Sau khi học được bí truyền của nghề địa lí, Tả Ao về nước thì mẹ ông đã mất. Ông bèn đi ngao du sơn thuỷ để tìm đất kết. Tìm được kiểu đất “cửu long tranh châu” (chín con rồng tranh nhau hạt ngọc) trên núi Hồng Lĩnh, ông bèn táng cốt mẹ ông vào đó. Ít lâu sau các nhà thiên văn Tàu thấy các vì sao chầu cả về phương Nam, biết người Việt đã tìm được ngôi đất cực kì tốt, sợ rằng nước Nam phát sinh ra một vị đế vương anh tài có thể lấn lướt cả Trung Hoa, bèn tâu vua Tàu. Vua Tàu bèn truyền cho các thầy địa lí trong nước ai đã để mồ mả hoặc truyền nghề địa lí cho người Việt thì phải phá đi, bằng không sẽ phải tội tru di.

            Ông thầy Tàu của Tả Ao biết là người học trò Việt của mình đã tìm được đất quí, bèn sai người con (cũng đã được truyền nghề cao tay rồi) sang Việt Nam, tìm gặp Tả Ao, lân la hỏi chuyện. Tả Ao gặp con thầy thì mừng rỡ, tình thực kể ra. Người con thầy bèn bảo Tả Ao dẫn đi xem ngôi đất và tấm tắc khen đẹp, nhưng sau lại chê rằng cách để đất còn thiếu phát võ, và chỉ cho Tả Ao chôn một thanh kiếm vào một chỗ để con cháu sau này được phát văn võ toàn tài. Tả Ao nghe theo mà không ngờ đó là thanh kiếm cắt đứt long mạch. Thế là ngôi đất bị phá. Ít lâu sau các nhà thiên văn Tàu thấy các vì sao thôi không chầu về phương Nam nữa, họ mới yên lòng.

            Như vậy Tả Ao vẫn chưa thật giỏi. Thầy địa lí cũng như thầy dạy võ, phải giữ lại miếng võ hiểm nhất không dạy học trò để đề phòng nó có thể phản, đánh lại thầy. (Trong “Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện”, Phan Kế Bính kể là sau khi để đất, Tả Ao sinh được đứa con trai rồi các sao mới chầu về. Sau đó con ông thầy sang, lợi dụng lòng tin của Tả Ao mà đào phá được ngôi mộ và bắt cóc đứa con Tả Ao đem về Tàu).

            Sau thất bại đó, Tả Ao tìm được một huyệt “hàm rồng” ở gần bãi bể, bèn bảo người anh cải táng ngôi mộ cha vào đó. Ông dặn người anh cầm hũ đựng cốt chờ sẵn gần huyệt, còn ông đi tìm long mạch điểm cho “rồng há miệng” thì anh bỏ cốt xuống. Khi Tả Ao điểm đúng long mạch thì chỗ huyệt tự nhiên sóng gió nổi lên ầm ầm. Người anh sợ quá không dám bỏ cốt xuống, e mất tiêu. Lúc Tả Ao trở lại thì sóng gió đã ễm, chỗ huyệt (trũng) nay đã nổi lên thành bãi thì than rằng: “Miệng rồng này năm trăm năm mới mở một lần, lúc nó mở anh không táng xuống, nay đó đã ngậm lại là hết rồi!”. Từ đó biết mình đức mỏng không thể được đất phát đại quí, Tả Ao bèn đi chu du khắp nơi, để đất cho những ai có đức, mà không cầu lợi nên ông nổi tiếng như cồn.

            Một lần gặp một bà lỡ thì bán hàng nước bên đường, ông thấy người hiền lành, bèn chỉ một chỗ đất cũng gần vệ đường và bảo rằng: “Miếng đất này rất tốt, nếu bà muốn được đất ấy thì phải làm phúc cứu người thì mới được hưởng”. Bà hàng nước biết vậy, để đấy. Vài hôm sau, vào một đêm mưa to gió lớn, có người gọi cửa, bà này lẽ ra phải từ chối vì quán nước chỉ có một mình, lại là đàn bà; nhưng nhớ lời Tả Ao, bèn mở cửa thì thấy một người hành khất đàn ông bụng đói cật rét xin vào trú chân. Bà thương hại đốt lửa lên cho sưởi ấm và lấy cơm cho ăn. Xong đến lúc đi ngủ thì chỉ có một cái chiếu trải trên cái bệ đắp đất (thay giường) trong quán, bà lại thương tình cho nằm chung. Không ngờ người hành khất bụng no cật ấm, lửa lại gần rơm, thế là hai bên tư thông. Nhưng chắc là sức đã kiệt nên “xong cuộc” thì người đàn ông kia lăn ra chết. Người đàn bà sợ quá, lôi xác người bạn phối ngẫu trong chốc lát ấy ra chỗ huyệt kia giấu. Đến sáng ngày ra thì mối đã xông lên phủ kín xác ấy. Ít lâu sau Tả Ao có dịp đi qua, ghé vào hàng nước hỏi thăm, bà ta tình thực nói ra. Tả Ao ra xem chỗ mộ mối xông, gật gù đắc ý và bảo người đàn bà đắp thêm đất mà chăm sóc… Người đàn bà sau đó quả nhiên sinh ra một cậu quí tử, đỗ cao, làm quan to và bà mẹ được nhờ.

            Về việc Tả Ao để đất mà như một nhà tiên tri thì trong “Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện”, Phan Kế bính kể một lần tìm được huyệt táng giờ Dần thì giờ Mão phát được của. Ông giao hẹn ai chịu chia một phần mười thì chỉ cho. Người xin đất cải táng vào giờ Dần xong, vác cuốc ra sông rửa là sang giờ Mão, chợt thấy một xác người chết trôi. Tiện cuốc, người ấy vớt cái các ấy lên để chôn luôn làm phúc thì thấy trong bọc của người chết có năm mươi nén bạc, người ấy y hẹn, chia cho Tả Ao năm nén.

            Một lần nữa đến huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Đông), Tả Ao thấy một ngôi đất, bảo rằng: “Ngôi đất này chỉ táng trong một tháng thì phát quận công, ai cho ta một trăm quan tiền thì ta táng cho”. Một ông nhà giàu xin táng. Lúc bấy giờ tướng nhà Mạc là Mạc Kính Độ bại trận chạy trốn, chúa Trịnh rao ai bắt được thì phong cho quận công. Hai mươi ngày sau khi táng, ông nhà giàu thấy một một người vào nhà tự xưng là Mạc Kính Độ, bảo làm cho một bữa chén, ăn uống no say xong sẽ cho trói lại đem nộp. Thế là ông nhà giàu được phong quận công.

            Cuối cùng lúc về già, Tả Ao tìm được một ngôi đất cho chính mình, có cách thế “nhất khuyển trục quần dương” (một chó đuổi đàn dê), nếu táng vào đấy, ba ngày sau thành địa tiên. Lúc bệnh nặng, ông bảo con khiêng mình ra, định phân kim rồi nằm xuống chết cho con chôn. Nhưng chưa ra đến nơi thì đã gần chết, ông bèn chỉ vào một cái gò bên cạnh đường bảo con: “Chỗ kia là ngôi huyết thực (được hưởng người ta cúng tế), táng ở đấy cũng tạm được”. Nói xong thì mất. Con nghe lời dặn, táng vào đấy. Quả nhiên về sau ông thành phúc thần của một làng.