Một chút rong rêu
Lâm Thụy Phong
Những người thuộc thế hệ của tôi có lẽ đều biết quán chè Hiển Khánh trên đường Phan Đình Phùng. Những buổi trưa nắng gắt, chúng tôi hay tắp vô, ăn chén thạch (rau câu theo tiếng của Lữ Bố) mát, thơm nhẹ rất dễ chịu mùi bông lài, kèm theo cái bánh đậu xanh , bánh lá gai, hay bánh phu thê.
Sương sa cắt nhỏ như sợi bún, tắm trong nước đường. Đơn giản, nhẹ nhàng chỉ có vậy để mà vui. Saigon những năm cuối thập niên 70.
Tôi rời Thủ Đô VNCH sáng nắng chiều mưa năm sau đó. Bao kỷ niệm bỏ lại sau lưng với bạn bè khi rời sân trường Petrus Ký. Những cánh chim trời chưa đủ lông , vụng về vỗ cánh, nhìn sợ trời cao, thiếu tự tin bay vào nơi xa lạ. Mưa gió, bão lửa tàn phá quê hương hay tuyết giá lạnh buốt xứ người.
Một buổi trưa mùa Đông trên đất lạ, trong giờ thực tập thực vật học, tôi là sinh viên Á châu duy nhứt trong nhóm hôm nay khoảng 30 người, đang học tìm hiểu về rong rêu. Tôi chợt nhớ chè Hiển Khánh cùng họ xa gần với loài rong biển.
Hôm nay, đúng ngày Giao Thừa, những cái Tết đầu tiên không có bánh tét, mai vàng, bánh mứt.
Giáo sư là Ông Laubie, chắc có lẽ là vị giáo sư cao tuổi nhứt của chúng tôi trong năm đó.
Dáng người tầm thước, gương mặt hiền lành, toát vẻ trí thức mô phạm, hơi ốm trong bộ veston nĩ màu nâu sáng. Lần đầu tiên sau hơn 3 tháng nhập học, tôi mới gặp Ông xuống laboratoire.
Ông đi một vòng ngang qua các bàn của chúng tôi học tập về thế giới của thực vật, buông lời chào hỏi rất thân thiện với tất cả sinh viên hiện diện.
Tới bàn của tôi, gồm hai đứa: P. Lalande và tôi (Lam), Ông dừng lại hỏi: “Anh đến từ Saigon ?”.
Tôi trả lời thật nhỏ qua cái gật đầu lễ phép. Thật bất ngờ , Ông nói tiếp: “Anh tôi tử trận tại Đông Dương, năm 1949, ở Hà Tiên”.
Ông phát âm địa danh Hà Tiên rất rõ, tôi không thể lầm lẫn được vì đó là quê nội của tôi.
Trở về ngày xa xưa, tôi nhớ rất rõ trên chuyến xe thơ Liên Trung khởi hành từ bến xe An Đông lúc 11 giờ đêm. Đất nước thanh bình, dù rất ngắn ngủi, sau khi Hiệp Định Geneve được ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1956, cưa đôi đất nước khiến Ông Hồ Hữu Tường bật khóc bên bờ hồ Leman (Thụy Sĩ). Trong đêm trăng sáng miền Nam, đồng lúa nghiêng mình dưới làn gió mát đêm đã vào khuya, xuyên suốt từ Phú Lâm về tới Bến Lức, Tân An qua sông Vàm Cỏ. Ngã Ba Trung Lương, tới Cai Lậy, Cái Bè. Đến bắc Mỹ Thuận ,tôi bị đánh thức bởi tiếng ồn xa gần của xe cộ, tiếng chào mời mua đủ mặt hàng của người bán dạo đêm khuya. Chúng tôi đợi qua bắc. Đêm nay không bị kẹt nhiều bởi đoàn quân xa của sư đoàn 7 có bộ tư lệnh đóng tại Mỹ Tho.
Mọi người đều phải xuống theo xe qua bắc. Bị đánh thức nửa chừng “trong giấc mộng con”, tôi nhăn nhó vì cảm thấy khó chịu.
Bắc rời bến, tiếng máy gầm rú thật lớn, từ hai bên sườn phun ra từng đợt khói đen sì, mùi dầu cặn nồng nặc xông lên ngập mũi. Trời tối như mực, hai cái đèn pha trên buồng lái chiếc bắc chỉ vừa đủ đưa ánh sáng màu vàng nghệ trải dài trên boon. Bên kia bờ, màn đêm đặc quánh theo hướng Sa-Đéc, Vĩnh Long.
Cuộc hành trình tiếp tục, chiếc xe đò đưa chúng tôi tới bắc Vàm Cống, đi vào Long Xuyên, nơi bác Hai của tôi sanh sống và hầu như năm nào chúng tôi cũng về đây nghỉ hè. Suốt ngày, anh em tôi “cà nhõng” từ Công Trường Trưng Nữ Vương ra chợ. Buồn ghé rạp xi-nê Thanh Liêm, Tân Đô coi phim “chùa”, miễn phí. Tối coi cải lương ở “Minh Hiển”, cũng khỏi trả tiền vì ai cũng biết mặt, gia đình “Cô Bảy bán vải chợ Long Xuyên”.
Mặt trời bắt đầu ló dạng ửng hồng cuối chân mây, xe theo nem Lai Vung, ghé chợ Sa-Đéc mua vài chục chiếc đặc sản danh tiếng đi về Rạch Giá. Những năm đó, nhạc sĩ đất Kiên Giang, Lam Phương Lâm Đình Phùng còn chìm nổi, nín thở qua sông trong “Kiếp Nghèo” có dây có nhợ, chưa dứt ra trên “Chuyến Đò Vĩ Tuyến”, du dương, truyền cảm, hiền hòa như con người của Ông.
Nơi đây, quê hương của vị anh hùng Nguyễn Trung Trực đốt tàu Tây, trên sông Nhựt Tảo. Xe chêm nước cho mát máy, đổ thêm xăng dầu. Chỉ còn 89 cây số ngàn về tới núi Tô Châu, nghe tiếng cô Miên “đầu gà đít vịt” ca bài em khoái mì Tiều nên chơi luôn mắm bò hóc.
Bà mợ Hai có đủ thời giờ để ghé thăm bà ỷ Năm, chủ tiệm bán nước mắm ở Rạch Giá. Bà có người con trai đi tập kết, chú ba K., du học bên Tiệp Khắc, trở về miền Nam khi chiến tranh chấm dứt. Chú ba K. và ba tôi là anh em bạn dì, lúc nhỏ chơi rất thân với nhau. Thời trai trẻ, một đêm rủ nhau lên núi Tượng (Hà Tiên), ca bài “Thu Khói Lửa” (Thầy Nguyễn Hữu Ba). Chú ba ra đi từ đó. Hai anh em, đôi đường, hai chiến tuyến.
Sau này khi tôi lớn lên, theo lời ba tôi kể, mật khu kháng chiến chống Pháp ở Hòn Heo trong vùng núi không cao, rừng cây rậm rạp, thích hợp làm nơi trú và dưỡng quân, hay mai phục các đoàn quân xa Pháp di chuyển trên đoạn đường này. Người anh trai của Thầy Laubie chắc tử trận tại đây và được đem về chôn cất dưới chưn Pháo Đài.
Sau này, dưới thời Đệ Nhứt Việt Nam Cộng Hòa, do sự thỏa thuận của đôi bên, các ngôi mộ này được cải táng để đưa về Pháp an giấc ngàn thu.
Pháo Đài là một mõm đất chồm ra ngó vịnh Thái Lan. Cảnh rất đẹp, còn có tên là Kim Dự Đào Lan, thơ mộng như tranh vẽ: núi không cao, cây nghiêng nghiêng cuốn theo chiều gió, tiếng sóng đập vào đá tảng, bọt biển leo lên ghềnh rượt đuổi bầy ba khía vô tư bò theo sóng biển.
Bên kia là núi Tô Châu một màu lục diệp xanh rì, hàng dừa nước bao quanh tới tận ngôi miếu thờ cá Ông.
Hôm nay, những ngày cận Tết. Mưa rơi nhiều, trời khá lạnh. Tuyết đã hai lần rơi, nhiệt độ chưa đủ thấp để tuyết đến và ở lại.


Tuyết Vân miệt mài trong đam mê vể “nghề” làm bánh rau câu với các mẫu mã đa dạng. Tôi an tâm khi nhà tôi thích nghi với khí hậu, trải nghiệm qua tiếp xúc với bạn bè xa gần đã nhận nơi này làm quê hương từ rất lâu, có người đã hơn 60 năm. Những người thật sự là bạn, đủ màu da, mà tôi đã quen biết cha mẹ họ khi tôi còn là “chuyên tu hay tại chức”.
Thế Chiến Quốc đã xoay chiều, thế Xuân Thu cũng đã đổi hướng. Viết cho hôm nay để ôn lại cuộc đời đã đi qua ngày đó.
Từ chén chè thạch trắng trong Hiển Khánh, đến bài học trang đầu về rong rêu tảo biển với Thầy Laubie. “Đảo Vàng” Pháo Đài, Kim Dự Lan Đào trong “Hà Tiên Thập Cảnh” của Tao Đàn Chiêu Anh Các – Mạc Thiên Tích, với các ngôi mộ của lính viễn chinh Pháp ngủ yên bên cây phượng vĩ cổ thụ, nằm nghe sóng biển chạy về từ ngoài khơi vịnh Xiêm La.
Rong rêu trôi nổi, đời mãi còn vui đón Tết Bính Ngọ 2026. Mưa vẫn rơi từ trời xanh mây trắng
Paris sáng thứ sáu 13 tháng 2 năm 2026
Lâm Thụy Phong
Petrus Ký 1964-1971