Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA
Tôi sinh năm 1941 và năm nay là năm 2026 tôi đã được 85 tuổi rồi. Trong cuộc sống hơn 80 năm đó, tôi đã trải qua không biết bao nhiêu biến đổi, thăng trầm, lên có mà xuống cũng có, vui có mà buồn cũng có. Nhìn lại suốt cuộc hành trình đó, tôi đã cảm nhận được khá rõ ràng là tôi đã làm được một số chuyện do chính tôi sắp xếp và thực hiện, nhưng cũng có nhiều chuyện tôi hoàn toàn không kiểm soát được. Bài viết này là một cố gắng ghi lại những sự kiện và sự việc trong cuộc đời tôi chứng minh được cái Chân Lý mà Ông Bà ta đã dạy con cháu từ ngàn xưa là “Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên.”
Thời Còn Đi Học
Bậc Tiểu Học
Tôi học suốt 5 năm (1948-1953) của bậc Tiểu Học tại Trường Nam Tiểu Học Đakao nằm trên đường Boulevard Albert 1er (sau năm 1954, được đổi tên thành Đại Lộ Đinh Tiên Hoàng, và tên mới này được giữ mãi cho đến ngày hôm nay).
Trong thời gian 5 năm đó, tôi học không dở lắm nhưng chưa bao giờ là một học sinh giỏi trong lớp cả. Vậy mà, cuối năm Lớp Nhứt A (niên khóa 1952-1953), tôi lại đạt được một thành tích đáng kể là “học sinh duy nhứt của 2 Lớp Nhứt A và Lớp Nhứt B của Trường Nam Tiểu Học Đakao đã trúng tuyển vào lớp đệ thất của ngôi trường trung học lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Miền Nam là Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, thường được gọi tắt là Trường Petrus Ký.”
Bậc Trung Học
Tôi đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại Trường Petrus Ký.
Tôi đã đậu vào Trường Petrus Ký với hạng 355 trên tổng số 550 thí sinh trúng tuyển năm đó, nghĩa là rât “thường thường bậc trung.”
Trong thời gian học 4 năm (1953-1957) của bậc Đệ Nhứt Cấp, tôi cũng chỉ là một học sinh rất trung bình. Cuối năm Lớp Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), tôi được xếp hạng 22 trên 50 học sinh. Cuối năm Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956), tôi được xếp hạng 14 trên 49 học sinh. Sang năm sau, ở Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957), tôi bỗng nhảy vọt lên, và cuối năm, tôi được xếp hạng 5 trên 46 học sinh, và thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp với Hạnh Bình Thứ:

Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp – Khóa thi ngày 6-6-1957 – Hạng Bình Thứ
Trong thời gian học 3 năm (1957-1960) của bậc Đệ Nhị Cấp, tôi học càng ngày càng khá hơn. Cuối năm Lớp Đệ Tam (niên khóa 1957-1958), tôi được xếp hạng 2 trên 62 học sinh. Cuôi năm Lớp Đệ Nhị A (niên khóa 1958-1959), tôi được xếp hạng 2 trên 64 học sinh. Và cuối năm Lớp Đệ Nhứt A1 (niên khóa 1959-1960), tôi được xếp hạng 5 trên 62 học sinh. Và tôi cũng đã thi đậu cả 2 bằng Tú Tài 1 (năm 1959, Hạng Bình Thứ) và Tú Tài 2 (năm 1960, Hang Thứ).
Sau khi thi đậu bằng Tú Tài 2, tôi nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển rất khó khăn vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa, và, cũng rất may mắn, do sự sắp xếp cũa Ơn Trên, tôi cũng đã trúng tuyển, và được xếp Hạng 4 trên tổng số 35 thí sinh trúng tuyển của năm đó.
Bậc Đại Học
Trong thời gian học 3 năm (1960-1963) tại ĐHSPSG, Ban Sử Địa, tôi cũng đã là một sinh viên giỏi, và đã được xêp hạng trong các kỳ thi cuối năm như sau:
• Thi lên năm thứ hai: tôi đã đậu Hạng 3
• Thi lên năm thứ ba: tôi đã đậu Hạng 2
• Thi ra trường: bạn bè ai cũng nghĩ là tôi sẽ đậu Thủ Khoa, nhưng thật đáng buồn, tôi bị tuột xuống đến hạng 13, tuy vẫn còn là đậu Hạng Bình Thứ; lý do là vì khoảng 1 tuần lễ trước ngày thi tôi bị bệnh rất nặng, đã tưởng là không thể dự thi rồi, chính trong ngày thi Mẹ tôi phải mướn 1 xe taxi và đích thân đưa tôi đến trường dự thi.
Chứng Chỉ Tốt Nghiệp ĐHSPSG với Hạng Bình Thứ – Giáo Sư Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký ngày 24–4-1963
Thời Gian Làm Việc Tại Việt Nam
Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (1963-1966)
Tôi đã dạy học, môn Sử Địa, trong 3 năm (1963-1966), cho các lớp đệ nhị cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiên Hòa (Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa). Tại thời điểm này, Trường Kiến Hòa có tất cả 15 lớp đệ nhị cấp, gồm 6 lớp đệ tam, 6 lớp đệ nhị (cuối năm sẽ đi thi bằng Tú Tài 1), và 3 lớp đệ nhứt (cưối năm sẽ đi thi bằng Tú Tài 2). Lúc đó, tại Trường Kiến Hòa đã có một giáo sư môn Sử Địa rồi. Đó là Giáo Sư Lê Như Dực, một đàn anh của tôi, tốt nghiệp Ban Sử Địa, ĐHSPSG, Khóa 1 (1959-1961). Theo quy định của Bộ Giáo Dục, các giáo sư đệ nhị cấp, để được hưởng Phụ Cấp Sư Pham (khoảng 800 đồng một tháng), phải dạy 16 giờ 1 tuần và nếu có dạy các lớp đi thi thì được giảm 1 giờ, còn 15 giờ thôi. Sau khi bàn với nhau, để giảm bớt việc soạn bài, anh Dực và tôi quyết định phân công như sau: Anh Dực sẽ dạy 15 Sử và tôi sẽ dạy 15 giờ Địa. Thế là tôi nghiễm nhiên trở thành “Ông Địa” của Trường Kiến Hòa.
Trong vai trò “Ông Địa” tôi đã cố gắng dạy thật tốt môn học này vốn đã từ lâu bị học sinh chê là khô khan, không có gì hấp dẫn, và thường “cúp cua” bỏ giờ học môn này. Kết quả của cố gắng của tôi là, chẳng bao lâu, tôi đã tạo được một thành tích đáng kể là chấm dứt được cái nạn “cúp cua” đó của học sinh. Tôi đã giảng cho các em hiểu rõ các loại hình khí hậu khác nhau trên thế giới, tác động của khí hậu lên đời sống nhân văn, chính trị, và kinh tế của các dân tộc, và tại Việt Nam, tôi đã giúp các em hiểu rõ, thật rõ, Gió Mùa là gì, Gió Lào là gì, Gió Chướng là gì, vv., tại sao Miền Bắc thì phải đắp đê còn Miến Nam thì hoàn toàn không cần phải đắp đê, và tại sao chỉ có vùng Phan Rang, Phan Thiết, ở Nam Trung Phần, lại có những cồn cát như vậy.
Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (1966-1971)
Sau khi dạy học 3 năm (1963-1966) tại Trường Kiến Hòa, tháng 9-1966, tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).
Chính tại ngôi trường tân tiến nhứt của cả nươc này, do một ngã rẽ bất ngờ và may mắn,[1] tôi đã chuyển sang làm công tác thư viện. Sau khi dự một khóa huấn luyện căn bản thư viện học trong 3 tuần lễ tại Sài Gòn do Cơ Quan Phát Triển Thư Viện (Library Development Authority = LDA, một đơn vị cua Cơ Quan Viện Trợ Mỹ, United States Agency for International Development = USAID) tổ chức, đã làm thật tốt công tác thư viện cho trường. Ông cố vấn, John Lee Hafenrichter, đứng đầu LDA, đã lên Trường KMTĐ để viếng thăm thư viện nhiều lần và đã rất hài lòng về những việc tôi đã làm cho thư viện. Do đó ông quyết định đề nghị và được USAID chấp thuận cấp cho tôi một học bổng đi du học tại Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, thuộc Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU), tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York. Tôi đã tốt nghiệp SLSSU với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) vào cuối tháng 5-1973 và lên đường về nước.
Hội Thư Viện Việt Nam
Đầu năm 1974, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tịch Ban Chấp Hành của Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN). HTVVN đã đề ra một chương trình hoạt động vơi các dự án như sau:[2]
• Xuất bản Thư Viện Tập San (TVTS)như một quý san, ba tháng ra một số, một năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ Bản Tin (BT), mỗi tháng ra một số, giữa các số của TVTS
• Tổ chức 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên
• Tổ chức một Đại Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội
• Chấn chỉnh và kiện toàn tình trạng hội viên của Hội
• Ấn hành một số tài liệu chuyên môn
Để có đủ phương tiện tài chánh thực hiện các dự án hoạt động đó, với tư cách Chủ Tịch HTVVN, tôi đã đích thân đi gặp ông Julio Andrews, Chủ Tịch Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (President, The Asia Foundation) để xin tài trợ. Ông Andrews đã tiếp tôi rất niềm nở và đồng ý tài trợ tất cả các dự án đó. Nếu tôi nhớ không lầm thì số tiền tài trợ đó lên đến trên hai triệu đồng, một số tiền rất lớn vào lúc đó. Nhờ vậy, HTVVN đã thực hiện được hiện được hết tất cả các dự án đó, đặc việt là 2 khóa luyện. Các Lễ Khai Giảng và Lễ Bế Giảng đều được tổ chưc rất long trọng tại Đại Giảng Đường 19 của Viện Đại Học Vạn Hạnh và đặt dưới sự đồng chủ tọa của Thượng Tọa Thich Mãn Giác, Phó Viện TRưởng, Viện Đai Học Vạn ạnh và Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa.
Tôi, với tư cách Chủ Tịch HTVVN, đã gởi thiệp mời đến tất cả các hội doàn văn hóa công và tư đến dự các buổi lễ này, và, do đó, đã gây được tiếng vang tối và nâng cao vị thế cua HTVVN trong cộng đồng các hội đoàn văn hóa công và tư tại thủ đô Sài Gòn. Nhờ vậy, tôi đã được các hội đoàn văn hóa tư bầu vào Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (HĐVHGD), một trong 3 hội đồng hiến-định do Hiến Pháp VNCH năm 1967 thành lập, và đặt dưới sự chủ tọa của Phó Tổng Thống VNCH, lúc đó là ông Trần Văn Hương.
Giáo sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa, đọc diễn văn tại Lễ Khai Giảng Khóa Huấn Luyện
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, trao Chứng Chỉ Tốt Nghiệp cho Học viên Khóa Huấn Luyện
Tiệc trà sau Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện tại Câu Lạc Bộ của Viện Đại Học Vạn Hạnh
Ban Thư Viện Học
Được chứng kiến tận mắt khả năng chuyên môn cao cũng như tinh thần hoạt động bất vụ lợi của anh chị em trong Ban Chấp Hành HTVVN, hoàn toàn phù hợp với đường lối giáo dục của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trường, quyết định thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH), trực thuốc Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, lúc đó Khoa Trưởng là Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên.
BTVH đã khai giảng vào đầu năm học 1974-1975 với 70 sinh viên và với các giáo trình như sau:[3]
Học Kỳ 1:
• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I
• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện
• Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu
• Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện
Học Kỳ 2:
• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II
• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn
• Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát
• Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I
Học Kỳ 2 khởi sự vào khoảng tháng 3-1975 đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm của ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH. BTVH của ĐHVH đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử Nhân Thư Viện Học nào cho VNCH.
Thời Gian Làm Việc Tại Canada
Tại Thành Phố Montréal, Tỉnh Bang Québec
Nhờ sư bảo lãnh của Anh Tư tôi, Giáo Sư Tiến Sĩ Lâm Vĩnh-Tế, Trưởng Ban Hóa Học, CEGEP Bois-de-Boulogne tại Montréal (CEGEP = Centre d’enseignement général et professionnel), tôi mang được gia đình tôi, gồm hai vợ chồng tôi và 2 đứa con trai, Dũng 17 tuổi và Trung 5 tuổi, rời khỏi Việt Nam đi định cư tại Canada. Chúng tôi đặt chân xuống Phi trường Mirabel của Montréal vào buổi chiều Ngày Thu Phân 23-9-1981.
Vì người bảo lãnh, Anh Tư tôi, sống tai Montréal, gia đình tôi cũng phải sống tại đây. Do khuynh hướng và chủ trương kỳ thị tiếng Anh của người dân và chính phủ Québec, tôi không tìm được việc làm chuyên môn về thư viện, và tôi phải chấp nhận một công việc làm lao động khuân vác trong một kho hàng, làm ca đêm, từ 4 giơ chiều đến 12 giờ khuya. Nhiều đêm, lúc xong việc và đứng đón xe buýt trong cái lạnh kinh người của mùa Đông Canada, tôi đã không cầm được nước mắt vì quá tủi thân: từ địa vị một giáo sư đại học tai Việt Nam tôi đã rơi xuống nấc thang tột cùng trong xã hội Canada là làm một anh cu li.
Niềm an ủi lớn cho tôi trong thời gian này là sự quan tâm, ưu ái của Ân Sư Pauline Atherton, giáo sư hướng dẫn, academic advisor, của tôi trong thời gian 2 năm, 1971-1973, lúc tôi học tại Trường Thư Viện Hoc của Viện Đai Học Syracuse, tiểu bang New York, Hoa Kỳ (School of Library Science, Syracuse University, Syracuse, New York), về sau, khi đã lập gia đình với Giáo Sư John Cochrane, bà mới đổi tên thành Pauline A. (Atherton) Cochrane. Sau khi tôi đến Canada được độ 2 tuần, Bà dã gọi phone sang thăm, và sau đó đã đóng học phí cho tôi theo học một giáo trình về Biên Mục Sử Dụng Máy Điện Toán (Computerized Cataloging) tại Trường Thư Viện Hoc của Viện Đại Học McGill ở Montréal. Gần cuối khóa học, vào đầu tháng 4-1982, thì tôi tìm được một công việc làm hợp đồng (contract job) 12 tháng trong Thư Viện của Bộ Canh Nông tại thủ đô Ottawa của Canada
Ân Sư Pauline Atherton Cochrane chụp năm 2011
Tại Thủ Đô Ottawa Của Canada
Vợ chồng tôi rất vui mừng và quyết định dọn nhà từ Montréal lên Ottawa để 2 đứa con của chúng tôi được theo học chương trình giáo dục bằng tiếng Anh, Dũng, 18 tuổi, vào Lớp 10 tại Trường Trung Học Glebe Collegiate ở downtown, và Trung, mới 6 tuổi, vào học Lớp 1 tại Trường Tiểu Học Cambridge ở gần nhà.
Công việc làm tại Thư Viện của Bộ Canh Nông là một dự án chuyển đổi các thẻ thư mục đánh máy (typed catalog cards) của bộ sưu tập tạp chí (gồm 30.000 nhan đề) sang dạng ký lục thư tịch điện tử (electronic bibliographic records). Dự án này đã được lên kế hoạch làm làm trong 5 năm, mỗi năm 6.000 nhan đề, vị chi mỗi tháng làm 500 nhan đề. Lúc tôi bắt đầu làm thì là đầu năm của năm thứ ba. Tôi yên tâm làm việc vì cứ nghĩ là sẽ còn có thể ký hợp đồng thêm 2 năm nữa.
Sau khoảng nửa năm, một hôm, bà Joyce MacKintosh, Phó Giám Đốc Thư Viện, gọi tôi vào phòng làm việc của bà và báo cho tôi biết là Bộ Canh Nông đã bị cắt ngân sách và dự án này phải chấm dứt vào cuối năm. Sau đó bà hỏi tôi có muốn dạy học không, tôi trả lời bà ngay là tôi rất muốn. Bà liền gọi điện thoại ngay cho bà Jean Painter, Trưởng Ban, Chương Trinh Đào Tạo Nhân Viên Thư Viện Trung Cấp (Manager, Library Technician Program) tại Trường Đại Học Cộng Đồng Algonquin tại Ottawa (Algonquin Community College, Ottawa) để giới thiệu tôi. Bà Painter mời tôi sang gặp bà. Sau khi phỏng vấn tôi độ nửa giờ, bà Painter nhận tôi vào Ban Giảng Huấn và giao cho tôi phụ trách giảng dạy bộ môn Biên Mục Mô Tả (Descriptive Cataloging). Sau đó, tôi đã dạy học tại đây trong 2 niên khóa (1985-1986) cho dến khi tôi rời Ottawa đi Hamilton, thuộc tiểu bang Ontario, để nhận một công việc làm mới.
Tại Thành Phố Hamilton, Tỉnh Bang Ontario
Đầu tháng 7-1984, một hôm, đọc báo The Globe and Mail, tôi thấy một cơ quan liên bang tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, có đăng một thông cáo tìm người, mà tìm một lúc 5 nhân viên luôn, một chuyện ít khi thấy xảy ra: [4]
• Manager, Online Catalogue
• Inventory Cataloguer
• Canadiana Cataloguer
• Subject Cataloguer
• Physical Hazards Information Scientist
Tôi gởi đơn xin dự tuyển chức vụ thấp nhứt là Inventory Cataloguer vì nghĩ rằng mình còn chưa vô quốc tịch, không nên với cao. Tôi được mời đến phỏng vấn vào ngày 15-8-1984, được nhận vào ngày 23-8-1984 với lương năm khởi sự là 27.491 đô la Canada.
Văn Thư CCOHS – Lương Năm $27.491 của Inventory Cataloguer
Thật không có bút mực nào có thể diễn tả được hết nổi vui mừng của tôi hôm đó vì đây là một công việc làm quá tốt, thường trực (permanent), toàn thời gian (full-time), và lương cao (high-salaried job).
Tôi đã làm việc cho CCOHS được 8 năm và làm thật tốt, trải qua các chức vụ như sau:
• Inventory Cataloguer: 1984-1985
• Manager, Online Catalogue: 1985-1986
• Manager, Database Development Department: 1986-1988
• Manager, Database and Information Resource Development Department: 1988-1992
Cuối năm 1991, lương năm của tôi đã lên đến 71.259 đô la Canada:
Văn Thư CCOHS – Lương năm $71.259 của Manager, Database and Information Resource Development Department.
Tôi cứ nghĩ là có thể yên tâm làm việc cho CCOHS cho đến ngày về hưu. Nhưng thật quả đúng như lời Ông Bà mình thường khuyên con cháu: “Chuyện đời khó nói. Ai mà biết trước được chuyện tương lai.”
CCOHS được thành lập trong thời gian cầm quyền của Đảng Tự Do (Liberal Party = Parti libéral) có chủ trương ủng hộ giới công nhân. Bây giờ, ở năm 1992 này, chính quyền đã vào tay Đảng Bảo Thủ (Conservative Party = Parti conservateur) có chủ trương ủng hộ giới chủ nhân. CCOHS trở thành cái gai trong mắt họ, và họ quyết tâm phá hoại CCOHS. Chuyện đầu tiên họ làm là cách chức ngay lập tức Tiến Sĩ Gordon Atherley, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động nổi tiếng cả thế giới, và thay thế bằng một ông Trung Tướng (tướng 3 sao) hồi hưu của Lục Quân Canada, Arthur St.-Aubin, không biết gì hết về an toàn lao động mà cũng chẳng có kinh nghiệm gì về quản trị cả. Kế tiếp họ dùng đủ cách ép các vị Giám Đốc (Directors) phải từ chức (showing the door), và sau cùng là cho nghỉ việc hết tất cả (16) Trưởng Ban (Managers). Tôi bị cho nghỉ việc vào ngày 30-9-1992.
Năm Năm Trời Lận Đận
Sau khi bị mất việc tại CCOHS, tôi đã phải trải qua một thời gian 5 năm làm các công việc hợp đồng ngắn ngủi, lặt vặt, có khi 6 tháng, có khi 3 tháng, thậm chí có một lần cỉ có 1 tháng thôi (thay thế cho một nhân viên văn phòng bị thương nhẹ trong một tai nạn xe hơi và phải nằm nhà thương 4 tuần lễ).
Đầu tháng 5-1997, tôi đọc báo The Globe and Mail và thấyThư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan, tại thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong Vùng Đại Bình Nguyên của Canada (Canada’s Grande Prairie), đang tuyển người cho chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Manager, Cataloguing Department). Tôi nộp đơn ngay xin dự tuyển, được mời đến (phải đi máy bay vì Saskatoon cách Hamilton đến 1795 miles = 2889 km) phỏng vấn vào ngày 2-6-1997, và hơn 2 tháng sau tôi mới nhận được điện thoại từ ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, báo tin là tôi đã được nhận. Ngày 2-9-1997, tôi chính thức bắt đầu làm việc tại Thư Viện của Đại Học Saskatchewan với chức vụ Trưởng Ban Biên Mục,[5] với cấp bậc Librarian 3 và với thời gian thử thách (probation period) là 3 năm (1997-2000).
Tại Thành Phố Saskatoon, Tỉnh Bang Saskatchewan
Khi tôi nhận việc, Ban Biên Mục gồm có 22 nhân viên: 4 Quản Thủ Thư Viện (Librarians) có bằng MLS như tôi, và 18 Library Assistants (LA) trong số chỉ có vài người đã được đao tao chinh quy về thư viện từ các đại học công đồng tại địa phương, số còn lại chỉ là “nghề dạy nghề, sống lâu lên lão làng.” Họ biết khá rõ công việc làm của họ, nói chung là “biết làm như thế nào” nhưng rõ ràng là họ không biết “tại sao phải làm như vậy.” Tôi soạn thảo chương trình và nội dung cho một khóa huấn luyện 4 ngày về căn bản của bộ môn Biên Mục và trình lên Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) và được LMC chấp thuận.
Sau khóa huấn luyện, một đa số rất lớn các học viên (các LA) đã đánh giá khóa huấn luyện từ VERY GOOD đến EXCELLENT.
Sau 3 năm, vào ngày 10-1-2000, tôi đã nhận được Văn Thư của Tiến sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ, và cũng là Chủ Tịch Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, thông báo là tôi đã chính thức được nhận vào biên chế thường trực (Permanent Status hay Tenure) của Đại Học Saskatchewan, kể từ ngày 1-7-2000, với lời lẽ như sau: [6]
“The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure. I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000.
The award of tenure is an extremely important step for both you and the university. In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.”
(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận. Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000. Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viện Đại Học. Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan,”)
Một vài tuần sau đó, tôi được LMC thăng cấp, đề cử tôi giữ chức vụ mới là Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật, (Head, Technical Services Division) của Thư Viện, chịu trách nhiệm cả 2 Ban của Khối là Ban Biên Mục (mà tôi đang là Trưởng Ban) và Ban Thủ Đắc (Acquisitions Department), và, do đó, tôi cũng trở thành một thành viên thường trực của LMC luôn.
Thăng Cấp Lên Librarian 4
Sau khi hoàn tất 3 năm thử thách, tôi được ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện, đề nghị với Đại Học cho tôi thăng cấp lên Librarian 4 (cấp cao nhứt của quản thủ thư viện đại học -academic librarians- của Bắc Mỹ). Việc thăng cấp này là một quá trình kéo dài hơn nửa năm và rất cay đắng đối với tôi vì phải vượt qua sự ganh tị, nhỏ nhen rất đáng xấu hổ của các đồng nghiệp trong Thư Viện. Sau cùng, chính Tiến Sĩ Atkinson, quá bực mình và chán ghét trước các hành động ganh tị, nhỏ nhen đó, đã đơn phương, bỏ qua hết tất cả những sự chống đối cực kỳ vô lý đó, chính thức thăng cấp cho tôi lên Librarian 4, kể từ ngày 1-7-2002:[7]
“On behalf of the University Review Committee, I am pleased to inform you that the Committee has recommended to the Board of Governors that you be promoted to the rank of Librarian IV effective July 1, 2002. Congratulations! You should receive a letter from the Board of Governors later this month.
The documentation provided supporting your case demonstrates that your colleagues, both on campus, across Canada, and beyond, have recognized your accomplishments to date. Our recommendation to the Board of Governors is a vote of confidence in you as a senior member of the university community and in your continuing contribution to the academic life and vitality of the University of Saskatchewan.”
(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Thay mặt Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học, tôi vui mừng báo tin cho ông là Ủy Ban đã khuyến cáo với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học để ông được thăng cấp lên Quản Thủ Thư Viện Bậc IV kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2002. Xin chúc mừng ông! Ông sẽ nhận được văn thư của Hội Đồng Quản Trị vào cuối tháng này. Hồ sơ đã được đệ trình để hỗ trợ cho trường hợp của ông đã chứng minh rằng các đồng nghiệp của ông tại trường cũng như từ khắp Canada, và cà quốc tế, đã công nhận những thành quả mà ông đã đạt được cho đến ngày hôm nay. Khuyến cáo của chúng tôi với Hội Đồng Quản Trị của Đại Học là một lá phiếu xác nhận sự tin tưởng của chúng tôi đối với ông với tư cách là một thành viên cao cấp của cộng đồng đại học, và đối với sự tiếp tục đóng góp của ông cho sự nghiệp và sức sống của Đại Học Saskatchewan.”)
Nghỉ Phép Đi Làm Nghiên Cứu (Sabbatical Leave)
Đại Học Saskatchewan, cũng như tất cả các đại học tại Bắc Mỹ, có quy chế cho phép các giáo sư được nghỉ phép dài hạn để đi làm nghiên cứu (Sabbatical Leave) như sau: 1) Nghỉ 6 tháng và được hưởng 100% lương sau khi đã làm việc được 3 năm; và 2) Nghỉ trọn một năm 12 tháng và được hưởng 80% lương sau khi làm việc được 6 năm. Ngoài ra, Đại Học Saskatchewan còn có thêm một quy chế đặc biệt nữa là xếp các quản thủ thư viện vào chung một nghiệp đoàn với các giáo sư. Vì vậy, tôi cũng được quyền nghỉ Sabbatical Leave.
Đầu năm 2003, sau khi đã làm việc được 6 năm, tôi đã hội đủ điều kiện để đi Sabbatical Leave, và tôi đã làm đơn xin nghỉ phép và đã được chấp thuận. Trong thời gian nghỉ Sabbatical Leave 1 năm đó, tôi đã hoàn tất được 2 dự án nghiên cứu, và sau đó đã viết thành 2 bài báo gởi đăng trên 2 tạp chí chuyên ngành thư viện của Hoa Kỳ:
• Quality control issues in outsourcing cataloging in United States and Canadian academic libraries, Cataloging & classification quarterly, vol. 40, issue 1 (2005), pp. 101-122.
• A Web-based online database of CIA declassified documents on the Vietnam War, Online, vol. 28, no. 4 (July/August 2004).
Nghỉ Hưu
Trước khi đi Sabbatical Leave, tôi đã có một phiên họp đặc biệt, do chính tôi yêu cầu, với ông Frank Winter, Giám Đốc Thư Viện Đại Học Saskatchewan. Tại phiên hop đó, tôi đã chính thức đề nghị và đã được ông Winter chấp thuận là, sau khi trở về Trường, tôi sẽ không giữ các chức vụ chỉ huy nữa, và sẽ chỉ làm công tác chuyên môn thôi với chức vụ là Senior Original Cataloguer. Và, vì vậy, tôi đã làm công tác chuyên môn này cho đến lúc tôi nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006.
Thay Lời Kết:
Bây giờ, sau khi đã nghỉ hưu được 20 năm, ở tuổi 85 này, nhìn lại suốt chặng đường hơn 80 năm đó, tôi có phần nào hãnh diện, tự hào vì đã làm được một số chuyện tốt cho dất nước, cho xã hội, nhưng đồng thời cũng có phần nào hối tiếc về những chuyện muốn làm mà không làm được. Tôi đã cảm nhận thật rõ sự trợ giúp và ưu ái mà Ơn Trên đã dành cho tôi giúp cho tôi đạt được thành công trong những chuyện mà tôi đã làm được. Tôi thật sự tâm đắc lời Ông Bà chúng ta đã đạy con cháu từ ngàn xưa: “Mưu Sự Tại Nhân, Thành Sự Tại Thiên.”
GHI CHÚ:
[1] Lâm Vĩnh-Thế. Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/mot-nga-re-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-the/
[2] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt. Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, tr. 52.
[3] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ … , sđd,, tr. 62.
[4] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ … , sđd,, tr. 110-111.
[5] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ … , sđd,, tr. 124.
[6] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ … , sđd,, tr. 135-136.
[7] Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ … , sđd,, tr. 139.







