nước phải thương nhau cùng’.

Lòng thương yêu kẻ khác, giúp đỡ họ và tha thứ họ:

 ‘Ðấng trượng phu, đừng thù mới đáng,

   Ðấng anh hùng, đừng oán mới hay’

Thù oán vay trả, trả vay biết tới chừng nào mới dứt? Tốt nhứt là đừng hờn oán ai cả. Thôi thì mọi việc phú cho Trời.

 

3/- Về TU THÂN TÍCH ÐỨC

a- Nghèo:  Nghèo nhưng phải giữ phẩm giá, đừng làm bậy hư danh tổ tông.

– ‘Nghèo cho sạch, rách cho thơm’

– ‘Giấy rách phải giữ lấy lề’

 – ‘Tốt danh hơn lành áo’

–  ‘Miếng ăn là miếng tồi tàn

   Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.’

Giàu ở đâu cũng có người tới thăm:

‘Nghèo ngồi giữa chợ không ai hỏi,

   Giàu ở non xanh, có kẻ tìm.’

hay

“Giàu sang nhiều kẻ tới nhà,

   Khó khăn nên nỗi ruột già xa nhau.”

 – ‘Giàu thì kẻ tới người lui

   Khó thì dột nóc, gẫy rui ai nhìn’

b- Cần lao và Phòng thân:

Làm việc để sinh sống và sống đời sống thanh đạm không bon chen lợi danh, không làm những điều xằng bậy.

– ‘Có khó mới có mà ăn,

   Không dưng ai dễ mang phần tới cho’

–  ‘Có vất vả mới thanh nhàn,

   Không dưng ai dễ cầm tàng che cho’.

Người ta nói ‘thuận vợ thuận chồng, tát biển đông cũng cạn’. Ở đây cả một nhà đồng lòng, sum hợp chăm lo làm ăn sinh sống, nó đầm ấm vui vầy và ăn nhịp với nhau thật đáng phục:

‘Cha chài, mẹ lưới, con câu,

   Chàng rể đóng đáy, con dâu ngồi nò’.

Làm việc để sinh sống mà cũng lo hậu thân, nhưng cũng phải sống cho ra kiếp người, chớ đừng bo bo chết cũng không còn gì hết. Chết rồi cũng chỉ có hai bàn tay trắng không nắm được chi cả:

‘Mỗi năm mỗi tuổi mỗi già,

   Chẳng lo liệu trước ắt là lụy thân’.

Ðời người ngắn ngủi, làm hoài chết sớm uổng lắm:

‘Work hard die young’

– ‘Ðời người sống mấy gang tay,

   Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm’.

– ‘Chơi xuân kẻo hết xuân đi

   Cái già sồng sộc nó thì theo sau’

hay:

‘Xuân bất tái lai’ … là vậy.

Ðể khuyên mọi người nên tu thân tích đức:

‘Có đức, không sức mà ăn’

Ðức hạnh trong lòng chớ không phải kinh kệ phô trương bên ngoài:

‘Ngoài miệng thì tụng Nam mô,

Trong bụng lại chứa một bồ dao găm!’

Dầu có tài cũng không nên phách lối khoe khoang biết đâu có người còn giỏi hơn mình:

‘Ðèn khoe đèn tỏ hơn trăng,

Ðèn ra trước gió được chăng hởi đèn?

Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,

Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?

  c- Lo cho con ăn học:

Miền Nam là đất mới phì nhiêu, dân chúng sống sung túc không ham công danh, hơn nữa vì xa triều đình nên ít người chọn khoa cử. Lúc Nguyễn Ánh bôn tẩu đó đây, miền Hậu giang chỉ có một số sĩ phu và nghĩa quân theo phò tá, chớ không phải sĩ tử của triều đình. Về sau mới có sĩ tử như cụ Phan Thanh Giản ứng thí.

Việc nầy giống như dân nông thôn Úc, con cái chủ đồn điền hay nông trại không chịu học, vì có học hay không chúng cũng lái xe Mercèdes như thường.

 Bảy mươi mấy năm về trước, ba của thầy giáo của tôi cho ông đi học thế cho con điền chủ ở Cao Lãnh bị Tây bắt đi học, nhờ đó mà ông mới nên danh phận.

Thời xưa, người ta chê bai người có học:

‘Chị em ai nấy,

Ðừng lấy học trò,

Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.’

 Bởi vì người ta vác giạ vay lúa, chớ không ai vác giạ vay chữ. Trường hợp nầy giống y như cụ Tú Xương nhà ta. Cụ có gia đình mà không làm ăn, cứ làm thơ ngạo đời, mà còn sanh chuyện nọ kia, vân vân.

Những người như cụ thì bị chế diễu:

‘Lỡ quan, lỡ lính, lỡ làng,

Lỡ bề dân giả, lỡ hàng công danh’.

Làm quan mà tham ô, bắt nạt dân khi mất chức:

‘Nào khi lên võng xuống du,ø

Kêu dân dân dạ, bây giờ dạ dân’.

Nhiều cô binh học trò, họ cho nghèo mà có học, thì cũng được hơn người:

‘Nghèo mà hay chữ thì hơn,

Giàu mà có chữ như sơn thếp vàng.

Họ mong được người chồng có chữ nghĩa:

‘Dốc một lòng lấy chồng hay chữ,

Ðể ra vào kinh sử mà nghe’.

Lấy chồng có chữ để nhờ tấm thân. Lấy chồng dốt chỉ khổ thân thôi:

– ‘Dốc một lòng lấy chồng dốt nát,

   Ðể ra vào rửa bát nấu cơm’.

– ‘Tiếc đứa con gái khôn lấy thằng chồng dại,

   Cũng như bông hoa lài cắm bãi cứt trâu.

-‘Hoa lài cắm bãi cứt trâu,

   Người khôn ở với kẻ ngu bực mình’.

Nhiều người líu lo, ríu rít, thắc mắc tìm hiểu cho con trẻ ăn uống làm sao cho nó học giỏi. Họ quên đi các câu tầm thường trong ca dao tục ngữ về cái giá trị ‘ ăn học’:

‘Ăn vóc học hay’

Bởi vì:

‘Có thực mới vực được đạo’

Ăn học rất là quan trọng. Ăn uống đầy đủ mới sáng suốt học hành, mới lãnh hội được và thành công được.

Còn ăn uống thiếu thốn, đường lượng trong máu thấp, tâm thần lu mờ, xỉu tới xỉu lui, học hành không vô, nghe lỗ tai bên nầy, chạy ra lỗ tai bên kia. Học hoài không nhớ, trả chữ lại thầy.

‘Ăn chưa no, lo chưa tới’

Hoạt động chân tay hay làm việc bằng tinh thần, tâm trí như suy nghĩ, cần nhiều năng lượng. Muốn có năng lượng trong cơ thể, cần phải có chất đường.

– ‘Ðói ăn rau, đau uống thuốc.

– ‘Ngừa bịnh hơn là trị bịnh’

“Cơm ba bát, áo ba manh,

Ðói chẳng xanh, rét chẳng chết”.

  d- Dạy con:

Muốn uốn nắn con cái, dạy dỗ trẻ con cái phải khởi sự từ tấm bé, lúc còn thơ ấu, chớ đợi đến lớn mới dạy thì đã muộn rồi. Nhà chơi Bonsai phải khởi sự uốn cây từ lúc còn nhỏ, gọi là starter chớ đợi tới nó to lớn, thì không có cách uốn nắn được mà còn gẫy cành nữa.

  Cho nên:

‘Uốn cây từ thuở còn non.

Dạy con từ thuở hãy còn thơ ngây’.

  hay

‘Dạy con, dạy thuở còn thơ,

Dạy vợ từ thuở ban sơ mới về’.

Con cái phải biết vâng lời cha mẹ:

– ‘Cá không ăn muối cá ươn,

   Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.’

Dạy con gái:

– ‘Con gái có hai bến sông,

   Bến đục thì chịu, bến trong thì nhờ.’

– ‘Trăm năm trăm tuổi may rủi một chồng,

   Dầu ai thêu phụng, vẽ rồng mặc ai.’

– ‘Giàu vì bạn, sang vì vợ’

Ráng giữ gìn, khuyên nhủ sao cho con cái lo cái ăn, cái học.

Nhớ ông bà ta ngày xưa hay cúng vái: ‘Vái 12 đức thầy, 13 mụ bà, về phù hộ cho con tôi được ăn chơi. Chữ ‘ăn chơi’ ở đây có nghĩa là mạnh khỏe, ăn nhiều chóng lớn chứ không phải là chơi bời lêu lỏng.

Câu nầy phải đổi lại như vầy: Vái 12 đức thầy, 13 mụ bà về phù hộ cho con tôi mạnh khỏe, học giỏi, lớn khôn nên người.

Chớ ăn chơi, vì nữa lớn nó ăn chơi, đua đòi theo lối sống văn minh suy đồi thì nguy đấy!  Nguy mà không rầy la được vì mắc phải lời nguyện cầu ngày trước.

Ngày xưa khi đem con mới sanh về nhà, người ta thường dán hình ‘Ông cọp’ ở trên đầu cửa phòng. Họ lấy cây nhang đốt chỗ con mắt gọi là ‘Khai quang điểm nhãn’ để cầu mong con hay cháu thông minh sáng suốt.

 Phiem ve ca dao 02

Ảnh trong ‘Ca dao tục ngữ’ Bs Ng Xuân Quang

 

Móc miếng: 

Khi ăn đầy tháng, người ta móc miếng bằng cách lấy bông cho đẹp (thường thường người ta dùng bông vạn thọ), rửa sạch, rửa tay sạch móc miệng em bé. Ông hay bà, cha hay mẹ hoặc người nào đó có ăn học hay tài năng phải khấn vái:

‘Hôm nay tôi…(để tên người khấn vái vô)…móc miếng cho…(tên em bé)…bằng bông bằng hoa để lớn lên, ăn nói sao cho:  ‘Trên thì quan ưa, dưới thì dân chuộng’, hay nói tắt: ‘Quan ưa dân chuộng’

Trong việc dạy con nhiều khi phong kiến, lễ giáo và tập tục quá khắt khe, sợ cái nầy, sợ cái nọ, không dám để con trẻ đi đây đi đó lập nghiệp vân vân… như:

– ‘Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc,

   Dốc nào thấp bằng dốc Nam Vang’.

– ‘Nam Vang đi dễ khó về,

   Trai đi có vợ, gái về có con’.

– ‘Ðèn nào cao bằng đèn Châu Ðốc,

   Gió nào độc bằng gió Gò Công’.

Gò Công có gió độc, vì nó gần rừng sát, nguy hiểm có nhiều muỗi gây bịnh sốt rét.

Bạc Liêu không những giàu nhờ đồng ruộâng, cò bay thẳng    cánh, mà còn giàu nhờ ruộng muối. Trái cây thơm ngon nhưng nhỏ trái, nhãn Bạc Liêu. Giàu sang quá nên xài sang, nổi tiếng nhứt là công tử Bạc Liêu.

– ‘Bạc Liêu nước chảy lờ đờ,

    Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu’.

–  ‘Bạc Liêu ăn cá bỏ đầu,

     Sàigòn lượm lấy, xỏ xâu đem về.

     Thất Sơn bảy núi nằm kề,

     Lúc đi thì trắng lúc về thì đen.’

Cá nhiều quá ăn không hết nên chặt đầu bỏ. Người ta tiếc lượm, đem ngăm muối làm cá mặn, để dành ăn từ từ.

Xưa kia, ca hát bị coi như quốc cấm:

– ‘Ví dầu cá bống xích đu,

   Tôm càng hát bội, cá thu cầm chầu.’

– ‘Má ơi đừng đánh con đau,

   Ðể con hát bội làm đào má coi.’

Khi nghe câu nầy, các ông cha bà mẹ kêu trời ngay.  Họ không thích nghiệp cầm ca, vì nó không được trọng dụng và được tôn trọng trong xã hội phong kiến, Khổng giáo và Nho giáo cho là:

‘Xướng ca vô loại’

(xin xem bài Xướng ca vô loại tr 384)

Họ rất hà khắc về việc nầy. Quý vị coi họ đối xử rất cứng rắn, không dung tha cho con trẻ nào ca hát, đóng tuồng:

‘Trồng trầu mà lộn với tiêu,

Con theo hát bội mẹ liều con hư.’

Người phụ nữ Miền Nam rất hiền hoà, nhưng rất khẳng khái. Dầu sống trong sự kềm kẹp của Khổng giáo, Nho giáo vẫn lấy tứ đức tam tòng làm trọng, mà ta thấy cụ Nguyễn Ðình Chiểu viết sau bốn câu mở đầu quyển Lục Vân Tiên là:

Trai thời trung hiếu làm đầu,

Gái thời tiết hạnh làm câu trao mình’

Nhưng người phụ nữ miền Nam không hẳn rập khuôn cúi đầu chấp nhận cuộc nhân duyên đầy khổ ải, khi cơm không ngon, canh không ngọt. Họ sẽ cho:

‘Ví dầu tình bậu muốn thôi,

Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.

  Nhưng ra để làm gì? Phải coi tiếp:

Bậu ra bậu lấy bông câu,

Bậu câu cá bóng chặt đầu kho tiêu.

Kho tiêu kho mỡ kho hành,

Kho ba lượng thịt để dành má ăn’

Nghĩa là bỏ chồng nhưng không tái giá, mà về nhà phụng dưỡng mẹ già trong cảnh cơ cực, còn hơn là đắng cay lo cho chồng.

Còn nữa:

‘Một mai thiếp có xa chàng,

Ðôi bông thiếp trả đôi vàng thiếp xin’.

Tiếc gì đôi vàng mà xin? Ở đây, lúc thôi chồng, cô nàng trả đôi bông lại là có ý, muốn chàng dùng nó để cưới vợ khác. Riêng nàng giữ đôi vàng là có ý nói mình luôn luôn đeo nó như gái có chồng, sẽ không tái giá.

e/ Kính trọng thầy cô

Phải biết kính trọng thầy cô, là người khai sáng tâm trí ta như cha mẹ ta, cho nên ta phải kính trọng, bởi vì:

‘Có kính thầy mới đặng làm thầy’

  hay

‘Không thầy đố mầy làm nên’

Tới đây tôi nhớ lại khi đi ngang qua Nice ở Pháp, tôi thấy bảng hiệu trường Collège de Carnot, làm tôi tò mò nhìn vào trong cổng trường, thấy tượng một người cỡi ngựa, làm tôi hồi tưởng lại bài học về sự kính trọng thầy ngày xưa:

Ông Henry Carnot khi còn là nguyên thủ quốc gia, lúc đi kinh lý không quên tạt qua trường cũ. Ông ôm chầm lấy thầy cũ:

‘Thầy còn nhớ con không? Con là Carnot đây. Nhờ có thầy dạy dỗ, con mới có ngày hôm nay’.

Cũng nên nhớ là:

Nhứt tự vi sư ‘,  mà

Bán tự cũng vi sư

Dầu dạy một chữ hay nửa chữ cũng là thầy ta.

Ðừng bắt chước bọn quỉ đỏ, đốt bỏ sách vở thánh hiền, đem thầy cô ra đấu tố, đánh cho đến chết trong thời kỳ Cách mạng văn hóa ở Trung Hoa:

‘Diệt Khổng dương Tần’

Bài trừ Khổng giáo, tôn vinh chuyên chính vô sản, để rồi bại hoại xã hội, văn hóa suy đồi. Ngày nay họ phải sửa sai, quay ngược lại:

‘Dương Khổng diệt Tần’

Có ngày rồi cũng đến nước Việt Nam ta.

f/ Lòng hiếu thảo

Con cái hết lòng thương yêu cha mẹ, tưởng nhớ và báo hiếu bằng cách hết lòng phụng dưỡng, đền đáp công ơn dưỡng dục.

– ‘Má ơi đừng đánh con hoài’

   Ðể con kho cá, bầm xoài má ăn’.

– ‘Mẹ già như chuối ba hương,

   Như xôi nếp một, như đường mía lau’.

– ‘Vẳng nghe chim vịt kêu chiều,

   Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

– ‘Thương thay chín chữ cù lao’

  Tam niên nhũ bộ biết bao nhiêu tình.

– ‘Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

   Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương.

– ‘Vô chùa thấy Phật muốn tu,

  Về nhà thấy mẹ công phu chưa đành’

– ‘Tu đâu cho bằng tu nhà

  Thờ cha kính mẹ hơn là đi tu’

Cha mẹ già yếu phải lo phụng dưỡng:

‘Mẹ già ở túp lều tranh,

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con.’

Chớ không phải tệ như thế nầy:

‘Mẹ già ở túp lều tranh

Ðói no chẳng biết, rách lành không hay’

Còn cảnh nào đau lòng xót dạ cho bằng:

‘Ngó lên nhang tắt đèn lờ’

Mẫu thân đâu vắng bàn thờ lạnh tanh!’

Nhiều khi còn bạo hành cha mẹ như câu chuyện dưới đây:

Ðể khuyên con cái phải tôn kính cha mẹ, trong dân gian Miền Nam có câu chuyện anh nuôi gà đá độ. Anh ta cưng gà, chăm sóc rất kỹ lưỡng. Anh vô nghệ, phun rượu, ba bốn giờ sáng phải quần sương, vân vân… Một hôm anh đi vắng, bắt mẹ làm thế. Bà làm không xong, anh ta chửi mắng đánh đập mẹ già, nên bị trời đánh chết tốt.

Hôm 24/01/04, ở Queensland có cầu thủ đá bóng bị sét đánh chết. Không biết anh nầy có bất hiếu hay không mà bị thiên lôi đả?

Khi có con, họ mới biết thương yêu cha mẹ thêm, bởi vì họ hi sinh quá nhiều:

Lên non mới biết non cao,

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ’.

Còn cha còn mẹ mới quí:

Có cha có mẹ thì hơn’

Không cha không mẹ như đờn đứt dây.’

Mất cha mới thấy khổ:

‘Còn cha gót đỏ như son,

Một mai cha thác gót con chôn bùn’.

Mất cha, mất mẹ thì:

‘Con không cha thì níu chân chú,

Con không mẹ thì níu vú dì’.

  g/ Lòng yêu nước

Ðồng Tháp Mười là nơi đồng nước ngập cỏ, dễ lụt lội. Vì đời sống khó khăn nên người ta gọi là bưng biền. Tôi đã từng đóng quân nơi đây, mới biết nỗi khổ của người dân đất Cao Lãnh:

‘Muỗi kêu như sáo thổi

Ðỉa lội tựa bánh canh’.

Nơi đây nổi tiếng rắn với rùa:

‘Cỏ mộc thành tinh

Rắn đồng biết gáy’.

Tuy vậy Cao Lãnh rất nổi tiếng vì nhiều cá:

‘Muốn ăn bông súng cá kho,

Thì vô Ðồng Tháp ăn cho đã thèm’.

Gà chọi cũng rất nỗi tiếng:

‘Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh,

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân’.

còn nữa

‘Anh đi anh nhớ Tháp Mười,

Nhớ xoài Cao Lãnh, nhớ người Nha Mân’.

Như vậy đủ biết xoài Cao Lãnh ngon tới bực nào, và gái Nha Mân đẹp nổi tiếng như thế nào. Không phải Ðồng Tháp, Cao Lãnh nổi tiếng như vậy thôi, mà chính nơi đây đã nổi lên nhiều cuộc kháng chiến chống thực dân ngay từ đầu:

‘Chiều chiều gió giục mây vần,

Nhớ ông Ðốc Tướng Binh Kiều đánh Tây’.

Ngày xưa Thiên Hộ Dương đánh Tây, giết giặc mà không cần súng ống chi cả. Tây vô chỉ có ôm đầu mà chạy rồi sưng mình mẩy chết? Tại sao?

Thì ra khi Tây đi bố ráp Ðồng Tháp Mười, họ mở nắp lu nước tìm nghĩa quân, liền bị ong vò vẽ bay ra đánh túi bụi, làm u đầu, sưng mặt dị ứng mà chết.

‘Tháp Mười đồng ruộng bao la,

Tây vô Ðồng Tháp làm ma không đầu’.

Trong tinh thần kháng Pháp mới nẩy ra câu nầy.

Bốn mươi năm về trước khi vào Ðồng Tháp, có cụ già 75 tuổi chủ tiệm thuốc Bắc cho tôi câu nầy:

‘Ai về Ðồng Tháp mà coi

Con gái Ðồng Tháp cầm roi dạy chồng!

Nghe qua phát sợ! Ðàn bà gì mà hung dữ quá, không sợ ế chồng sao? Xin thử tìm hiểu coi nó ra sao.

Người phụ nữ đầm sen quê mùa chất phác, làm sao dám đánh chồng, để mang tiếng là ‘vũ phụ’ hay sao?

Với tinh thần yêu nước, yêu nòi giống, đàn bà con gái nơi đây khuyên lơn chồng dũng cảm đứng lên:

    • Chống bọn thực dân,
    • Chống cường hào, ác bá,
    • Chống sưu cao thuế nặng.
    • Nhứt là chống loại thuế sỉ nhục của dân ta: ‘thuế thân’. Người dân phải đóng thuế như gia cầm: trâu bò, vân vân…

 Người phụ nữ Miền Nam khuyên chồng:

‘Anh ơi phải lính thì đi,

Cửa nhà đơn chiếc đã thì có em’.

 

4/ Về Bằng hữu

Học trò cũng nên có bạn tâm giao, để cùng chơi và cùng học, hổ trợ lẫn nhau. Kết bạn cũng phải lựa người tốt, có đức hạnh, học giỏi để chơi. Nên chừa người gian trá, lười biếng, làm điều không tốt, ảnh hưởng tới đời sống, việc học và tương lai của mình.

‘Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng’

  Pháp có câu:

‘Dis moi qui tu hantes

Je te dirai qui tu es’

Ngày xưa thầy Mạnh Tử, lúc còn bé nhà ở gần lò heo, chỗ làm thịt heo, nên hay bắt chước giả bộ làm heo. Mẹ thầy thấy vậy lo lắm mới chuyển nhà về chỗ khác để thầy tránh xa cảnh giết lợn. Thế rồi cậu con cưng Mạnh Tử lại không thích học. Bà phải khuyến dụ, răn dạy, bằng cách cắt đứt khung chỉ đang dệt vải. Chỉ đứt không còn dệt được nữa. Thầy Mạnh tử ăn năn hối cải, chăm lo học hành sau trở thành thánh hiền.

Có chí thì nên:

– ‘Ai ơi không chóng thì chầy,

   Gắng công mài sắt có ngày nên kim’.

– ‘Trời nào có phụ việc chi.

   Có làm thì giàu, có chí thì nên’.

–  ‘Dao năng liếc thì sắc’.

Học võ nghệ hay văn chương cũng phải thường xuyên luyện tập: ‘văn ôn, võ luyện’ là vậy.

  Trong sách Quốc văn giáo khoa thư có bài thơ:

‘Ngọc kia chẳng giũa chẳng mài,

Cũng thành vô dụng cũng hoài ngọc đi.

Con người ta có khác gì,

Học hành quí giá, ngu si hư đời’

 

5/- Về Giáo dục

Học trò còn nhỏ phải lo chăm chỉ học hành. Học tới hộc sì dầu, học tới ‘bán cháo phổi’ còn chưa chắc đậu. Ở Úc nầy học ngày, học đêm, nằm la liệt trong thư viện (trên 20 năm trước thư viện các Ðại học mở cửa 24 trên 24 vào mùa thi cử, ở nhà vừa nóng nực, lại vừa ồn ào) còn chưa thấy gì, chớ học chơi chơi, chắc tới tết Congo mới đậu được.

Vậy mà ở Việt Nam, người ta thường nói như vầy thì làm sao mà quý ông thi đậu cho được:

‘Khuyên ai chớ lấy học trò’

Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm!’

Theo thiển ý, nó phải có ngụ cái nghĩa gì đó hay nó còn thiếu câu sau mà ta chưa hề nghe ai nói tới. Phải chăng tam sao thất bổn?

Học hành không lo, lại ham chơi giao du bạn bè, hể ông bà, cha mẹ rầy la thì hờn giận. Không nghe là không đúng, không phải đạo làm con cháu. Thật ra ông bà cha mẹ lúc nào cũng thương yêu con cái, muốn cho chúng tốt trở nên người hữu dụng, học hành tấn tới, rạng danh tổ tông, nở mặt ông bà cha mẹ.

  Chính vì vậy, họ mới răn dạy:

‘Thương cho roi cho vọt,

Ghét cho ngọt cho bùi’.

Pháp có câu:

‘Qui aime bien châtie bien’

Úc có câu:

‘Spare the rod and spoil the child’

Nhưng cũng coi chừng, ở Úc chỉ nên rầy la sơ sơ, khuyên lơn vừa vừa thôi, chớ đừng có nóng giận đánh đập nó, mà bị thiếu nhi bạo hành, child abuse hay domestic violence. Cảnh sát bắt quý vị, đưa ra tòa đấy!

 

6/-Về Tình yêu:

Tình yêu chi phối tâm thần và việc học hành. Nên làm sao cho con trẻ đừng bị ảnh hưởng của thần vệ nữ Venus, hay thần Eros, làm hại lỡ dở công danh.

‘Học trò ba chữ lem nhem,

Thấy gái mà thèm, ba chữ trôi sông’.

Câu nầy áp dụng cho nam sinh mà ngược lại cho nữ sinh nữa. Tình yêu chi phối nên dễ bị phân tâm, dễ trợt vỏ chuối lắm đấy. Học hoài không vô, chữ nghĩa trôi mất hết, đâu còn đầu óc gì mà thi với cử?

Còn học hành xong, sau khi thi đậu ra trường, lúc đó tha hồ tìm bạn trăm năm để chọn đá gởi vàng.

Ngày xưa, nước ta chinh chiến triền miên, nào là chống quân Bắc Trung Hoa, nào là chống thực dân Pháp chiếm nước ta làm thuộc địa, rồi tới thực dân đỏ. Hình ảnh người chiến sĩ rất oai hùng, cho nên:

‘Trai khôn tìm vợ chợ đông,

Gái khôn tìm chồng giữa đám ba quân’.

Nhưng ở Úc không có chiến tranh, nên không thấy lính tráng ngoài đường phố, mà chỉ thấy phú lích thôi. Câu nầy nên sửa lại:

‘Trai khôn tìm vợ chợ đông,

‘Gái khôn tìm chồng giữa đám students’.

Có phải vậy không quý vị?

Trên mười bảy năm trước, mấy ông bạn sinh viên Bs già ta thực tập ở Bịnh viện St Vincent, rủ nhau đi qua pub, ở sau bịnh viện, sau khi nghe kết quả thi. Về nhà bà ‘chị’ hỏi, anh nọ thật thà khai đi Kings Cross uống bia. Bà chị nguýt một cái dài:

– ‘Xúi quẩy!’

Hèn chi anh chẳng trợt vỏ chuối.

Câu chuyện hư thực, xin hỏi Bác sĩ  V.V. Phước thì rõ.

Có cô đầm nọ than: ‘Mầy biết không tới lúc thi, nó học tới không còn biết có tao nằm kế bên’. Thì ra là vậy!

Việc nầy làm tôi liên tưởng tới nàng Châu Long, trong câu chuyện Lưu Bình-Dương Lễ, của sách giáo khoa thư từ mấy chục năm về trước:

‘Sáng trăng trải chiếu hai hàng,

Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ’.

Nhiều cô khôn ngoan, lấy lời dịu ngọt khuyên lơn người yêu, chăm lo học hành chờ khóa thi:

‘Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ’

Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.’

Các cô gái quê thật thà chất phát chỉ khuyên: có thế nào đi nữa họ cũng cam tâm chịu:

‘ Quyết lòng chờ đợi trò thi,

Dầu ba mươi tuổi lỡ thì cũng ưng’.

Lời nói dịu hiền nầy gói ghém tình quê lãng mạn, chung thủy, ngọt ngào, bùi tai quá chừng đi quý vị ơi! Còn nữa:

‘Hai tay bưng quả bánh bò,

Giấu cha, giấu mẹ cho trò đi thi.’

Như vậy câu ‘Khuyên ai…’ còn thiếu đoạn sau, mà mấy ông bà ta đã cố tình bỏ quên, làm lâu ngày nó mất luôn không ai biết tới. Tôi nghĩ phải thêm vô cho nó trọn ý nghĩa:

‘Khuyên ai chớ lấy học tro,ø

Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm.

Ngày ngày cắp sách chạy rong,

Tối về ngồi kế đèn chong một mình!’

 Bởi vậy ca dao tục ngữ nó hay, nó phong phú, nó thâm thúy, nó có ý nghĩa là ở chỗ đó. Càng ngẫm nghĩ, càng thấy nó sâu xa tuyệt vời, đượm tình dân tộc, quê hương mến yêu. Nó là những tác phẩm sống, được truyền tụng trong dân gian. Nó có phần quê mùa chất phác, nhưng nó lại là kho tàng phong tục, văn hóa bình dân nhưng rất quí giá.

Nhạc sĩ Phạm Duy là người tiên phuông trong việc đưa ca dao và âm nhạc, làm âm nhạc đượm mùi dân tộc. Ông là người tài ba lỗi lạc nhứt là biết đào sâu nền văn chương bình dân làm đề tài cho những bài ca phong phú tuyệt mỹ. Nó làm ấm lòng người nghe. Ca dao và tục ngữ rất quí, ta cần gom nó lại để đào sâu, để trao dồi phẩm hạnh hay học hỏi, để phổ nhạc, để nó khỏi mai một đi, rất uổng công của ông cha ta. Nó là linh hồn dân tộc Việt Nam, ta có bổn phận bảo tồn.

Hầu hết các câu ca dao trên đây mà tôi được biết, vì là dân quê từ tỉnh Vĩnh Long lên Saigon học, nhưng nhờ lúc nhỏ, tôi tản cư về vườn và nghe hàng xóm ru con, rồi học thuộc lòng để ru em mà thôi. Tuy còn nhiều câu nữa, nhưng vì không hợp với bài nầy nên không được nêu ra.

11111Vì không phải là nhà giáo hay văn hóa, mà cũng không phải   là nhà nghiên cứu, chẳng qua chỉ nghe, rồi nhớ viết lại mà thôi.  Vì tôi không biết nhiều và hiểu nhiều về ca dao phong tục, chắc chắn bài nầy còn nhiều thiếu sót, có câu không đúng, mong quý vị thông cảm và giúp đỡ cho, để bổ túc kỳ sau.

Xin cám ơn quý vị.