Nhạc sĩ Khánh Băng và bốn vùng chiến thuật rộn ràng
Vưu Văn Tâm
“Tôi sáng tác từ thời còn mặc quần cộc nên cũng chẳng nhớ nhạc phẩm đầu tay là bài nào. Có điều tôi sẽ chẳng bao giờ quên được ngày 15 tháng 3 năm 1955, đài phát thanh Sài-Gòn lần đầu tiên phát bài hát của tôi, đó là bài ‘Nụ cười thơ ngây’. Còn được thành danh là nhờ bài ‘Vọng ngày xanh’ sáng tác năm 1956, được nữ văn sĩ Françoise Sagan viết lời Pháp nên tôi được Hội tác quyền thế giới mời gia nhập”
(Nhạc sĩ Khánh Băng)
“Kích động nhạc chẳng qua chỉ là một cách gọi để chỉ các bản nhạc có tiết tấu nhanh, sôi động. Trước tôi đã có nhiều nhạc sĩ sáng tác thể loại này như Lê Yên với Ngựa phi đường xa, Y Vân với Sài-Gòn .. Tuy nhiên, những bài hát Sầu đông, Có nhớ đêm nào, Tiếng mưa rơi do tôi sáng tác vào khoảng năm 1962 vẫn được coi là những bài nhạc trẻ đầu tiên ở Việt-Nam. Mà tôi đâu chỉ viết nhạc kích động, tôi cũng viết nhạc trữ tình dưới các bút danh khác như Anh Minh, Nhật Hà, v.v..”
(Nhạc sĩ Khánh Băng)
“Nhắc đến nhạc sĩ Khánh Băng tôi liền nhớ đến hình ảnh chàng nhạc sĩ cao lớn với vẻ ngoài điển trai. Ông là người sống kín tiếng, ít khi trải lòng về cuộc đời. Âm nhạc của Khánh Băng rất đa dạng và có nhiều ca khúc để đời, sống mãi cùng thời gian”
(Ca sĩ Thái Châu)
****
Kính thưa quý vị và các bạn chiến sĩ,
Trong 6 năm phục vụ công tác văn nghệ quân đội, chúng tôi đã trình đi trình diễn trên hầu hết 4 quân khu, kể cả những tiền đồn xa xôi hẻo lánh, thiếu hẳn những phương tiện cần thiết.
Tại những nơi này, chúng tôi được các bạn chiến sĩ tiếp đón một cách nồng hậu cũng như đã được các cấp chỉ huy nâng đỡ về tinh thần, giúp đỡ bằng phương tiện và đôi khi bằng vật chất cũng có. Những ân tình đó theo tôi nhận thấy, với những lời cảm tạ thông thường tại chỗ không thể nào diễn đạt hàm súc được hết ý nghĩa.
Vì lẽ đó, trong nhạc phẩm “Giờ này anh ở đâu”, tôi xin thay vay mượn tâm tình của những người em gái hậu phương đối với những người yêu đang có mặt tại khắp chiến trường, hầu ghi lại các đơn vị hoặc binh chủng mà tôi đã từng thăm viếng. Tôi hy vọng với hình thức này, ý nghĩa cảm tạ của tôi sẽ được nêu lên một cách thiết thực, công khai và lâu dài hơn. Tuy nhiên, vì khuôn khổ quá eo hẹp và vì luật sáng tác giới hạn nên còn thiếu sót nhiều đơn vị khác. Xin các bạn thông cảm cho.
Ước mong nhạc phẩm này sẽ được phổ biến sâu rộng trong mọi giới, nhứt là trong hàng ngũ các bạn quân nhân để ý nghĩa cao đẹp của cá nhân tôi không bị mai một hay ít ra cũng nhắc nhở được phần nào những hình ảnh oai hùng và những chiến tích lẫy lừng của Quân Đội Việt-Nam Cộng Hòa nói chung.
Chào quyết thắng
Hạ sĩ Phạm Văn Minh tức nhạc sĩ Khánh Băng
****
1. Khánh Băng, người nhạc sĩ âm thầm nâng tiếng tơ đàn dịu dàng, mơ màng
Nhạc sĩ Khánh Băng (1935-2005) tên thật là Phạm Văn Minh, sinh quán tại Thắng-Tam, thị xã Vũng-Tàu. Nghệ danh Khánh Băng được ghép từ tên của 2 cô bạn thân, một người tên Khanh, một người tên Băng và được ông thêm vào dấu sắc. Ngoài ra, Khánh Băng còn dùng thêm bút danh khác như Anh Minh, Thanh Hà, Thùy Thanh Lam và Nhật Hà.
Say mê âm nhạc từ nhỏ, Khánh Băng tự làm quen với cây đàn mandolin. Năm 14 tuổi, ông tập tành sáng tác với sự góp ý, sửa chữa của nhạc sĩ Võ Đức Thu. Ở ngôi trường Huỳnh Khương Ninh, Khánh Băng cùng với Vân Hùng, Tùng Lâm thành lập ban nhạc và trình diễn miễn phí cho các đám cưới.
Được sự khuyến khích của nhạc sĩ Võ Đức Thu, Khánh Băng tham dự cuộc thi tuyển lựa tài tử do đài phát thanh Pháp Á tổ chức năm 1954 và trở thành nhạc công đàn mandolin ở đài phát thanh Sài-Gòn. Do đàn mandolin không thể phát huy tài năng nên ông chú tâm rèn luyện đàn guitar và cũng là người Việt-Nam đầu tiên đệm guitar điện trên sân khấu từ những năm 1953.
Vào năm 1955, với sự giới thiệu của Tùng Lâm, Khánh Băng gia nhập ban Sầm Giang của nhạc sĩ Trần Văn Trạch rồi ban kịch Dân Nam của Anh Lân và Túy Hoa. Từ đó, ông xuất hiện thường xuyên ở các sân khấu đại nhạc hội và phụ diễn ca nhạc với tiết mục độc tấu guitar thùng rồi đến guitar điện ở các phòng trà ca nhạc thủ đô.
Cuối thập niên 50, Khánh Băng gia nhập lực lượng công binh và gặp Phùng Trọng là tay trống danh tiếng. Cả hai thành lập ban nhạc “Thời Đại” quy tụ Duy Khiêm (bass), Lê Duyên (madoline), Nguyễn Ánh 9 (dương cầm), Tòng Sơn (harmonica) hợp cùng tiếng hát của Kiều Loan, Ngọc Vân, Duy Mỹ, .. và xuất hiện thường xuyên tại các phòng trà với dòng nhạc kích động (Swing, Agogo, Twist, ChaChaCha).
Hình ban kích động nhạc Khánh Băng & Phùng Trọng, đầu thập niên 70

Nhân dịp khánh thành đài truyền hình số 9 vào năm 1966, ban Thời Đại được vinh dự góp mặt và trở thành ban nhạc thường trực của đài dẫu trải qua nhiều lần thay đổi thành viên nhưng Khánh Băng và Phùng Trọng vẫn giữ vai trò nồng cốt.
Khánh Băng sáng tác rất sớm và nhiều nên không nhớ được ca khúc đầu tay của mình. Năm 1955, nhạc phẩm đầu tiên của ông được phát thanh trên đài Sài-Gòn là “Nụ cười thơ ngây” do ca sĩ Minh Trang và Anh Ngọc song ca và vụt sáng với nhạc phẩm “Vọng ngày xanh” vào năm 1966.
Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, nhạc sĩ Khánh Băng ở lại Việt-Nam và sinh sống với nhiều công việc khác nhau. Cuối năm 1991, ông sáng tác trở lại và được yêu thích qua những nhạc phẩm mang âm hưởng “ngũ cung”. Những năm cuối đời, ông bị mù do ảnh hưởng từ căn bệnh tiểu đường rồi qua đời tại nhà riêng và được an táng tại quê nhà Vũng-Tàu.
Khánh Băng sáng tác dồi dào và để lại cho đời rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại (nhạc kích động, nhạc lính, nhạc quê hương) như “Sầu đông”, “Có nhớ đêm nào”, “Nếu có nhớ đến”, “Tiếng mưa rơi”, “Vọng ngày xanh”, “Nếu một ngày”, “Ngày về quê cũ”, “Người lính chung tình”, “Trên nhịp cầu tre”, “Chờ người”, “Chiều đồng quê”, v.v.. cũng như một số nhạc phẩm được sáng tác với bút danh khác như “Sáu tháng quân trường” (Nhật Hà), “Chung niềm tâm sự” (Nhật Hà), “Chuyện” (Anh Minh), “Đóa hoa tình thương” (Nhật Hà), “Đường trần vạn nẻo” (Thanh Hà), “Giờ này anh ở đâu” (Nhật Hà), “Gối mộng” (Nhật Hà), “Hoa cưới nhà ai” (Thủy Thanh Lam), “Một chiều gặp gỡ” (Nhật Hà), “Nếu có xa nhau” (Nhật Hà), “Nỗi buồn đêm đông” (Anh Minh), “Tình yêu là gì” (Thủy Thanh Lam), “Trăng thề” (Nhật Hà), “Vườn tao ngộ” (Nhật Hà), v.v..
2. Giờ này anh ở đâu
Các thao trường, quân trường ở khắp bốn vùng chiến thuật từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà-Mau bỗng chợt rộn ràng khi cuộc chiến quốc cộng đã đến hồi khốc liệt. Từng lớp trai trẻ tạm biệt mái trường và chia tay tình yêu đầu đời để lên đường theo tiếng gọi non sông. Từ trung tâm huấn luyện Quang-Trung, nơi huấn luyện các tân binh cho các quân, binh chủng cho đến trung tâm huấn luyện Biệt động quân ở thị trấn Dục-Mỹ rồi quân trường Lam-Sơn (Dục-Mỹ), Đồng Đế (Nha-Trang) đã ươm mầm cho tài trai xông pha bảo vệ từng tấc đất của quê hương trước họa xâm lăng của cộng quân ..
“Giờ này anh ở đâu
Quang-Trung nắng cháy da người
Giờ này anh ở đâu
Dục-Mỹ hay Lam-Sơn
Giờ này anh ở đâu
Đồng-Đế nắng mưa thao trường
Anh ở đâu, anh ở đâu”
Từ miền hỏa tuyến xa xôi hay nơi miền Pleiku gió núi cho đến vùng đất U-Minh muỗi vắc hằn lên dấu chân của người chiến sĩ quân lực Việt-Nam Cộng Hòa. Người nơi hậu tuyến vẫn nhớ đến các anh ngày đêm đối điện với quân thù không quản ngại gian lao, nguy hiểm ..
“Giờ này anh ở đâu
Pleiku gió núi biên thuỳ
Giờ này anh ở đâu
Miền Trung hoả tuyến địa đầu
Giờ này anh ở đâu
Miền Tây tiếng sét U-Minh rừng
Anh ở đâu, anh ở đâu”
Ở hậu phương, người yêu hay người tình vẫn yêu anh hoài và hứa giữ trọn lời thề sắt son, chung thủy. Kỷ niệm những ngày quen nhau rồi đem lòng thương mến nhau sẽ theo các anh trên từng bước quân hành ..
“Dù rằng anh ở đâu, anh ở đâu
Vẫn yêu anh hoài, vẫn yêu anh hoài
Yêu suốt đời
Vì lời thề xưa nở trên môi
Và một tình yêu đã lên ngôi
Kỷ niệm đầu tiên sống trong tôi
Trên đường ta bước chung đôi”
Các binh chủng không quân, thủy quân lục chiến, nhảy dù hay kỵ binh thiết giáp đang hiện diện trên khắp nẻo đường chinh chiến thể hiện tinh thần yêu nước trước sau như nhất, không đầu hàng trước kẻ thù hay trước mọi hoàn cảnh. Những cánh hoa rừng, hoa dù, hoa biển dù đang ở nơi nào trên đất mẹ nguyện một đời vị quốc vong thân. Người nơi hậu tuyến với những trăn trở, ưu tư và mong mỏi ngày đoàn viên với nguyên vẹn hình hài của người thuơng năm cũ ..
“Giờ này anh ở đâu
Không quân vỗ cánh đại bàng
Giờ này anh ở đâu
Thủy quân lục chiến kiêu hùng
Giờ này anh ở đâu
Vượt đường xa thiết giáp anh tung hoành
Anh ở đâu, anh ở đâu”
Sau những trận đối đầu kinh hoàng ở Tây-Ninh hay cuộc “hành quân Lam-Sơn 719” toàn thắng trên đất Hạ-Lào là những ngày dưỡng quân ở trại Hoàng Hoa Thám của sư đoàn nhảy dù gần căn cứ không quân Tân-Sơn-Nhứt. Giây phút đạn bay súng nổ đã qua, người người hân hoan trước cuộc vui tương phùng ..
“Giờ này anh ở đâu
Tây-Ninh tiếp ứng biên thành
Giờ này anh ở đâu
Giặc tan trên đất Hạ-Lào
Giờ này anh ở đâu
Trại Hoàng-Hoa tung gió cánh hoa dù
Anh ở đâu, anh ở đâu”
“Giờ này anh ở đâu” là tình yêu quê, mến đất của người trai lớn lên trong thời loạn. Họ gác lại tình riêng, chấp nhận gian khổ nơi thao trường, chiến trường và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ từng tấc đất của quê hương. Người mẹ, người vợ, người thuơng nơi hậu phương giữ trọn lòng thủy chung với người lính trận miền xa và tin tưởng tuyệt đối vào một ngày mai tươi sáng. Những địa danh một thời chinh chiến được ân cần nhắc nhở cũng như tên tuổi các anh dẫu không được tạc trên tượng đồng, bia đá nhưng mãi mãi sẽ ghi vào trang sách sử của dân Việt oai hùng.
TV


