Chương Ph

            “Tết”có lẽ là biến âm của “tiết” 節 , từ hán việt chỉ các thời điểm có sự thay đổi quan trọng về thời tiết trong năm âm lịch. Và còn thời điểm nào quan trọng hơn là thời điểm chấm dứt năm cũ, bắt đầu năm mới? Tên chính thức và đầy đủ của nó là Tết Nguyên Đánbuổi sáng đầu tiên (của năm). Thời điểm tết quan trọng đối với dân tộc Việt và một số dân tộc Á Đông khác theo âm lịch như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản (1) và đã trở thành lễ tiết (ngày lễ ngày tết) với các lễ nghi và tập tục đặc biệt được cử hành và tuân thủ.

            Ở đây chúng tôi không trình bày chi tiết tỉ mỉ về các tập tục trong ngày tết, mà chỉ xét tới ý nghĩa của ngày tết đối với dân tộc Việt về nhiều phương diện; các chi tiết về tập tục ngày tết chỉ được nêu ra như những dẫn chứng tiêu biểu mà thôi.

Viết câu đối

1.Thời gian tết chính thức của dân ta xưa kia là bảy ngày kể từ thời điểm giao thừa tới hết ngày mồng bảy tháng giêng là ngày hạ cây nêu (2). Người nào tham công tiếc việc lắm, nếu có bắt đầu làm gì thì sớm nhất cũng phải từ ngày mồng tám trở đi.

2. Thời gian tết nghiêm ngặt là ba ngày bắt đầu từ giao thừa đến hết ngày mồng ba. Nói “nghiêm ngặt” bởi vì trong ba ngày đầu tiên của năm mới, người ta phải cố kiêng tránh, giữ gìn cẩn thận từ lời nói đến việc làm: không nói nặng lời, nói tục, cãi nhau, tránh dùng thuốc (nếu bệnh nhẹ), cẩn thận để không đánh vỡ chén bát… nói chung là tránh gây bực bội, buồn phiền, cảm tưởng về sự xui xẻo, thất bại… Trái lại, phải gây nên cảm nghĩ tốt lành, vui vẻ, thoải mái: trẻ con phải ngoan ngoãn hơn ngày thường, người lớn phải luôn luôn tươi tỉnh hoà nhã….tóm lại tất cả mọi người phải cố gắng làm tăng cái vẻ đẹp tinh thần cũng như làm tăng cái vẻ đẹp vật chất là chưng diện quần áo mới, trang hoàng nhà cửa v.v…

3. Thời gian tết rộng rãi gồm cả thời gian chuẩn bị tết ráo riết từ ngày hai mươi ba tháng chạp, ngày cúng tiễn Táo quân về chầu Trời trở đi, người ta đã cảm thấy bầu không khí nhôn nhịp sắm tết, náo nức sửa soạn chờ đón tết rồi (3) cho nên người ta đã có thể gọi hai mươi ba, hai mươi bốn tết cho đến hai mươi chín, ba mươi tết (4). Còn bầu không khí ăn chơi (ăn ngon, mặc đẹp, vui chơi hội hè) có thể kéo dài đến hết tháng giêng (ca dao: tháng giêng là tháng ăn chơi).

            Tại sao ngày Tết lại có tầm quan trọng bậc nhất đối với dân tộc Việt như vậy? Bởi vì nó mang nhiều ý nghĩa.

B. Ý nghĩa về thời vụ lao động và kinh tế

            Dân Việt xưa kia chủ yếu sống về nông ngư nghiệp và chăn nuôi, không có ngày nghỉ hàng tuần. Nông nghiệp thô sơ trong cậy vào thời tiết, nạn đói kém do thiên tai làm mất mùa (bão lụt, hạn hán, sâu rầy) lúc nào cũng lởn vởn trước mặt. Họ phải lo tích trữ phòng đói bằng sự tham việc. Giữa hai vụ lúa, họ phải làm thêm hoa màu sao cho thóc gạo ngô khoai đậu sắn… đầy cót, đầy bồ (5).

            Ngoài ra họ còn phải chăn nuôi gia súc (trâu, bò, lợn, gà, vịt v.v…), nuôi cá dưới ao, đánh bắt cá ngoài đồng (6) và làm các nghề thủ công như đan lát (rổ, rá, nong, nia… nói chung đồ dùng bằng tre), dệt vải. Các nghề này đều lấy sức người làm chính, cho nên trừ một số ít người có học làm quan (nghề văn), làm tướng (nghề võ), làm thầy đồ (dạy học), thầy thuốc (thầy lang) và một số ít nữa làm nghề buôn bán, còn đa số dân chúng đều phải chân lấm tay bùn, đầu tắt mặt tối, đổ mồ hôi lấy bát cơm.

            Kết quả của suốt một năm ròng lao động cần cù ấy được để dành để dụm và chỉ được đem ra hưởng thụ vào những dịp đặc biệt như các ngày giỗ riêng của từng gia đình, ngày hội hè đình đám của từng làng, song ngày Tết Nguyên Đán là quan trọng nhất đối với tất cả. Người ta coi ngày tết là dịp nghỉ ngơi và hưởng đầy đủ kết quả của sự làm lụng trong cả một năm dài đằng đẵng.

            Người ta xếp mọi công việc lại để chuẩn bị cho sự hưởng thu cao nhất: gạo nếp đậu xanh để đồ xôi, nấu bánh chưng, làm bánh dầy và nhiều thứ bánh khác, con lợn béo sẽ được làm thịt để làm nhân bánh chưng, giã giò và nấu cỗ, tơ lụa gấm vóc sẽ được may quần áo mới để chưng diện. Nhà cửa cũng được quét vôi, trang hoàng lại (treo tranh mới, câu đối mới…), đồ đạc được lau rửa, sơn phết lại hay thay mới, nhất là đồ thờ trên bàn thờ tổ tiên; tóm lại tất cả những gì tốt đẹp đều được để dành để trưng bày hưởng thụ trong ngày tết như câu tục ngữ:

(Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,)
Giàu có ba ngày tết mới hay.

hoặc như nhà thơ Trần Tế Xương:

Chẳng phong lưu cũng ba ngày tết,
Kiết cú như ai cũng rượu chè.

            Nền kinh tế của ta xưa kia có tính cách tự cung tự cấp: mình sản xuất ra để cho mình tiêu thụ, công nghệ và thương mại bị coi nhẹ, nếu không nói là bị khinh thường (7). Cho nên Tết cũng là dịp cho người ta trao đổi mua bán hàng hoá mạnh hơn giữa các vùng có các sản phẩm khác nhau để đáp ứng nhu cầu bội tăng của ngày tết: đồ ăn thức uống như bánh mứt trà rượu… đồ mặc như quần áo mũ nón giầy dép… đồ dùng như chén bát đĩa cốc (li)…, đồ trang hoàng nhà cửa như tranh vẽ, câu đối… từ đó cũng tác động tốt đến các ngành nghề như thợ may, thợ vẽ, thợ in, thợ làm đồ gốm v.v… Công nghệ và thương mại nhờ vậy mà phát đạt, các chợ ─ nhất là các chợ nổi tiếng của từng vùng ─ náo nhiệt đông vui hẳn lên.

            Tóm lại sinh hoạt của con người cũng hoà nhịp với thiên nhiên: chấm dứt một chu kì và bắt đầu một chu kì mới cho mọi thứ bằng sự chuẩn bị chu đáo; từ sự thụ hưởng cho đến công ăn việc làm, cả những niềm tin tưởng, hi vọng cũng mới mẻ.

C. Ý nghĩa về tình cảm và phong tục

            Sinh hoạt bình nhật bận rộn khiến người ta chỉ thăm hỏi nhau qua loa, trừ khi có việc trọng đại như tang ma, cưới hỏi…, ấy là nói những người ở tương đối gần nhau như làng, tổng kế cận. Còn những người thân, kể cả bạn bè, mà ở khác huyện khác tỉnh thì thật là xa vắng vì phương tiện giao thông liên lạc thời xưa thật là thô sơ:

Đường đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần
(Nguyễn Khuyến, “Khóc Dương Khuê” )

thì Tết là dịp người ta phải nhớ nghĩ đến nhau. Nếu là người thân trong gia đình mà phải đi làm ăn xa thì Tết là dịp người ta phải trở về sum họp dưới mái ấm gia đình. Người đi làm ăn xa ấy phải chuẩn bị trước cho dịp nghỉ tết: dành dụm tiền bạc, mua sắm những thứ cần dùng trong dịp Tết mà ở quê hương không có, kể cả quà tết cho những người thân thuộc. Nếu vì lí do gì mà không thể về ăn tết với gia đình thì thật là điều khổ tâm cho cả người ở nhà lẫn người đi xa: phải “tha phương cầu thực”, chịu cô đơn nơi đất khách quê người trong khoảng thời gian mà mọi người được hưởng sự ấm cúng nhất, thời gian trọng điểm của hạnh phúc sum họp đoàn tụ.

            Nếu là bà con hoặc bạn bè thân tình mà ở xa nhau thì Tết là dịp nhớ tới nhau mà gởi lời thăm hỏi, tặng quà và chúc nhau những điều tốt lành. Còn đối với những người ở gần thì một là do tình cảm, hai là do phép xã giao, người ta phải đến nhà nhau để chúc nhau những điều vui mừng, những thành tựu đang được mong đợi, nói khác đi là tặng nhau niềm hi vọng về hạnh phúc mới sẽ đến hay tăng tiến hơn (8).

            Cũng trong dịp này, người ta phải bỏ đi những giận hờn thù oán của năm cũ để nối lại mối liên hệ tốt đẹp cố hữu. Gặp nhau trong năm mới, người ta phải dẹp bỏ mọi hiềm khích để tay bắt mặt mừng, chúc lành cho nhau. Đây là cách dàn hoà mà phong tục bó buộc khiến cho không ai mất mặt cả.

            Song quan trọng hơn hết phải là ý nghĩa sum họp giữa quá khứ với hiện tại và hậu lai. Trước Tết, khoảng từ hai mươi tháng chạp trở đi, con cháu đã chia nhau công việc, kẻ thì ra mộ giẫy cỏ, đắp mộ cho cao cho đẹp (tục ngữ: cao nấm ấm mồ) rồi thắp hương khấn mời ông bà ông vải về sum họp với con cháu trong mấy ngày tết, kẻ thì dọn dẹp bàn thờ, lau rửa đánh bóng đồ thờ để vào trưa hay chiều ba mươi tết, trên bàn thờ đã phải đèn nến hương trầm đầy đủ, mâm ngũ quả (ít nhất là năm thứ trái cây) đầy đặn, bình hoa tươi và mâm cơm cúng thịnh soạn để cúng tất niên (9). Sau đó con cháu ─ nếu có người ở xa thì giờ đó cũng đã về đầy đủ ─ quây quần ăn uống dưới sự “chứng kiến vui vẻ” của hương linh tiền nhân.

            Xong bữa tất niên, mọi người chuẩn bị lễ đón mừng giao thừa. Nhà cửa đã được quét dọn, trang hoàng trước đó rồi, giờ đây chỉ là thêm thắt những chi tiết cuối cùng. Quần áo mới cho mỗi người cũng được sắp sẵn để mặc vào sáng mai, mồng một tết. Trẻ con thì đi ngủ sớm để đứa nào có thể thì dậy đón giao thừa, trong đó thích thú nhất là được đốt pháo hoặc “bịt tai nghe pháo nổ”, còn người lớn thì ngồi nói chuyện để chờ đón giao thừa.

Đốt pháo

            Rồi giờ phút thiêng liêng nhất trong năm đã tới. Từ trong đáy lòng ai cũng cảm thấy có cái gì đó khác lạ đang nẩy sinh. Pháo bắt đầu nổ ran đầu làng cuối xóm. Trong nhà trên bàn thờ gia tiên, đèn nến sáng trưng, khói hương trầm thơm ngát toả bay nghi ngút; rượu, bánh, mứt… được bày lên. Gia trưởng khăn áo chỉnh tề, rót chén trà thơm mới pha chén còn bốc khói dâng lên bàn thờ. Một hồi chuông thong thả ngân nga, gia trưởng vào lễ báo với tổ tiên là ở trần gian năm cũ vừa hết, năm mới đã sang, xin các ngài về sum họp với con cháu trong mấy ngày tết, chứng giám cho lòng hiếu thảo, lòng nhớ ơn của đàn hậu duệ và phù hộ cho chúng quanh năm mạnh khoẻ, gia đạo bình yên, công việc làm ăn phát đạt… nói chung là thành tựu được những mong ước đặt để vào năm mới này.

            Pháo tiếp tục nổ dòn, lần lượt mọi thành viên trong gia đình theo thứ tự lớn nhỏ, xúng xính trong bộ quần áo mới, xì xụp lễ trước bàn thờ, vừa để trình diện với tổ tiên trong năm mới, vừa để cầu xin các ngài phù hộ cho mình đạt được những ước nguyện riêng: kẻ thì việc học hành thi cử, người thì việc nhân duyên v.v… Sau đó có nhà thì đi ngủ để sáng mai dậy sớm chờ xem ai là người đến xông nhà chúc tết cho mình (để tự nhiên) để căn cứ vào người ấy (vía xấu hay tốt) mà ước đoán vận tốt xấu của gia đình trong năm mới. Cũng có nhà cẩn thận chọn sẵn một thành viên trong gia đình, thường là nam giới mà mọi người tin là có vía tốt (tươi tỉnh, hoạt bát, hay đang ở trong vận tốt: mới thi đỗ, mới thăng chức hay buôn bán phát tài…) lên chùa lễ Phật, hoặc tới đình, đền lễ thánh, hái lộc rồi trở về vào khoảng sau giao thừa một lúc để tự xông nhà mình và chúc tết cả nhà; từ đó yên chí dẫu sáng mai có người vía xấu tới nhà cũng chẳng sao! Cũng có thể hẹn một người thân tình nào khác có những điều kiện như trên tới xông nhà cho mình.

            Sáng mồng một ai nấy dậy sớm, chỉnh tề trong bộ quần áo mới, rồi cha mẹ ngồi trên, con cái sắp hàng theo thứ tự lớn nhỏ, lần lượt chúc tết cha mẹ (mạnh khoẻ, sống lâu, phát tài, phát lộc v.v…) và được cha mẹ chúc lại (lớn thì học giỏi, thi đỗ, đắt vợ nếu là nam; làm ăn phát đạt, đắt chồng nếu là nữ; nhỏ thì hay ăn chóng lớn, ngoan ngoãn v.v…). Riêng trẻ con ở lứa tuổi nhi đồng thường được ông bà, cha mẹ dành cho một món quà nhỏ tuỳ theo sở thích của mỗi đứa để tặng bất ngờ kèm theo lời chúc (10). Sau đó theo sự phân công sẵn, kẻ ở nhà chuẩn bị trà rượu, trầu cau, bánh mứt kẹo, trái cây… chờ tiếp đón khách đến chúc tết, người thì đi chúc tết các bậc trưởng thượng.

Tóm lại, ngày tết là dịp để những thuần phong mĩ tục của dân tộc được biểu lộ ở mức cao nhất, đầy đủ nhất, đáp ứng một cách chuẩn mực nhất các yêu cầu về lễ giáo, đạo đức cũng như tình cảm.

 Chúc Tết

D. Ý nghĩa về tâm lí, tín ngưỡng và tôn giáo

            Sau một năm dài làm việc cần cù, ai cũng mong gặt hái được kết quả mĩ mãn: người nông dân mong được mùa để no đủ, người học trò mong thi đỗ để bõ công đèn sách, ông quan mong được thăng chức, giới công nghệ thương mại mong món hàng của mình được giá bán chạy để phát tài v.v… Tóm lại ai cũng mong đi tới sự thành công, thịnh vượng, được thăng tiến mọi mặt mà không gặp sự rủi ro, thất bại, suy thoái…

            Nhưng trong thực tế không phải những mong mỏi của con người ta luôn luôn thực hiện được. Ngoài những tai hoạ số lớn người chịu chung như thiên tai (bão lụt, hạn hán), hoạn nạn còn xẩy đến với riêng từng cá nhân, từng gia đình: cháy nhà, đau ốm, chết chóc… Người ta tin rằng đó là con người đang ở vào thời vận xui xẻo, và dĩ nhiên ai cũng mong cái vận đen đủi ấy chóng qua đi, và thời vận may mắn sẽ sớm tới: hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai.

            Chu kì một năm chấm dứt và năm mới tới đem lại cho con người, nhất là những người đang gặp cơn đen vận bĩ, niềm hi vọng tràn trề về vận hội mới tốt đẹp hơn. Nếu quá khứ đã đi vào hư vô, hiện tại chỉ là từng phút từng giây thì quả thật đời người gần như chỉ sống với tương lai và hi vọng. Và để cho niềm hi vọng ở tương lại có thể thành hiện thực, ngoài sự cố gắng làm việc, con người còn cần đến sự phù trợ của các thế lực siêu phàm: ở đây tín ngưỡng và tôn giáo giữ địa vị rất quan trọng trong đời sống nội tâm và ngay cả trong đời sống thực tế nữa.

            Trước hết việc thờ cúng tổ tiên, mời hương linh ông bà ông vải về sum họp với con cháu trong mấy ngày tết, ngoài lí do tình cảm, người ta còn tin rằng ở thế giới bên kia, không còn mang xác phàm nặng nề ô uế nữa, tổ tiên có thể biết xa hơn về tương lai và có năng lực, dù là hạn chế, phù hộ con cháu tránh được những tai hoạ và thành đạt được ước nguyên, vì tình cảm tự nhiên thương yêu con cháu và vì chính mình nữa: con cháu được hiển vinh sung sướng thì cũng làm vẻ vang cho tiền nhân, thiên hạ sẽ khen là ông bà cha mẹ ăn hiền ở lành để phúc đức lại cho con cháu; từ đó chúng càng biết ơn và dễ làm tròn bổn phận đối với các ngài (thờ cúng, chăm sóc phần mộ).

            Trên tổ tiên là các vị thần thánh và cao nhất là Trời, Phật; các Ngài bao giờ cũng rộng lòng từ bi thương xót chúng sinh, nhất là đối với những kẻ ngay lành, các Ngài thường cứu vớt họ khỏi tai hoạ và phù hộ cho họ thành tựu được những nguyện vọng chính đáng về hạnh phúc. Cho nên đầu năm mới là dịp người ta rủ nhau đi lễ cầu phước và chùa chiền, đình, đền, phủ, miếu là nơi tụ hội của hầu như tất cả mọi người: già trẻ lớn bé, trai thanh gái lịch, ai ai cũng chưng diện quần áo mới, đến nơi thiêng liêng thành tâm cúng lễ để cầu xin được ban phước ban lộc.

            Tất cả những nơi thờ phụng các đấng thiêng liếng ấy đều là chỗ dựa, là điểm bấu víu cao nhất mà người ta có thể tìm đến đặt để niềm hi vọng, điều nguyện ước cao xa thầm kín nhất của mình. Lại nữa chỉ với các đấng siêu phàm người ta mới dám thổ lộ hết mọi tội lỗi mà nhiều khi người ở dưới trần không biết, do tin rằng không thể giấu được các Ngài, và thà sám hối để được các Ngài tha thứ còn hơn. Cũng thế, người ta tin rằng chỉ các Ngài mới có quyền năng phò trợ con người thành đạt được những nguyện ước cao xa, khó khăn vượt quá sức người, cùng giúp con người tránh khỏi những tai hoạ không lường trước được.

            Vậy Tết cũng là dịp người ta chấm dứt nỗi thất vọng trong năm qua để gây niềm hi vọng trong năm mới, lấy đà tâm lí tiến lên. Ở đây ta lại thấy dân tộc Việt giàu lòng tín ngưỡng tới chừng nào! Lòng tin ở các thế lực siêu phàm thấm sâu vào tận tim óc người dân Việt, thể hiện trong đời sống bình nhật, lên tới độ cao nhất vào dịp đầu năm, nở ra thành những niềm hi vọng để theo đuổi thực hiện như cây cỏ sau mùa đông rụng lá, khi xuân sang thì nguồn sinh lực mới tiềm tàng nay lại dâng lên dào dạt: đâm chồi, nẩy lộc, nở hoa.

Chú thích chương phụ

(1)  Hiện nay dân Nhật đã bỏ tết âm lịch để ăn tết dương lịch.

(2)  Cây nêu làm bằng một cây tre dài, trên ngọn thường buộc một túm lông đuôi gà trống đẹp, phía dưới một chút có thể treo môt ngọn đèn lồng nhỏ để thắp sáng ban đêm. Từ 30 tết người ta dựng cây nêu ở sân trước nhà để quỉ khỏi nhận mất đất. Xin đọc thêm sự tích cây nêu trong “Việt NamVăn Học Toàn Thư” của Hoàng Trọng Miên, q. II, phần “Cổ tích phong tục”.

(3) Nhiều người còn cho rằng thời gian tíu tít chuẩn bị tết còn vui hơn chính ngày tết vì “ngày vui ngắn chẳng tầy gang”, quay đi quay lại đã hết mồng ba; hết mồng bảy là hạ cây nêu rồi!

(4)  Đậu (đỗ), ngô (bắp), khoai lang, sắn (khoai mì) một phần nhỏ được ăn tươi, còn phần lớn được thái mỏng phơi khô để phòng lúc mất mùa hay thời kì giáp hạt thiếu gạo thì ăn cơm độn chờ mùa lúa chín tới.

(5)  Nghề đánh bắt cá trên sông, biển là nghề chuyên của các làng chài lưới (xưa kia gọi là “vạn”) ở ven sông lớn và ven biển (không làm nghề nông).

(6)  Xã hội xưa chia ra 4 ngành nghề chính (tứ dân) theo thứ tự cao thấp: sĩ, nông, công, thương.

(7)  Những câu chúc quen thuộc thường là mạnh khoẻ, phát tài, phát lộc, thăng quan tiến chức, đại đăng khoa (thi đỗ) rồi tiểu đăng khoa (cưới vợ), đắt chồng, đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái v.v… tuỳ theo hoàn cảnh của người được chúc.

(8)  Trong mấy ngày tết, con cháu đều dâng cơm cúng lên bàn thờ tổ tiên như đối với người sống cho đến hết ngày mồng ba hay mồng bốn cúng đốt vàng (cúng bữa chót, đốt vàng mã tiễn các ngài trở lại thế giới bên kia) mới thôi.

(9)  Tục mừng tuổi bằng phong bao đựng tiền là sau này ta bắt chước người Tàu ở thành thị. Còn dân ta ở nông thôn trước kia thì người lớn đã biếu tặng quà nhau từ trước Tết, năm mới gặp nhau chỉ chúc lời. Người dưới đến nhà người trên chúc tết, muốn trịnh trọng thì đốt một bánh pháo khi tới cổng. Trẻ con ở lứa tuổi thiếu niên cũng đã được người trên sắm tặng quần áo mới, đồ dùng thiết thực từ trước Tết rồi.