Một Đời Dạy Học
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA
Tôi tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa, Khóa 3 (1960-1963) vào tháng 4-1963, và nhiệm sơ đầu tiên là Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa). Tháng 9-1966, tôi được thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ). Tháng 8-1971, tôi được một học bổng đi du hoc Hoa Kỳ trong 2 năm (1971-1973) tai Trường Thư Viện Học, Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University) và tốt nghiệp với bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) vào tháng 5-1973. Sau khi về nước, từ đầu năm 1974 cho đến ngày 30-4-1975, tôi dạy ngành thư viện học, bộ môn Biên Mục Mô Tả (Descriptive Cataloguing) tai Trường ĐHSPSG và Đại Học Vạn Hạnh. Sau khi đến định cư tại Canada từ tháng 9-1981, ngoài công việc chính, tôi cũng đã dạy học bán thời gian tại hai trường đại học cộng đồng trong tỉnh bang Ontario là Algonquin College (1984-1985) tại thủ đô Ottawa, và Mohawk College (1986-1996) tại thành phố Hamilton. Từ đầu tháng 9-1997 tôi về làm việc tai Thư Viện của Đại Học Saskatchewan với chức vụ Trưởng Ban Biên Mục (Head, Cataloguing Department), và tại đây tôi cũng đã tham gia vào công tác giảng dạy sinh viên và giáo sư về việc sử dụng thư viện trong các công tác học tập (cho sinh viên), và trong công tác giảng dạy – nghiên cứu (cho giáo sư) cũng như giảng dạy bộ môn Biên Mục Mô Tả (Descriptive Cataloguing) cho nhân viên trung cấp của thư viện trường. Có thể nói là tôi đã sử dụng một phần rất lớn thời gian làm việc của tôi cho công tác giảng dạy. Bài viết này cố gắng ghi lại những chuyện sự kiện, biến cố đã diễn ra trong cuộc đời dạy học của tôi, mà bây giờ ở tuổi 85 này, tôi vẫn còn nhớ được khá rõ ràng và đầy đủ.
Thời Gian Còn Ở Việt Nam
Tại Trường Kiến Hòa
Cổng chính của Trường Kiến Hòa
Trường Kiến Hòa là nhiệm sở đầu tiên trong cuộc đời dạy học của tôi. Lúc đó Trường Kiến Hòa có được tất cả 15 lớp đệ nhị cấp gồm 6 lớp đệ tam, 6 lớp đệ nhị (đi thi Tú Tài 1), và 3 lớp đệ nhứt (đi thi Tú Tài 2). Bộ Giáo Dục có quy định là các giáo sư đệ nhị cấp phải dạy 16 giờ một tuân, nhưng nếu có dạy các lớp đi thi thì được giảm 1 giờ, còn 15 giớ thôi. Tại thời điểm này, Trường Kiến Hòa đã có một giáo sư Sử Địa rồi. Đó là Giáo Sư Lê Như Dực, một đàn anh của tôi, tôt nghiệp ĐHSPSG, Ban Sử Địa, Khóa 1 (1959-1961). Sau khi thảo luận với nhau, Anh Dực và tôi đồng ý phân chia trách nhiệm như sau: Anh Dực dạy 15 giờ Sử và tôi dạy 15 giờ Địa, và, thế là tôi nghiểm nhiên trở thành Ông Địa của Trường Kiến Hòa. Sau khi dạy tại Trường Kiến Hòa được 3 năm (1963-1966), tháng 9-1966 tôi được Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).
Tại Trường KMTĐ
Không ảnh toàn cảnh của Trường KMTĐ lúc vừa xây xong năm 1965 – Dãy nhà dài bên phải là cơ sở của Trường ĐHSPSG.
Tôi đã làm việc tại Trường KMTĐ trong 8 năm (1966-1974), day học môn Kiến Thức Xã Hội, tên gọi mới dành cho môn Sử Địa, và phụ trách điều hành Thư Viện của Trường (từ năm 1970). Tháng 8 năm 1971, tôi nhận được một học bổng của Cơ Quan Viện Trợ Hoa Kỳ (United States Agency for International Development = USAID) di du học Hoa Kỳ 2 năm (1971-1973) tại Trường Thư Viện Học, Viện Đại Học Syracuse, và tốt nghiệp vào cuối tháng 5-1973 với bằng MLS. Về nươc, tôi tiếp tục trông coi thư viện của Trường KMTĐ cho đến cuối năm 1974 thì mới được thuyên chuyển về Trường ĐHSPSG.
Tại Đại Học Vạn Hạnh
Cũng trong thời gian này, tôi ra ứng cử và đắc cử chức vụ Chủ Tịch Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN) và được Viện Đại Học Vạn Hanh cử nhiệm làm Giáo Sư Trưởng Ban, Ban Thư Viện Học (BTVH) vừa mới được thành lâp, thuộc Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn.
BTVH được khai giảng vào đầu năm học 1974-1975 với 70 sinh viên, và chỉ hoạt động chưa tròn được 2 học kỳ thì ngày 30-4-1975 ập đến và nó đã bị chết non: [1]
Học Kỳ 1:
• Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I
• Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện
• Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu
• Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện
Học Kỳ 2:
- Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II
- Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn
- Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát
- Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I
Thời Gian Tại Canada
Sau 6 năm (1975-1981) sống khốn cùng dưới chế độ độc tài, đảng trị, và bần cùng hóa nhân dân của Đảng Cộng Sản Việt Nam, gia đình tôi, gồm hai vợ chồng tôi và 2 đứa con trai, Dũng 17 tuổi và Trung mới 5 tuổi, may mắn được rời Việt Nam đi định cư tại Montréal, tỉnh bang Québec, Canada do Anh Tư tôi bảo lãnh. Chúng tôi đặt chân xuống Phi trường Mirabel của Montréal vào buổi chiều Ngày Thu Phân 23-9-1981.
Tại Thủ Đô Ottawa
Sau một thời gian làm lao động tại Montréal, tôi tim được một công việc làm hợp đống trong một năm tại Thư Viện Trung Ương của Bộ Canh Nông (Central Library, Agriculture Canada) tại thủ đô Ottawa, từ ngày 1-4-1982 đến ngày 31-3-1983. Làm được khoảng 6 tháng, một hôm, Bà Joyce MacKintosh, Phó Giám Đốc Thư Viện gọi tôi vào phòng làm việc của bà nói chuyện. Bà cho biết nhờ đọc lý lịch của tôi nên bà biết tôi đã từng là một giáo sư về thư viện học tại Việt Nam, và bà hỏi tôi có muốn đi dạy học trở lại không. Tôi trả lời Bà ngay là tôi rất muốn. Bà gọi điện thoại ngay cho Bà Jean Painter, Trưởng Ban, Chương Trình Đào Tạo Nhân Viên Thư Viện Trung Cấp của Trường Đại Học Cộng Đồng Algonquin tại Ottawa (Manager, Library Technician Program, Algonquin Community College) để giới thiệu tôi. Bà Painter mời tôi qua trường gặp Bà, và sau khi phỏng vấn tôi độ 30 phút, Bà nhận tôi vào Ban Giảng Huấn, và chỉ định tôi phụ trách giảng dạy môn Biên Mục Mô Tả (Descriptive Cataloguing). Và tôi đã dạy học tại đây trong 2 năm (1982-1984) cho đến khi rời Ottawa đi nhận một công việc làm mới tại thành phố Hamilton.
Tại Thành Phố Hamilton
Sau khi làm xong hợp đồng tại Bộ Canh nông, tôi đã trải qua hơn một một năm trời với toàn là những công việc làm hợp đồng ngắn hạn, có khi chỉ có 1 tháng. Đầu tháng 7-1984, một hôm đọc báo The Globe and Mail tôi thấy một cơ quan liên bang tại thành phố Hamilton, thuộc tỉnh bang Ontario, có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadine d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST), đăng một thông cáo tuyển nhân viên mà lại tuyển đến 5 người, một chuyện hiếm thấy xảy ra: [2]
• Manager, Online Catalogue
• Inventory Cataloguer
• Canadiana Cataloguer
• Subject Cataloguer
• Physical Hazards Information Scientist
Tôi gởi đơn xin viêc ngay, và chỉ xin công việc thấp nhứt là Inventory Cataloguer vì tôi nghĩ là mình còn chưa vô quốc tịch, không nên vói cao lúc này. Tôi được phỏng vấn vào ngày 15-8-1984, và ngày 23-8-1984 thì nhận được văn thư của CCOHS báo cho biết là tôi đã được nhận. Ngày 17-9-1984, tôi chính thức bắt đầu làm việc cho CCOHS với lương năm khởi sự là 27.491 đô la Canada.
Chín tháng sau, CCOHS mở lại cuộc thi tuyển cho chức vụ Manager, Online Catalogue, mà năm trước họ đã không tuyển được người. Với sự khuyến khích của Bà Marilyn Moore, Giám Đốc của tôi, tôi đã nộp đơn xin dự tuyển, được phỏng vấn vào ngày 10-6-1985, trúng tuyển vào ngày 14-6-1985 và chính thức bắt đầu đảm nhận chức vụ Trưởng Ban Biên Mục vào ngày 24-6-1985.[3]
Tôi đã làm việc cho CCOHS trong 8 năm (1984-1992) và luôn luôn làm tốt nhiệm vụ của mình và mỗi cuối năm đều được cấp trên xếp hạng ưu (Superior Performance) và, vì vậy, mỗi năm đều được tăng lương 2 bậc. Tháng 12-1991 lương năm của tôi đã lên đến 71.259 đô la Canada như ghi rõ trong Giấy Chứng Nhận của Phòng Nhân Viên CCOHS sau đây, ký ngày 19-12-1991:
Giấy Chứng Nhận Lương Năm là 71.259 Đô La Tại CCOHS Vào Tháng 12 Năm 1991
Sau khi đảm nhận chức vụ Trưởng Ban Biên Mục được độ nửa năm, một hôm Bà Giám Đốc mới (thay thế Bà Marilyn Moore đã nghỉ viêc) là Bà Wendy Moriarty (về sau, khi đã lập gia đình với Giáo Sư John Newman, Bà mới đổi tên thành Wendy Newman) gọi tôi phòng làm việc của Bà và cho tôi biết vì bây giờ Bà bận quá không thể tiếp tục dạy học được nữa và muốn tôi thay thế Bà. Tôi nhận lời ngay. Bà gọi điện thoại ngay cho Bà Lois Wall, Trưởng Ban, Chương Trình Huấn Luyện Nhân Viên Thư Viện Trung Cấp của Trường Đại Học Cộng Đồng Mohawk tại Hamilton (Manager, Library Technician Program, Mohawk Community College, Hamilton). Bà Lois Wall mời tôi sang gặp mặt và nhận tôi ngay, vì các lý do như sau: 1) Người giới thiệu tôi là Bà Wendy Moriarty là người rất có uy tín trong cộng đồng thư Viện Canada, lúc đó đang là một thành viên quan trọng trong Ban Chấp Hành Hội Thư Viện Canada (Canadian Library Association = CLA), và về sau, vào năm 2000, Bà đã được bầu vào chức vụ Chủ tịch của CLA; 2) Tôi đang giữ chức vụ Trưởng Ban Biên Mục của CCOHS; và 3, Tôi đã có 2 năm kinh nghiệm dạy học tại Algonquin College ở Ottawa. Tôi đã giảng dạy bộ môn Biên Mục Mô Tả (Descriptive Cataloguing) trong 10 năm (1986-1996) tại Mohawk College cho đến khi rời Hamilton đi nhận nhiệm vụ mới tại thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan.
Tại Thành Phố Saskatoon
Đầu tháng 9-1997, tôi chính thức nhận nhiệm vụ mới là Trưởng Ban Biên Mục (Manager, Cataloguing Department) của Thư Viện, Trường Đai Học Saskatchewan, (University of Saskatchewan Library) tại thành phố Saskatoon, tỉnh bang Saskatchewan, trong Vùng Đại Bình Nguyên của Canada (Canada’s Grande Prairie). Tại thời điểm này, Ban Biên Mục gồm có tất cả 22 nhân viên: 4 quản thủ thư viện có bằng MLS như tôi, và 18 nhân viên trung cấp (Library Assistant = LA) mà đại đa số không được đào tạo chính quy, chì là “nghề dạy nghề” nên họ biết “làm như thế nào” nhưng không biết “tại sao phải làm như vậy.”
Tôi đã dành ra trọn một tháng trời gặp gỡ từng LA để tìm hiểu quá trình đào tạo và công tác của họ. Sau đó, tôi trình lên Ủy Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) một chương trình huấn luyện 4 ngày cho nhân viên. Sau khi thảo luận cặn kẻ, LMC chấp thuận chương trình huấn luyện đó và cho phép tôi tiến hành việc huấn luyện với một chương trình gốm các mục chi tiết như sau: [4]
- Ngày thứ nhứt (27-4-1998):
- Phần Một: Các Nguyên Tắc Về Biên Mục
- Các chức năng của Thư Mục
- Các mục tiêu của Thư mục: Giúp tìm tài liệu và Giúp tập hợp tài liệu
- Tác động của các đổi mới về công nghệ đối với Thư mục
- Phát triển của Thư mục: từ thẻ đến Thư mục trực tuyến trên Web
- Tính đồng nhất của các Điểm Truy Cập
- Các mối quan hệ về thư tịch
- Lý do: Chức năng tập hợp tài liệu của Thư mục
- Thực hiện: Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
- Cơ cấu truy cập theo chủ đề
- Tính hai mặt của truy cập theo chủ đề
- Truy cập theo đường thẳng: Số phân loại
- Truy cập đa chiều: Tiêu đề chủ đề
- Tiềm năng tăng cường truy cập theo chủ đề: Bảng Mục Lục của sách
- Các chức năng của Thư Mục
- Phần Hai: Tầm quan trọng của Mô tả
- Các Nguyên tắc về Mô tả
- Tài liệu đang nắm trong tay
- Các nguồn thông tin
- Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả ISBD (International Standard Bibliographic Description)
- Tổ chức việc mô tả
- Các vùng mô tả
- Thứ tự mô tả
- Mô tả trực tuyến: Khổ mẫu MARC
- Thứ tự quan trọng của các đơn vị mô tả
- Nhan đề
- Tùng thư
- Ấn bản
- Năm xuất bản
- Tầm quan trọng của ghi chú
- Lý do: Tại sao và khi nào làm ghi chú
- Cơ cấu của ghi chú: Cách làm và thứ tự
- Các Nguyên tắc về Mô tả
- Phần Ba: Các điểm truy cập
- Điểm truy cập chính và phụ
- Tác giả hay Nhan đề là Điểm truy cập chính
- Điểm truy cập chính trong môi trường trực tuyến
- Các điểm truy cập phụ trong chức năng Tìm tài liệu và Tập hợp tài liệu
- Các điểm truy cập theo tên
- Tên cá nhân: Tên tiếng Anh và Tên các ngôn ngữ khác
- Tên tập thể: Hội đoàn, Chính phủ, Hội nghị
- Các điểm truy cập theo nhan đề
- Các hình thức khác nhau của nhan đề
- Nhan đề đồng nhất
- Các điểm truy cập theo tùng thư
- Tùng thư được ghi
- Tùng thư không được ghi
- Tùng thư ghi một cách khác
- Các điểm truy cập theo chủ đề
- Các số phân loại
- Các tiêu đề chủ đề
- Các điểm truy cập khác
- Các số tiêu chuẩn (ISBN, ISSN)
- Các loại số khác
- Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
- Các hệ thống: Tên và Chủ Đề
- Các thủ tục: Thủ công và trực tuyến
- Hệ thống sẽ trang bị: LTI (Library Technologies, Inc.)
- Điểm truy cập chính và phụ
- Phần Ba: Các điểm truy cập
- Điểm truy cập chính và phụ
- Tác giả hay Nhan đề là Điểm truy cập chính
- Điểm truy cập chính trong môi trường trực tuyến
- Các điểm truy cập phụ trong chức năng Tìm tài liệu và Tập hợp tài liệu
- Các điểm truy cập theo tên
- Tên cá nhân: Tên tiếng Anh và Tên các ngôn ngữ khác
- Tên tập thể: Hội đoàn, Chính phủ, Hội nghị
- Các điểm truy cập theo nhan đề
- Các hình thức khác nhau của nhan đề
- Nhan đề đồng nhất
- Các điểm truy cập theo tùng thư
- Tùng thư được ghi
- Tùng thư không được ghi
- Tùng thư ghi một cách khác
- Các điểm truy cập theo chủ đề
- Các số phân loại
- Các tiêu đề chủ đề
- Các điểm truy cập khác
- Các số tiêu chuẩn (ISBN, ISSN)
- Các loại số khác
- Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
- Các hệ thống: Tên và Chủ Đề
- Các thủ tục: Thủ công và trực tuyến
- Hệ thống sẽ trang bị: LTI (Library Technologies, Inc.)
- Điểm truy cập chính và phụ
- Phần Một: Các Nguyên Tắc Về Biên Mục
- Ngày thứ nhì (28-4-1998)
- Phần Bốn: Số phân loại và Tiêu đề chủ đề
- Hệ thống Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
- Lịch sử
- Cấu trúc
- Các bảng phân loại
- Các bảng cập nhật
- Chính sách của Thư viện Đại Học Saskatchewan về Văn Học và Luật
- Hệ thống Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
- Phần Bốn: Số phân loại và Tiêu đề chủ đề
- Ngày thứ ba (29-4-1998)
- Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
- Cơ cấu
- Các tiểu phân mục
- Các bảng cập nhật
- Kiểm soát tiêu đề chuẩn
- Hệ thống phân loại Dewey [5]
- Lịch sử
- Cơ cấu
- Phân mục 370: Giáo Dục
- Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
- Ngày thứ tư (30-4-1998)
- Phần Năm: Các dụng cụ làm việc
- Cataloger’s Desktop
- Khổ mẫu USMARC
- Cẩm nang Biên mục chủ đề (Subject Cataloguing Manual)
- Giải thích các Quy tắc Biên mục của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (LC Rule Interpretations)
- Classification Plus
- Cataloger’s Desktop
- Phần Năm: Các dụng cụ làm việc
- Các Bảng Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
- Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
- Các dụng cụ có trên Internet
- WebCATS
- TPOT
- Cẩm nang biên mục các tài liệu ngoại quốc
- Cổng LC Z39-50
Chương trình huấn luyện đã thành công tốt đẹp và được một đa số rất lớn các nhân viên thư viện đánh giá từ Very Good đến Excellent, và đó cũng là một kết thúc rất có ý nghĩa cho cuộc đời dạy học của bản thân tôi.
Thay Lời Kết:
Tuy được đào tạo chính quy để trở thành một giáo sư, nhưng do một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tôi đã trở thành một quản thủ thư viện và đã thật sự làm công tác thư viện trong hơn 30 năm cho đến khi nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006. Trong suốt thời gian làm việc khá dài đó, tôi cũng đã dành ra một phần khá lớn thời gian để làm công tác giảng dạy cho các hoc viên tại một số trường đại học cộng đồng cũng như nhân viên trong các thư viện của các cơ sở mà tôi đã làm việc
GHI CHÚ:
1. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt. Westminster, CA.: Nhân Ảnh, tr 62.
2. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 110-111.
3. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sđd, tr. 118.
4. Lâm Vĩnh-Thế. Tròn nhiệm vụ …, sdd, tr. 130-133.


