Những Người Muôn Năm Cũ …
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA
Mùa Hè năm 1953, sau khi đậu bằng Tiểu Học, tôi đã nộp đon xin dự kỳ thi tuyển rất khó khăn vào các lớp đệ thất của Trường Petrus Trương Vinh Ký, mà đồng bào Miền Nam thương gọi tắt là Trường Petrus Ký, và, vô cùng may mắn, tôi đã trúng tuyển, được xếp hạng 355 trên tổng số 550 thí sinh đã trúng tuyển năm đó. Lúc mới vào rường, tôi được xếp vào Lớp Đệ Thất B6, được nửa năm, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp mới này được giữ mãi cho hết bậc Đệ Nhứt Cấp: Đệ Thát F (1953-1954), Đệ Lục F (1954-1955), Đệ Ngũ F (1955-1956), và, Đệ Tứ F (1956-1957). Bài viết này là một hoài niệm về các Thầy Cô và các bạn thân của tôi tại Lớp Đệ Tứ F năm đó.
Các Thầy Cô
Danh Sách Giáo Sư Lớp Đệ Tứ F Petrus Ký Niên Khóa 1956-1957
Thày BùiTrọng Chương
Ảnh Thày Bùi Trọng Chương chụp khoảng năm 2000
Thầy Bùi Trọng Chương cùng tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội và cùng được bổ về dạy Trường Petrus Ký cùng một lượt với các Thầy Khoa, Thầy Khôi và Thầy Thọ. Tôi được may mắn học với Thầy môn Quốc Văn liên tiếp bốn năm Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ, Ðệ Tam và Ðệ Nhị. Thầy Chương người tầm thước, hơi ốm, mặt xương, và có thể nói là một trong những vị Giáo sư khả kính nhất, và có tác phong sư phạm nhất của Trường Petrus Ký trong suốt thời gian bảy năm tôi theo học tại Trường. Thầy rất nghiêm, nhưng không khắc khe, Thầy lại dạy học rất tận tâm, soạn bài rất kỹ, chấm bài rất đều, và cho điểm rất chừng mực. Khi dạy lớp đi thi, như Ðệ Tứ (thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp) hay Ðệ Nhị (thi Tú Tài I), Thầy cố gắng theo sát và dạy thật đầy đủ chương trình giáo khoa, nhờ vậy, khi đi thi có thể nói là bọn tôi hoàn toàn không bị lúng túng trước các đề thi. Thầy Chương cũng nêu gương hiếu học cho bọn tôi. Vừa dạy học Thầy vừa học thêm tại Ðại Học Luật Khoa và sau cùng cũng lấy xong bằng Cử Nhân Luật như các Thầy Sửu và Thầy Khôi. Về sau khi tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon, tôi có dịp làm việc chung với Thầy vài lần tại các hội đồng thi Tú Tài. Khi đó Thầy thường đãm nhận chức vụ Chánh Chủ Khảo hoặc Phó Chủ Khảo các hội đồng thi nầy và tôi lại được học hỏi về cách làm việc công bình và quang minh chính đại của Thầy. Trước khi rời Việt Nam năm 1981 tôi có đến chào Thầy lần cuối tại nhà Thầy trong khu Bàn Cờ. Về sau Thầy cùng gia đình sang định cư tại tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ. Một lần nữa Thầy lại làm chúng tôi ngạc nhiên và vô cùng khâm phục: Thầy trở lại trường Ðại Học và lấy xong văn bằng Bachelor of Arts. Gần đây, mổi khi Thầy có dịp về Việt Nam thì anh em học sinh lớp Ðệ Tứ F của Petrus Ký lại tổ chức họp mặt với Thầy. Thầy mất năm 2013 tại Nam California, Hoa Kỳ. Sau khi Thầy mất, một nhóm học trò cũ ở Trường Trung Học Petrus Ký của Thầy đã thành lập một Quỹ Học Bổng mang tên Thầy nhằm mục đích cấp phát học bổng cho học sinh giỏi và có gia cảnh khó khăn của Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong (tức Trường Trung Học Petrus Ký trước năm 1975, là ngôi trường mà Thầy đã gắn bó trọn cuộc đời 40 năm dạy học của mình). Có thể vào xem chi tiết về Quỹ Học Bổng Thầy Bùi Trọng Chương tại địa chỉ Internet sau đây:
http://hoc-bong-btc.blogspot.ca/p/trang-chu_25.html
Thầy Phạm Văn Sửu
Thầy Phạm Văn Sửu dạy môn Pháp Văn, là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của Trường Petrus Ký đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn tôi, không những vì công ơn dạy dổ của Thầy (chúng tôi học Pháp Văn với Thầy suốt 4 năm Ðệ Nhất Cấp), mà vì Thầy đã nêu gương sáng cho tất cả anh em chúng tôi qua tư cách của thầy (thí dụ như trong biến cố giữa Bình Xuyên và Quân Ðội Quốc Gia tại Trường, như tôi đã kể lại trong Phần I của hồi ký nầy), cũng như qua quyết tâm vươn lên trong xã hội của thầy. Xuất thân là một huấn luyện viên thể dục, lại nặng gánh gia đình đông con, vợ lại không đi làm, Thầy đã cố gắng vừa đi làm, vừa đi học thêm để lấy bằng Tú Tài. Sau khi đậu xong Tú Tài, Thầy xin cải sang ngạch Giáo Sư Ðệ Nhất Cấp và được cử dạy môn Pháp Văn tại Trường. Trong suốt 4 năm dạy Pháp Văn cho anh em chúng tôi tại Trường, Thầy lại mở lớp dạy tư thêm tại nhà, một ngôi nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, để tăng thêm lợi tức cho gia đình vì lúc đó các con Thầy cũng đã lớn, trong nhà cần chi phí nhiều hơn. Tôi vẩn nhớ có nhiều hôm tụi tôi đến học thêm tại nhà Thầy, trời nóng quá, Thầy cho phép tụi tôi cởi áo ra, ở trần hết, riêng Thầy cũng chỉ mặc áo thung ba lổ. Hình ảnh “lớp học” lúc đó trông chắc buồn cười lắm nhưng quả thật đã để lại trong tôi rất nhiều kỹ niệm êm đềm. Cũng trong thời gian nầy, Thầy lại cố gắng ghi danh học Luật, và sau cùng Thầy lấy được mãnh bằng Cử Nhân Luật Khoa. Thầy rời Trường, chuyển sang ngành Tư Pháp và được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Án các Toà Sơ Thẩm. Gần mười năm sau, thầy trò chúng tôi lại có dịp gặp lại nhau tại tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre). Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon và được bổ về dạy các lớp Ðệ Nhị Cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa. Thầy Phạm Văn Sửu lúc đó là đương kim Chánh Án Toà Án Tỉnh Kiến Hòa. Tôi có đến thăm Thầy mấy lần tại ngôi biệt thự rất lớn dành cho vị Chánh Án của tỉnh, nằm cạnh bờ hồ Chung Thủy, ngay trước cổng Trường Trung Học. Tôi nhắc lại mấy buổi học “ở trần” tại nhà Thầy ở khu Bàn Cờ, Thầy cười và nói: “Cái thằng nhớ dai dữ.” Thầy rất mừng cho sự đổ đạt của tôi. Tôi không nói ra, nhưng trong bụng thầm nghĩ “Chính nhờ Thầy đã nêu gương sáng hiếu học mà ngày nay con mới nên người”.
Thầy Nguyễn Hoàng Sang
Thầy Nguyễn Hoàng Sang dạy môn Anh Văn là một người tầm thước, hơi ốm, đi dạy lúc nào cũng bận một đồ complet bằng sharkskin trắng. Thầy Sang có rất nhiều đặc điểm làm bọn tôi khó quên được Thầy. Tôi thật sự không rõ Thầy có được đào tạo về sư phạm hay không nhưng phải nhận rằng Thầy dạy rất hay, rất sống động, vừa tạo được không khí vui tươi cho lớp học, vừa tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong giờ học. Khi dạy về đề tài nào là Thầy vẻ hình về đề tài đó lên bảng ngay, mà Thầy vẻ theo lối hí họa nên trông rất vui và hấp dẫn. Một lần Thầy dạy một bài về tàu bè, thế là Thầy vẻ ngay lên bảng một chiếc tàu, với đầy đủ mỏ neo, ống khói và dây ăng-ten. Vẻ xong, Thầy quay lại hỏi bọn tôi có biết dây đó là dây gì hay không. Dĩ nhiên bọn tôi đều biết đó là dây ăng-ten nhưng anh Ánh (cũng là cái anh chàng Ánh liếng khỉ đã nhảy lên cặp cổ Thầy Giám Thị Chương của hai năm về trước) lẹ làng dơ tay lên xin trả lời và bảo đó là dây phơi quần áo. Bọn tôi cười quá trời. Thầy Sang, mặt không đổi sắc, vừa chỉ tay vào mặt anh Ánh vừa nói :”Cha mầy!”. Vậy thôi, Thầy không phạt anh Ánh gì cả, và lại quay ra dạy tiếp. Từ đó tụi tôi biết rõ bản tính hiền lành của Thầy. Khi dạy bài “Thỏ Rùa Chạy Ðua” Thầy kêu ba học sinh lên, tôi và hai anh Xuân và Phước, Thầy bắt tôi đóng vai Thỏ, hai anh Xuân và Phước đóng vai Rùa, rồi Thầy bố trí cho hai con Rùa trong một lối đi giữa các bàn học, một con (anh Xuân) ở đầu lối đi, một con (anh Phước) ở cuối lối đi, còn con Thỏ thì ở lối đi phía bên kia. Hể con Thỏ chạy gần đến cuối lối đi bên nây thì con Rùa nhõm dậy ở lối di bên kia, vậy là lần nào con Thỏ cũng thua cả. Trong suốt vở kịch, ba anh em chúng tôi phải nói toàn những câu tiếng Anh do Thầy đã dạy trước. Bọn diển viên bất đắc dĩ chúng tôi đã đóng trọn vẹn vở kịch “Thỏ Rùa Chạy Ðua” do Thầy Sang “dàn dựng” ngay trong lớp học, và cả lớp đã được một buổi học vô cùng vui vẻ và sống động. Ðặc điểm sau cùng về Thầy Sang mà tôi vẫn còn nhớ là Thầy đi dạy học bằng xe hơi, một chiếc Juvaquatre mui trần màu trắng, một điều khá hiếm trong giới Giáo sư trung học trong thập niên 50. Riêng tôi có được thêm một kỹ niêm riêng với Thầy Sang. Giữa năm đó, thi đệ nhứt lục-cá-nguyệt tôi đứng hạng nhứt môn Anh Văn, và được Thầy chọn thay mặt cho học sinh Petrus Ký đọc một diễn văn ngắn bằng tiếng Anh trong buổi lể tiếp nhận sách do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tặng cho Trường. Tôi còn nhớ một ngày trước buổi lể đó, học sinh Petrus Ký chúng tôi được điều động ra đứng dọc theo đường Công Lý để chào mừng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm công du Ðại Hàn trở về. Bọn tôi ra đó rất sớm, tất cả đều mặc đồng phục trắng cho các ngày lể, trong khi chờ đợi thì Thầy Sang đến, nói vài lời với thầy Giám thị phụ trách lớp bọn tôi, rồi dẩn tôi ra, cho tôi lên ngồi trên chiếc xe Juvaquatre kế bên Thầy (xe Thầy chỉ có hai chổ ngồi, không có băng sau) và tập dượt cho tôi đọc bài diển văn mà Thầy đã soạn sẳn. Nhờ vậy, qua hôm sau, tôi đã làm tròn nhiệm vu, đọc bài diển văn không bị vấp váp.
Cô Nguyễn Thị Sâm
Cô Nguyễn Thị Sâm là Giáo sư môn Sử Ðịa của lớp Ðệ Tứ F bọn tôi. Hình như Cô là con gái lớn của Thầy Y tá trưởng Bệnh Xá của Trường. Cô Sâm người tầm thước, tóc uốn, mặt trái soan, mang kính cận khá nặng, và có dáng đi rất đẹp. Cô là thái cực đối nghịch của Cô Dung. Cô làm bọn tôi say mê môn Sử Ðịa vì Cô dạy môn học với tất cả tâm hồn và lòng nhiệt thành. Nếu Thầy Gần là Giáo sư gây được niềm vui trong hai giờ Sử Ðịa thường được coi là khô khan, thì Cô Sâm là Giáo sư đã thật sự hun đúc nơi anh em chúng tôi lòng ái quốc, và niềm tự hào về lịch sử của dân tộc mình. Khác hẳn với Cô Dung chỉ lấy giáo khoa ra đọc cho bọn tôi nghe, Cô Sâm soạn hẳn bài Sử và đọc cho bọn tôi chép. Lời văn của Cô vừa bóng bẩy, vừa hùng hồn, đọc lên gây xúc động rất nhiều nơi học sinh.
Thầ Dương Dạn Hòa
Ảnh Thầy Dương Dạn Hòa – Niên Giám Quốc Hội VNCH, Khóa II
Thầy Dương Dạn Hòa (chữ lót trong tên của Thầy là như vậy, có lẻ do Chánh Lục Bộ đã viết sai khi thân phụ Thầy đi làm giấy khai sanh cho Thầy) dạy anh em chúng tôi môn Toán hai năm Ðệ Thất và Ðệ Tứ. Thầy Hòa người nhỏ nhắn, đi dạy học lúc nào cũng bận complet, thắt cà vạt đàng hoàng. Thầy rất nghiêm khắc, và đặt ra rất nhiều luật lệ làm cho chúng tôi theo muốn hụt hơi. Thí dụ, khi làm bài trên giấy nộp cho Thầy thì luôn luôn phải gạch hàng đóng khuôn tên của mình lại, mà khuôn thì phải đầy đủ bốn gạch thành hình chữ nhựt đàng hoàng, mấy tên nào làm biếng chỉ gạch hai gạch, và dùng hai cạnh của tờ giấy làm hai cạnh còn lại của khuôn tên, đều bị trừ hai điểm. Khi làm bài trong lớp nộp cho Thầy thì chỉ năm đứa nộp bài đầu tiên là được đủ điểm tối đa, năm đứa kế tiếp đều bị trừ một điểm, năm đứa kế nữa bị trừ hai điểm, và cứ thế điểm tối đa bị sụt dần. Vì cái “luật” khắc khe nầy, tụi tôi đứa nào cũng rán làm bài cho nhanh để khỏi bị trừ điểm. Ngoài ra, Thầy còn đặt thêm một luật nữa, là tất cả các bài toán đều phải có phép thử viết ngay bên cạnh, thiếu cái nầy cũng bị trừ điểm luôn. Nói tóm lại tụi tôi làm toán phải luôn luôn đạt hai tiêu chuẩn là nhanh và đúng. Lúc đầu mới học với Thầy thật quả là khốn khổ, nhưng dần dà rồi cũng quen và thấy có hiệu quả tốt. Và với thời gian tụi tôi cũng nhận ra rằng Thầy tuy bề ngoài có vẻ rất nghiêm khắc nhưng thật ra rất vui tính và thương tụi tôi như con. Ðặc biệt trong số học trò Thầy rất thương anh Hà Kim Phước, lý do là vì anh Phước nhỏ nhứt trong đám tụi tôi, nhỏ tuổi mà cũng nhỏ con luôn. Mãi đến bây giờ, anh em tụi tôi có dịp gặp lại nhau, có nhắc đến anh Phước đều gọi là “thằng Phước con Ông Hòa”. Ðến năm Ðệ Tứ phải đi thi bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp, tụi tôi có học thêm tại nhà với Thầy, một căn nhà gạch trong một con đường nhỏ mang tên là Palanca (bây giờ đổi tên thành đường Nguyễn Trung Ngạn). Xin mở một dấu ngoặc nhỏ để nói thêm một ít về con đường nhà Thầy Hòa. Con đường nầy rất ngắn, chỉ dài chừng mười lăm, hai mươi mét từ ngoài đường Luro (sau đổi tên là Cường Ðể, bây giờ gọi là đường Tôn Ðức Thắng) vào. Ở ngay tại ngả ba hai đường nầy có một quán rượu nhỏ của một anh lính Pháp không chịu hồi hương (vì hình như đã lấy một bà vợ người Việt, và bà nầy không chịu theo chồng về Pháp) với một bảng hiệu rất ngộ nghĩnh, không đề bằng chữ mà toàn bằng số như sau : 0 20 100 0 (đọc theo tiếng Pháp sẽ tạo ra một âm thanh tương đương với câu Au Vin Sans Eau = Rượu Không Pha Nước). Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây. Nhờ học thêm Toán với Thầy, cuối năm đó đa số anh em chúng tôi đậu bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp rất dễ dàng. Thầy Hòa về sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, đại diện cho đơn vị Năm Căn của tỉnh An Xuyên (Cà Mau). Vào khoảng cuối thập niên 1990, tôi nhận được thơ của một người bạn thân cùng lớp, anh Nguyễn Thanh Hải. Trong thơ, anh Hải cho hay một tin buồn: Thầy Hòa, do lớn tuổi bị mất trí nhớ, đi lạc, không biết đường về nhà, Thầy phải lang thang xin ăn tại Chợ Cầu Muối một thời gian, may nhờ một học sinh củ nhận ra và đưa Thầy về nhà. Ðọc thơ xong, tôi không cầm được nước mắt. Lập tức, một mặt tôi liên lạc với anh Võ Duy Thưởng, Tổng thư Ký Hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc California, nhờ Hội giúp đở, mặt khác tôi liên lạc với vài anh em Petrus Ký xưa có học với Thầy Hòa. Anh Thưởng nhân danh Hội Ái Hữu Petrus Ký gởi sang 100 Mỹ kim, phần tôi và mấy anh em quen góp thêm 100 Mỹ kim nữa. Tôi gởi về cho anh Hải và anh Hải đã cùng một số học trò củ đến thăm Thầy Hòa (vẩn tại căn nhà củ đường Palanca đó) và trao cho Cô số tiền nầy. Sau đó anh Hải có gởi sang cho tôi bức ảnh chụp chung tại nhà với Thầy Cô, nhìn vào ảnh tôi buồn nhiều khi thấy rõ cái nhìn không hồn của Thầy. Mấy năm sau thì tôi được tin Thầy đã mất.
Thầy Vũ Ngọc Khôi
Ảnh Thày Vũ Ngọc Khôi chụp năm 1953
Thầy Vũ Ngọc Khôi dạy bọn tôi hai năm, Ðệ Lục và Ðệ Tứ, cả ba môn Lý, Hóa và Vạn Vật. Trái hẳn với Thầy Khoa, Thầy Khôi tướng tá rất vậm vỡ, trông như một võ sĩ. Có thể nói bọn tôi mê Thầy Khoa bao nhiêu thì bọn tôi sợ Thầy Khôi bấy nhiêu. Thầy dạy học rất nghiêm khắc, đứa nào lạng quạng, không thuộc bài, hay bị kêu lên bảng làm toán (vật lý) mà lôi thôi thì chết với Thầy. Nhưng nhờ vậy mà bọn tôi học rất có kết quả, nhất là năm Ðệ Tứ, đi thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp đậu gần hết. Thầy Khôi cũng là một tấm gương sáng cho bọn tôi về đức tánh hiếu học. Thầy chịu khó vừa đi làm, vừa học thêm, Thầy lấy được bằng Cử Nhân Luật Khoa. Sau đó Thầy lại học tiếp, lấy xong Cao Học Luật Khoa và sau cùng Thầy đậu bằng Tiến Sĩ Luật Khoa của Ðại Học Saigon. Trong thập niên 80, tôi được tin Thầy đã vượt biên thành công cùng với người con trai và định cư tại Hoa Kỳ trong vùng Washington, D.C. Tôi có liên lạc thư từ với Thầy nhiều lần, nhưng chưa có dịp gặp lại Thầy trước khi Thầy qua đời vì bịnh tim.
Thày Nguyễn Văn Hài
Thầy Nguyễn Văn Hài, người Bắc, dạy bọn tôi môn Hội Họa trong năm Ðệ Tứ nầy. Thầy Hài người rất cao, mang kính, và tác phong hoàn toàn khác với Thầy Ý của năm Ðệ Ngũ. Thầy rất hiền lành, và rất gần gũi với học sinh, giờ học nào cũng vậy, Thầy đi vòng vòng khắp lớp học và chỉ cho từng học sinh cách nhắm, cách vẻ, cách đánh bóng. Bọn tôi rất thương Thầy. Trước Tết năm đó, tin Thầy Hài bị tử nạn trong một vụ cháy nhà (nhà Thầy làm pháo, chẳng may bị nổ và gây ra đám cháy) làm cả lớp Ðệ Tứ F bọn tôi vô cùng xúc động. Nhà Trường đã tổ chức cho học sinh chúng tôi tham dự tang lể của Thầy.
Thầy Marcel
Thầy Marcel dạy bọn tôi môn Nhạc ở năm Ðệ Tứ nầy. Thầy là người Pháp lai, nói tiếng Việt (giọng Bắc) rất giỏi. Thầy bị tật ở chân nên đi khập khiểng. Ðiều đặc biệt nhứt ở Thầy Marcel là cặp mắt của Thầy, một cặp mắt sâu, sắc, và rất có thần, bọn tôi ít đứa nào dám nhìn thẳng vào mắt Thầy. Thầy lại rất nghiêm khắc. Giờ học với Thầy Marcel luôn luôn diển ra tại Phòng Nhạc. Bọn tôi sợ nhất là mổi khi Thầy ra bài “dictée musicale”, mổi lần như vậy thì Thầy ngồi vào chiếc đàn dương cầm, đánh lên một số nốt nhạc, và bọn tôi phải ghi ra trên giấy nộp lại cho Thầy để chấm điểm, tôi thường lãnh trứng vịt. Cũng may là môn Nhạc chỉ là một môn học “ăn chơi” mà thôi, không có thi lục-cá-nguyệt và điểm không được ghi vào thông-tín-bạ. Một kỹ niệm vui mà bọn Tứ F chúng tôi nhớ hoài về giờ Nhạc với Thầy Marcel là cái lần Thầy bắt anh Ánh (cũng anh Ánh nổi tiếng liếng khỉ đó) lên hát một mình bản Quốc Ca cho cả lớp nghe, với lời hăm dọa trước là hát sai một nốt thì lãnh “cấm túc” liền, kết quả là anh Ánh vừa hát mà vứa mếu trông rất tức cười. Cũng may, khi anh Ánh mới hát được chừng gần nữa bài thì Thầy ra lệnh cho chấm dứt và cho anh Ánh về chổ. Một kỹ niệm nữa là một hôm giờ Nhạc của Thầy Marcel trùng với giờ của trận bóng tròn quan trọng giữa Trường Petrus Ký và Trường Chu Văn An. Hơn nữa lớp Ðệ Tứ F (trong đó có tôi luôn) bỏ giờ Nhạc, trốn ra sân để xem trận banh và ủng hộ đội nhà. Ngày hôm sau vào Trường, bọn trốn học chúng tôi đều bị kêu lên gặp Thầy Tổng Giám Thị, lúc đó là Thầy Lê Ngọc Toản (về sau có thời gian làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu ở Mỹ Tho). Thầy Toản kêu từng đứa vào, hỏi lý do tại sao hôm trước vắng mặt giờ Nhạc. Thôi thì đủ thứ lý do được bọn tôi đưa ra, nào là bị chó cắn phải đi Viện Pasteur chích thuốc, nào là mẹ đau phải đi hốt thuốc Bắc cho mẹ, nào là phải ở nhà phụ mẹ và chị lo đám giổ bà ngoại, v.v. Nhưng tất cả lý do đều bị Thầy Toản pha hết, và mổi đứa bọn tôi đều lãnh “nữa cấm túc”. Chúa Nhật đó tất cả bọn tôi đều gặp nhau tại Phòng cấm túc trong hai giờ.
Nhóm Bạn Thân 9 Người
Sau khi đã học chung lớp suốt 3 năm (1953-1956) qua các lớp Đệ Thất F (1953-1954), Đệ Lục F (1954-1955), và Đệ Ngũ F (1955-1956), đến năm Lớp Đệ Tứ F (1956-957), bọn tơi đã hinh thành được một Nhóm Bạn Thân 9 Người gôm co các bạn có tên sau đây:
- Nguyễn Thanh Hải
- Nguyễn Trung Hiếu
- Đinh Xuân Lãm
- Võ Văn Minh
- Trần Phuc
- Phan Văn Quang
- Dương Xã Tát
- Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh)
- Lâm Vĩnh Thế (Thế Lâm)
Nguyễn Thanh Hải (1939-2023)
Ảnh Nguyễn Thanh Hải chup lúc học Lớp Đệ Nhứt A1 Petrus Ký, niên khóa 1959-1960
Nguyễn Thanh Hải, sinh năm1939, là người bạn thân nhứt của tôi trong suốt 7 năm (1953-1960) theo học tại Trường Petrus Ký Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ Thị Nghè qua Đakao để cùng tôi đi học, và trong lớp thì Hải và tôi cũng ngồi chung bàn suốt 7 năm đó.
Hè 1960, tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 và đậu luôn vào ĐHSPSG, Hải thi rớt tất cả 2 kỳ thi của năm đó. Năm sau, Hải ghi danh vào học lớp đêm dành cho tráng niên tai Trường Nữ Tiểu Học Đakao trên đường Phan Đình Phùng để chuẩn bị thi lại vào cuối năm. Thỉnh thoảng, khoảng 8 giờ tối, Minh và tôi đạp xe đến trường để rủ Hải bỏ học đi uống cà phê với tụi tôi tại tiệm Hà Nội trên đường Bonard ở Sài Gòn. Cuối năm học đó, Hải thi đậu bằng Tú Tài 2, và qua Hè 1962, Hải cùng với tôi làm đơn tình nguyện vào Không Quân. Không biết ai báo tin, Mẹ tôi hay được, kêu tôi về, la rầy tôi, và khóc quá chừng. Mẹ tôi vừa khóc vừa nói như sau: “Bao nhiêu người muốn được vào học ở đó, con đã đậu rôi, lại bỏ đi. Ăn cơm dưới đất mà làm việc trên Trới! Bộ con muốn Má lo cho tới chết hay sao?” Nghe Mẹ nói những lời thống thiết như vậy, tôi đành phải bỏ cuộc, trở về trường học tiếp và tốt nghiêp ĐHSPSG vào tháng 4-1963.
Khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa vào ngày 6-10-1963, Hải là ngưới bạn thân nhứt của tôi lại không có mặt tại đám cưới vì lúc đó Hải đang học lái máy bay trực thăng tại Hoa Kỳ.
Hè năm 1964, Hải, với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch, mang đôi cánh bạc về nước và được điều về phục vụ tại Phi Đoàn 217 Trực Thăng, thuộc Không Đoàn 64 Chiến Thuật tại Cần Thơ. Năm 1970, với cấp bậc Đại Úy, Hải đã chi huy các phi tuần trực thăng vũ trang tấn công sang Kampuchia.
Câp bậc và chức vụ sau cùng của Hải vào ngày 30-4-1975 là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân Đặc Trách Về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt.
Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi tù cải tạo ở Miền Bác khoảng 14 năm. Mấy năm sau, Hải đưa được gia đình đi định cư tại Mỹ, thành phố Lansing, tiểu bang Michigan, theo chương trình HO. Vợ chồng tôi đã mấy lần sang Lansing thăm vợ chồng Hải và chúng tôi đã có được tấm ảnh ăn cơm chung với nhau tại nhà Hải như sau:
Ăn cơm tại nhà Hải ở Lansing năm 2012
Thật không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng Hải và tôi chụp chung với nhau. Sau khi vợ chồng Hải dọn về Modesto, California để được gần con gái và các cháu ngoại, Hải và tôi không còn có dịp gặp nhau nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.
Nguyễn Trung Hiếu
Ảnh Nguyễn Trung Hiếu chụp khoảng năm 1992
Nguyễn Trung Hiếu, không rõ năm sinh, nhưng có lẽ lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi. Hiếu vào Trường Petrus Ký sau bọn tôi 2 năm, Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956). Sau khi đậu bằng Trung Học Dệ Nhứt Cấp vào Hè 1957, Hiếu tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (sau này đổi tên thành Trường Bộ Binh Tbủ Đúc). Ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy, Hiếu được bổ nhiện về Sư Đoàn 21 Bộ Binh ở Miền Tây và phục vụ tại đó cho đến ngày về hưu với cấp bậc ThiếuTá. Hiện nay Hiếu sống với con gái tại San Diego, Nam California, Hoa Kỳ.
Đinh Xuân Lãm (1940-2011)
Ảnh Đinh Xuân Lãm chụp năm 1990
Hè năm 1953, Đinh Xuân Lãm và tôi cùng trúng tuyển kỳ thi vào Lớp Đệ Thất của Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký. Vào đầu niên khóa 1953-1954, hai chúng tôi được xếp vào Lớp Đệ Thất B6, sang Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt (tức là học kỳ 2), tên lớp được đổi thành Đệ Thất F; tên gọi mới này được giữ luôn 4 năm là Đệ Thất F (1953-1954), Đệ Lục F (1954-1955), Đệ Ngũ F (1955-1956), và Đệ Tứ F (1956-1957).
Cuối năm Lớp Đệ Tứ F, Lãm và tôi đều thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp và năm sau đều cùng được lên lớp đệ tam nhưng không cỏn được học chung lớp nữa vì Lãm đã chọn Ban B (Toán) còn tôi thì chọn Ban A (Van Vật).
Cuối năm Đệ Nhứt, Lãm và tôi đều đậu bằng Tú Tài 2. Sau đó, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa, Khóa 3 (1960-1963), Lãm thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức là Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960 và mãn khóa ngay 30-3-1963 Ra trường với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, Lãm tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), với chức vụ Đại Đội Phó, Đại Đội 1 (lúc đó Đại Đội Trưởng là Trung Úy Phạm Nhã), Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi tiếng là Tiểu Đoàn Trâu Điên), Tiểu Đoàn Trưởng là Đại Úy Nguyễn Thành Yên (biệt danh là Ông Gia Đàu Bac). Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi (An Xuyên, Tức là Cà Mau) vào tháng 9-1963, chiến thắng lớn nhứt của quân đội trong năm này. Lãm được đi phép về Sài Gòn, và, nhờ vậy, Lã,m đã làm rể phụ cho tôi trong dám cưới cùa tôi với Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Võ Văn Minh.
Cấp bậc và chức vụ sau cùng của Lãm vào ngày 30-4-1975 là Thiếu Tá, Tiểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàm 16, thuộc Lữ Đoàn 468 dướ quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định. Sau đó, Lãm phải đi cải tạo trên 10 năm tại Miền Bắc. Sau khi được thả về, Lãm đã đi HO 2, sang định cư tại San Jose, California Hoa Kỳ, và sống tại đó cho đến khi mãn phần vào ngày 21-6-2011.
Võ Văn Minh (1940-2018)
Ảnh Võ Van Minh chụp khoảng năm 1960
Trong các bạn thân Lớp Đệ Tứ F, Võ Văn Minh là người bạn có một mối quan hệ đặc biệt với cá nhân tôi, mà về sau tôi không còn “mày tao” nữa mà phải gọi là Anh Hai đàng hoàng vì năm 1963 tôi đã lập gia đình với Võ Thị Nhơn Nghĩa là em gái duy nhứt của Minh.
Minh bản tính hiền lành, vui vẻ và nhứt là có lòng với anh em bạn bè. Nhà Minh luôn luôn là nơi tụ họp của các bạn bè, ngay cả sau ngày 30-4-1975 cũng vậy., như trong tấm ảnh bên dưới đây lúc Đinh Xuân Lãm sau hơn 10 năm cải tạo ở ngoài Bắc được thả về:
Buổi nhậu tại nhà Minh – từ trái qua; Nguyễn Văn Phơi, Hà Kim Phước, Nguyễn Thanh Hải, Võ Văn Minh, Phan Văn Long, Phan Văn Quang, và Đinh Xuân Lãm
Về mặt học vấn, Minh không được may mắn. Năm 1957, sau khi thi rớt kỳ thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thay vì xin ở lại lớp để năm sau thi lai, vì tự ái, Minh đã bỏ trường ra học Lớp Đệ Nhị C của Trường Trung Học tư thục Cửu Long. Minh nghĩ rằng mình kém Toán, Lý Hóa, không thể học Ban A hay Ban B được, nên đã chọn Ban C. Đây là một sai lầm tai hại. Cả bọn chúng tôi, lúc đó còn nhỏ quá, đâu có hiểu là Ban C thật ra còn khó hơn các Ban B và Ban A nữa vì sẽ rất nặng về phần sinh ngữ Pháp Văn và Anh Văn, là hai môn học mà Minh đều yếu kém. Vì vậy mà kết quả là Minh đã thi rớt kỳ thi Tú Tài 1 Ban C năm 1958. Minh chán nản, bỏ học luôn, và ra đi làm. Nhờ sự giới thiệu của người anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, Chánh Sở F22, Cảnh sát Đặc Biệt, Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy cho Ty Cảnh Sát Gia Định.
Minh lập gia đình với chị Bùi Thị Kim Hoàng (cùng tên họ với vợ của Huỳnh Hữu Thế) và có được 3 con, 1 trai và 2 gái. Gia đình chị Hoàng có một ngôi trường tiểu học tư thục nhỏ ở Gò Vắp do Bà Ngoại chị Hoàng trông coi, và nhờ vậy, Minh đã chuyển qua dạy học. Đầu năm 2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam nhưng vẫn không kịp, Minh đã mất vào ngày 3-2-2018, thọ 78 tưổi.
Trần Phục
Ảnh Trần Phục chụp khoảng năm 1992
Trong số các bạn Lớp Đệ Tứ F của tôi (niên khóa 1956-1957), Phục là người tương đối lớn tuổi hơn bọn tôi. Tuy với bể ngoài trông rất “ngầu” Phục rất hiền lành, vui vẻ và rất chiều bạn bè.
Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp Phục thi đậu vào Trường Cán Sự Y Tế, và, su khi ra trường, được bổ về Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi Phục làm việc cho tới ngày 30-4-1975.
Phục vượt biên thành công rất sớm, và được Mỹ cho vào định cư tại thành phố Anaheim, tiểu bang California.
Con gái đầu lòng của Phục học rất giỏi, tốt nghiệp Bác Sĩ, và lập gia đình với một người bạn cùng lớp. Phục báo tin đám cưới con gái cho bạn bè. Hai Thế chúng tôi rất vui mừng trước cái tin “Song Hỷ Lâm Môn” này của gia đình Phục và quyết định cùng đi dự đám cưới. Lúc đó Lãm cũng vừa được Mỹ nhận cho vào định cư tai thành phố San Jose, tiểu bang California. Thế Huỳnh sẽ bay thẳng từ Newport, Connecticut sang Anaheim, California. Phần tôi sẽ bay từ Toronto, Canada sang San Jose, tại đây tôi đã mướn một xe hơi nhỏ và đến chở vợ chồng Lãm cùng đi xuống Anaheim.
Trong suốt gần 6 tiếng đồng hồ của chuyến đi San Jose – Anaheim, Lãm và tôi nói chuyện suốt, vì lần đầu tiên gặp lại sau hơn mười năm xa nhau. Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt, và 3 người chúng tôi lại nói chuyện tới gần giờ sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi đi ngủ một vài giờ để 10 giờ sáng còn phải dậy để lo chuẩn bị tiếp bên đàng trai sẽ đến rước dâu lúc 11 giờ. Sau khi ăn sáng xong,,4 người chúng tôi đã ra trước nhà Phục chụp tấm ảnh kỷ niệm như sau:
Ảnh chụp trước nhà Phục – từ phải qua: Lãm, Thế Huỳnh, Phục và Thế Lâm
Không ngờ đó là tấm ảnh cuối cùng tôi chụp chung với Phục. Phục đã mãn phần sau gần một năm lâm bệnh nặng vào ngày 21-12-2018.
Phan Văn Quang
Ảnh Phan Văn Quang chụp khoảng 1990
Tôi không rõ năm sinh của Quang nhưng tôi nghĩ Quang có thể lớn hơn tôi 1-2 tuổi. Quang có biệt danh là Quang Bouc. Lý do: trong một giờ học Pháp Văn với Thầy Phạm Văn Sửu, bài Le Renard et le Bouc, Thầy Sửu d94 dàn dựng một vở kịch và Quang được Thầy chọn cho đóng vai Le Bouc.
Sau khi đậu bằng Tú Tài 2, Quang có học Đại Hoc Khoa Học Sài Gòn một thời gian nhưng sau đo rời trường và tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt Khóa 19, tức là Khóa Nguyễn Trãi, khai giảng ngày 23-11-1962 và mãn khóa ngày 28-11-1964 Ra trường, Quang được bổ về Trung Đoàn 52 Biệt Lập tạiPhước Tuy, và bị thương rất nặng trong một cuộc đụng đố rất lớn với Quân Bắc Việt, Sau khi được xếp vaa2oloa5i2, không tác chiến, Quang về phục vụ tại Quân Trấn Thủ Đô chod9e61n ngay-4-1975.
Sa khi đi cải tao về, Quang được đi Mỹ theo diện HO và đinh cu tại thành phố Seatle, tiểu bang Washington và sông tại đó cho 9e6n ngày hôm nay.
Dương Xã Tắt
Ảnh Dương Xã Tắt chụp tại tiệc cưới của tôi đêm 6-10-1963
Trong nhóm 9 người bọn tôi, Tắt là người lớn tuổi nhứt, to con nhứt, và cũng có tiền nhiêu nhứt vì ba của Tắt là một đại điền chủ giàu có lớn tại Bến Lức, thuộc tỉnhTân An, bây giờ gọi là Long An. Tánh Tắt lại rất rộng rãi với bạn bè, mỗi khi đi chơi chung với nhau, lúc góp tiền, ai không có đủ thì Tắt ứng ra cho, không bao giờ nề hà gì cả. Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc Gia Sư Phạm, hệ Cấp Tốc (chỉ học 1 năm), Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An. Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh. Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:
Hình Tắt tại tiệc cưới của tác giả: Tắt là người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)
Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức)]
Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức. Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi. Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp. Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt. Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ. Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi.
Huỳnh Hữu Thế
Ảnh Huỳnh HữuThế chụp năm 1993
Huỳnh Hữu Thế là học sinh xuất sắc nhất trong bọn tôi. Vào năm Lớp Đê Tứ F (niên khóa 1956-1957), Thế đã đứng đầu gần như tất các môn học, và đặc biệt là với môn Toán. Hè 1957, sau khi đã cùng bọn tôi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, Thế đã tạo ra một kỳ tích vô tiền khoáng hậu của Trường Petrus Ký là đi thi và đậu luôn bằng Tú Tài 1, Ban Toán. Tựu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên học các lớp Đệ Tam, Lãm hoc Ban B, tôi học Ban A, thì Thế đã vào học Lớp Đệ Nhất, nhưng phải hoc tại Trường Chu Văn An, vì lúc đó Trường Petrus Ký vẫn còn cấm học sinh hoc nhảy lớp. Hè 1958 Thế đậu luôn bằng Tú Tài 2, và đậu luôn cả kỳ thi khó khăn vào năm thứ nhứt Ban Toán của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG).
Thời gian theo học ĐHSPSG là một giai đoạn Thế gặp nhiều khó khăn. Thứ nhứt là vấn đề sức khỏe. Thế bị nhức đấu thường xuyên, gần như mỗi ngày, có thể là do Thế đã uống quá nhiều thuốc chống ngủ trong thời gian học nhảy lớp Thứ hai là vấn đề gia đình. Vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đại Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và sau đó mang cả 2 đứa con theo người nhân viên đó đi Thụy Sĩ luôn. Thế trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần khá trầm trọng. Thế phải mất đến 6 năm, thay vì chỉ 3 năm thôi, mới tốt nghiệp được ĐHSPSG. Sau khi tốt nghiệp, Thế được bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ). Sau khi dạy học được một năm, Thế tình nguyện vào Trường Võ Bị Thủ Đức. Bạn bè ai cũng bảo Thế khùng rồi nhưng không ngờ đó lại là một chuyện tốt cho sức khỏe của Thế. Cò lẽ nhờ mấy tuần lễ huấn nhục tại quân trường, Thế không có ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn gia đình nữa, và chẳng mấy chốc, cơn khủng hoảng tinh thần đã không còn nữa. Sau khi ra trường, Thé được bổ nhiệm về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu. Sau một năm, Thế được điều về Trường Võ Bị Đà Lạt. Chính tại thành phố thơ mộng này, Thế đã may mắn được gặp chị Bùi Thị Kim Hoàng, một luật sư đang tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, và sinh được một con trai đặt tên là Phong.
Ngày 30-4-1975 ập đến và Thế phải đi cải tạo mấy năm. Sau khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, chuyến đi thành công và Thế được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, tiểu bang Connecticut vào tháng 6-1986
Tháng 8-1986, được tin này tôi rất mừng. Sau đó hai Thế chúng tôi liên lạc nhau thường xuyên qua điện thoại viễn liên. Chẳng bao lâu, Thế ghi danh đi học lại tại trường đại học cộng đồng của thành phố và tại đây Thế đã bất ngờ tạo ra một cơn sốt cho thành phố. Câu chuyện như sau: một hôm trong giờ học môn Calculus (Toán Vi Tích Phân), vị giáo sư đang giải trên bảng 1 phương trình gì đó, ông đang viết đến dòng thứ tư, tự nhiên Thế thấy ngứa nghề, dơ tay lên xin phát biểu, vị giáo sư cho phép, và Thế nói Thế chỉ cần không đầy 2 dòng sẽ giải được phương trình đó ngay; vi giáo này là một giáo sư đàng hoàng chân chính, không những không nổi giận mà còn mời Thế lên bảng, và Thế đã làm đúng như đã nói. Ngày hôm sau, vị giáo sư đem câu chuyện này kể cho một người bạn đang làm phóng viên cho tờ báo địa phương. Lập tức ông này đến trường phỏng vấn Thế và hôm sau cái tin giựt gân (sensational) đó lên báo ngay: “Một người tỵ nạn Việt Nam trong thành phố chúng ta là một thiên tài Toán học” Công ty điện lực của thành phố cho nhân viên đến phỏng vấn Thế, và sau đó quyết định cấp học bổng cho Thế cho đến khi Thế ra trường, và cũng quyết định sẽ nhận Thế vào làm việc cho họ. Và trên thực tế, Thế đã làm việc cho công ty cho đến lúc Thế mãn phần do đột quỵ khi chạy bộ ngoài bãi biển vào sáng ngày 29-10-2006
Thay Lời Kết:
Lớp Đệ Tứ F đã kết thúc hết sức tốt đẹp vào cuối năm học 1956-1957 với gần hết các bạn cùng với tôi lớp đã đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp và được Trường Petrus Ký cho lên Lớp Đệ Tam vào niên khóa kế tiếp (1957-1958). Tại năm 2026 này, tất cả các Thầy Cô đều đã vĩnh viên ra đi hết cả rồi. Trong Nhóm Bạn Thân 9 Người của tôi thì 6 bạn cũng đã mãn phần, bây giờ chỉ còn lại có 3 người là Phan Văn Quang, Nguyễn Trung Hiếu và tôi, tác giả bài viết này Tôi chợt nhớ lại một cách thấm thía hai câu kết của bài thơ Ông Đồ nổi tiếng vàđể đờicủa nhà thơ Vũ Đình Liên: (1913-1996):
Những Người Muôn Nam Cũ
Hồn Ở Đâu Bây Giờ















