Nhớ thời văn chương học trò

 Phan Văn Thạnh 

1- Chiều cuối năm.Thư phòng im vắng. Tôi nghe và cảm rất rõ bóng dáng mình đang lướt đi trên dòng thời gian bong tróc rứt rời từng mảng, từng sátna – mình giây phút này không còn là mình giây phút trước, cứ thế huyễn hoặc triền miên cho đến khi… “mệt quá cái thân ta này, nằm xuống với đất nghỉ ngơi” (Ngẫu nhiên – Trịnh Công Sơn).

Nho thoi van chuong hoc tro 01

Đọc đến chương 12 – kể lại giai đoạn làm báo của cố nhà báo Lý Quí Chung – Chánh Trinh Từ “Tiếng Nói Dân Tộc” đến “Điện Tín” – (Hồi Ký Không Tên – NXB Trẻ – 2004, tr192), người đọc mới được biết: Cùng thời điểm Trịnh Công Sơn sáng tác những bài hát phản chiến (bắt đầu từ năm 1968), trên báo Tiếng Nói Dân Tộc cũng tổ chức cuộc thi viết phóng sự với chủ đề “Viết cho quê hương, dân tộc” dành cho bạn đọc. Các bài dự thi đều chống cuộc chiến, chống sự can thiệp của người Mỹ, phản ánh tâm trạng và thực trạng khắp miền Nam, tất cả hợp thành bức tranh xúc động và trung thực của nửa phần Tổ quốc phía Nam… Báo TNDT đã mời giáo sư Lý Chánh Trung làm chủ tịch Hội đồng chấm, trao giải.”(tr 154).

Nho thoi van chuong hoc tro 02Tôi nhớ chút kỷ niệm với hai truyện ngắn bút danh Phan Đồi Thông, đươc chọn vào vòng loại cuộc thi của báo: Khi màn đêm buông xuống(báo TNDT-1968), “Về phía có mặt trận(báo ĐT-1971) – Rất tiếc các bài viết được cắt dán sổ lưu trữ bị thất lạc trong lúc chuyển nhà. Cả hai truyện ngắn đều đề cập đến nỗi thống khổ của phận người trong chiến cuộc. Tôi còn nhớ đôi chi tiết truyện: thời chiến tranh sôi sục miền Đông đất đỏ – đêm súng ống rình rập nặng nề đầy nỗi phập phồng lo sợ, ánh trăng lạnh ghê người, tiếng chó tru tréo táp vào hư không tĩnh mịch, tiếng dép lốp bước vội, tiếng lách cách va chạm của binh khí và hơi thở nén lại trong lồng ngực muốn vỡ tung…- Hình ảnh cỗ quan tài ốm xọp nhốt thi thể một người lính nào đó trong bốn phiến gỗ chật chội tối tăm, phủ lá cờ ba sọc di chuyển qua phố thật buồn; chi tiết một số giáo viên kẹt trong vùng chiến sự (Bình long, Phước Long) chờ di tản – chiếc trực thăng đầy nhóc người quá tải loạng choạng bốc vội khỏi mặt đất, một thầy giáo còn rất trẻ liều mạng đu bám theo, sút tay rụng xuống cuộc binh đao ! Chắc giờ này các bạn đã qua cầu Nại Hà húp bát cháo Lú quên đi tiền kiếp, đầu thai cho số phận khác lâu rồi ?

Thập niên 60 thế kỷ trước, thời thư sinh cắp sách đến trường, tôi tập tành làm “văn chương học trò” theo sở thích ngẫu nhiên. Thơ, tùy bút, viết ngắn với nhiếu bút danh: Phan Nguyễn Song Linh, Linh Dzạ, Phan Vũ Viên, Phan Đồi Thông), đăng rải rác các nhật báo Saigon (Thần Chung, Đuốc Nhà Nam, Dân Chúng, Chánh Đạo, Đất Tổ, Saigon báo, Dân Tiến, Trắng Đen, GP Xuân Sư Phạm, Pétrus Ký…). Lúc bấy giờ viết theo sở thích hoàn toàn không ý thức nhưng vô tình trùng khớp với ý tưởng của nhà thơ Nga Aleksandr Blok (1880-1921): “Nếu không sống nhập vào thời đại của mình thì đừng có viết làm gì”. Tôi chỉ đơn giản: thấy, nghĩ và viết để cảm nhận mình đang hiện diện.

Sống trong không gian cuộc chiến phân li, tương lai mù mịt – sau Sắc lệnh Tổng động viên từng phần rồi toàn phần (năm 67,68), bọn đầu xanh chúng tôi như những thanh củi được tọng vô tội vạ vào lò lửa thiêu đốt phi lý: “Tuổi thơ lớn dậy muộn màng/Ngó trời, ngó đất, ngó đèn nhang câm” (PVT). Giờ nhìn lại, sót nhớ đôi câu, đôi vần của chính mình nghe bi thiết quá:

-“Đèn nhang anh thắp cho anh/Hình nhân giấu mặt tay khoanh đứng chờ” – (Cáo phó – Nội san Đất Đứng – nhóm liên lớp Đệ Tam, Petrus Ký, 1965 – PVT )

-“Em cười vỡ hạt ca dao/Thác đi về ngõ lũy hào đầu thai” (Bài cho em – Giai phẩm Sư Phạm Saigon, 1970 – PVT)

-“Đất nước buồn úp mặt/Giữa lòng phố mê man/Ru điệu ca nát ngướu/Trong cuộc này gian nan//Con thủy triều hung hản/Thanh mã tấu ngồi dậy//Tay chân đan với nhau/Thối nát từng chiếc thây//Hai bên miền sông núi/Treo nước mắt cháy khô/Nghiêng mình cây lá mọc/Ban đêm gió lõa lồ//Nhăn nheo vừng trán đỏ/Bụi bám giấc ngủ ngon/Đốt điếu thuốc thứ nhất/Viên đạn đồng trẻ non//Xin thêm một ngày sống/Dấu vết đầy thân thể/Anh buông xuôi chán chường/Mọi người xin được chết” (Trong cuộc gian nan – 1966 – PVT)

“Chia làm đôi sông núi/Căm hờn bôi trên môi/Mây đen về buổi tối/Thi thể này tanh hôi//Vòng kẽm gai dang dở/Sần sùi viên đá đen/Đánh mất từng sợi tóc/Uống từng ngụm quê hương” (Đối diện– 1966 – PVT)

-“Tôi ôm thế kỷ than dài/Cho quê hương đó lưu đày lên môi/Nuốt từng bọt đắng đơn côi/Chiến chinh mấy bận đau vùi nước non…//Cỏ cây giờ rướm máu tanh/Đêm về rũ rượi mấy cành xương khô/Từ cơn sóng biển nhấp nhô/Ngồi đây mấy kiếp để chờ đổi thay !”(Nỗi buồn chưa hết-1966 – PVT)

-“Mấy đồi sim tím xa xưa/Người theo cát bụi cho vừa nước non/Tháng ngày bên vó ngựa mòn/Tôi rơi nước mắt khóc hồn người ơi !” (Thơ cho người – gửi hương hồn Dzũng Chinh, người tôi không hề quen -1967- PVT).

2- Một thời tuổi trẻ Saigon “làm gan” sống …

Nhìn lại những năm tháng Tam, Nhị, Nhất Petrus Ký (65-68) – một thời trai trẻ tan hoang, mất phương hướng. Bên ngoài lớp học là “tranh đấu dấn thân” – biểu tình xuống đường chống độc tài gia đình trị, chống bắt lính, đốt xe Mỹ – đòi “US go home !” … Nội bộ chính trường miền Nam rối ren – đảo chánh, chỉnh lý, bầu cử độc diễn… Đất nước đi về đâu? Tương lai sẽ ra sao? Hòa bình bao giờ mới được lập lại ? Tình cảnh hoang mang vô định đó đã khiến một bộ phận thanh niên SVHS thành thị miền Nam bấy giờ bế tắc. Họ đã rơi vào “vũng lầy” của sự buông thả, đánh mất mình trong cuộc sống hiện sinh mà “không hiện hữu” (L’inexistence).

Nho thoi van chuong hoc tro 03
J Paul Sartre (1905-1980)

Họ đến với:- J Paul Sartre (1905-1980), để thấy rằng: mọi sự hiện hữu hoàn toàn vô lý. Không thể có gì là chân lý cả ! vì mọi sự là vô lý, nên sự hiện hữu của chúng, tất cả, đều là ghê tởm đáng nôn mửa. Sartre cho biết nhân vật của ông phạm tội ác để có thể chứng minh rằng con người hoàn toàn tự do, không hối hận gì, giải phóng mọi thành kiến luân lý. Rằng thì: “Các anh được giải thoát mọi thành kiến của giai cấp, mọi cản trở của khu vực các anh sống, của nền giáo dục. Các anh được giải thoát khỏi tín ngưỡng tôn giáo, khỏi sự quyến rũ của sự hy sinh; các anh được giải thoát khỏi mọi phong thái của gia đình, của luân lý; thoát khỏi sự áp chế của lứa đôi (hôn nhân), của sự cám dỗ làm điều thiện. Các anh được giải thoát cả lòng kính yêu Tổ quốc nữa… Các anh chỉ còn phải bước một bước nữa là tới chỗ giải phóng hoàn toàn: ấy là tội ác” (Homme libre,1943). Tư tưởng của Sartre đã dẫn đến quan niệm cho cuộc đời là phi lý, mỗi người tự chọn đời mình, sống một cách ích kỷ trên hết, và kể cả làm tội ác !

Nho thoi van chuong hoc tro 04
André Gide (1869-1951)

-André Gide (1869-1951) trong cuốn “Les Nourritures Terrestres”, chủ trương sống phung phí buông thả “không chống lại mình nữa, ưng thuận hưởng lạc một cách tự do”. Gide nói: “Nếu ban đầu tôi đừng nhịn uống thì đâu có khát khao nhiều”. Ở cuốn “L’immoraliste” (Kẻ Vô luân), Gide ca ngợi đạo cảm giác và đưa đạo đó lên hàng nhân bản chủ nghĩa; từ chối mọi cái gì là vĩnh cửu, là lý tưởng, là cao xa. Chỉ có một thái độ đáng kể: sống thành thực, thành thực bằng cả thân xác cuồng loạn của con người.

Tư tưởng của Gide cực kỳ nguy hiểm, giết chết lý tưởng sống cao đẹp của thanh niên, tàn phá xã hội loài người ! Không thể đổ lỗi cho Chúa theo cái kiểu “Chúa đã đặt khó khăn vào xác thịt tôi” – “tôi có chọn như vậy đâu”- như Charles Péguy: “Seigneur qui les avez pétris de cette terre – Ne vous étonnez pas qu’ils soient trouvés terreux” – ( Lạy Chúa, là đấng đã nhào nặn nên loài người bằng đất này, xin Người chớ ngạc nhiên khi thấy họ dính mùi tục lụy).

Nho thoi van chuong hoc tro 05
André Malraux (1901-1976)

-André Malraux (1901-1976) băn khoăn về “thân phận con người” – tại sao sống? và sống để làm gì? Theo Malraux : con người chỉ có một sự đam mê đáng kể – đó là đam mê khủng bố giết chóc, vì nó giúp cho ta dùng hết sức lực của mình … Hành động bao giờ cũng chỉ là một lối giải thoát sức lực, trốn tránh ưu tư, mặc dù không bao giờ tránh được. Malraux quan niệm ám sát kẻ thù nhưng không vì lý tưởng nào cả; chỉ vì căm ghét loài người, vì nôn mửa trước những tình cảm tốt đẹp – và cho rằng: “Hành động không vì bất kỳ ai. Có chăng vì một kẻ khác dòm ngó vào hành động của ta”.

Nhắc lại để thấy đã có một thời chao đảo khủng hoảng niềm tin nơi vùng thành thị miền Nam (1954-1975). Và, chúng tôi, bọn trẻ sinh nhầm thế kỷ, “óc não” già trước tuổi, đã để lại trong đó phần đời “hoang phế” của mình như vậy …

Phan Văn Thạnh

(Saigon,viết 2013 – chỉnh sửa Tháng Giêng 2020)