7

A. Các trò vui chơi tiêu khiển

  1. Tính tập thể và tính tín ngưỡng

            Đây là đặc điểm nổi bật nhất trong các trò vui chơi giải trí mà ta có thể nhận ra dễ dàng bởi phần lớn các trò vui này được tổ chức vào dịp hội hè đình đám nơi làng xã.

            Thường vào dịp đầu năm âm lịch, ăn tết Nguyên đán xong, bầu không khí tưng bừng của ngày tết, náo nức của ngày xuân vẫn còn. Tuỳ theo tục lệ mỗi làng, hoặc chọn ngày giỗ của vị thần thành hoàng của làng, hoặc theo sự tích của vị ấy lúc sinh thời, làng mở hội bằng các cuộc tế lễ rước xách để cầu an cầu phúc, sau đó tổ chức các cuộc vui chơi công cộng để mọi người cùng tham dự.

            Có làng khá giả lập hội múa rồng, múa sư tử (lân) trước là lễ thánh, sau là biểu diễn cho dân làng xem. Các trò vui chơi phần lớn diễn ra trước sân đình, hoặc bãi đất trống trước sân đình, dầu là các trò chơi có tính cách thể thao sức lực như thi chạy, kéo co, đánh vật, đánh đu, đánh phết (tương tự khúc côn cầu), ném giỏ (tương tự bóng rổ), vật cầu (tương tự bóng bầu dục), leo dây, leo cột mỡ, bơi trải (1) hay có tính cách thể thao trí óc như cờ người, tổ tôm điếm, tam cúc điếm, hoặc trò chơi cần đến óc sáng chế, sự khéo tay như làm và thả diều sáo… cũng đếu có rất đông người tham dự.

            Không những chỉ dân làng sở tại vào đám mà dân các làng lân cận cũng có thể đến chung vui, dự khán hoặc dự tranh các cuộc thi có treo giải thưởng. Có khi chức sắc, bô lão làng này vào hội mời chức sắc, bô lão làng kia đến dự. Hoặc có thể các làng anh em, kết nghĩa, hoặc cùng thờ chung một vị thần thành hoàng tổ chức hội hè chung (2). Trong dịp vào hội này, mọi người dân làng ở tuổi trưởng thành từ trên xuống dưới, ai cũng coi việc tham gia là nghĩa vụ chung (đóng góp nhân, tài, vật lực) và cũng là quyền lợi chung (được bàn góp ý kiến, được ăn cỗ chia phần, dự các cuộc vui).

            Như vậy tính tập thể quần chúng không phải chỉ thể hiện ở chỗ có đông người tham dự vào lúc diễn ra các cuộc vui chơi, mà còn ở chỗ tập thể tham gia vào quá trình tổ chức từ đầu đến cuối (3). Đây là di tích của xã hội ban đầu ở đó người ta tổ chức những buổi lễ cho các thành viên của bộ lạc đến tuổi trưởng thành ra mắt để được công nhận có đủ điều kiện trở nên thành viên chính thức của cộng đồng (gọi là lễ nhập tịch hay thành đinh). Trong những dịp lễ ấy họ phải chứng tỏ khả năng cần thiết không những cho cuộc sống tự lập mà còn có thể đóng góp cho cộng đồng nữa. Con trai thì phải có sức lực dẻo dai chạy, nhảy, leo trèo, bơi lội, chèo thuyền, bắn cung…, con gài thì phải khéo việc thổi nấu, canh cửi v.v… (4)

            Còn tính tín ngưỡng trong cuộc vui chơi, ngoài sự biểu lộ tinh thần tín ngưỡng dồi dào của dân tộc Việt, nó còn cho ta thấy sự hoà đồng giữa sinh hoạt tôn giáo với đời sống thực tế. Nói cách khác, tín ngưỡng của người dân Việt thấm nhuần và thể hiện trong đời sống hàng ngày của họ. Người dân Việt tôn thờ một thế lực siêu nhiên nào thì nhân cách hoá ngay thế lực ấy và tin rằng “vị” ấy tuy ngự trị ở ngôi cao, song cũng gần đâu đây, sẵn sàng phù hộ dân chúng, chia sẻ niềm vui với họ, chứng kiến những cuộc vui do họ tổ chức để dâng hiến mình (trước lễ thánh, sau để dân làng vui chung). Bởi vậy, mở đầu mỗi trò chơi, người tham dự hoặc người đại diện phải khăn áo chỉnh tề vào lễ thánh trước rồi mới nhập cuộc sau. Toàn thể các cuộc vui chơi diễn ra và đóng khung trong thời gian lễ lạc: khai mạc hội bằng buổi tế lễ có hay không có đám rước thần, kết thúc cũng bằng buổi lễ long trọng.

2. Tính lạc quan thích vui cười, tính tự do trong tiếp xúc nam nữ và tính hiện thực

            Đời sống vất vả lam lũ quanh năm khiến người dân Việt rất cần những dịp hội hè để vui chơi giải trí. Ngoài những trò chơi có tác dụng khích lệ sự tranh đua về thể lực, về trí óc, về sự khéo tay cần cho công việc hàng ngày, còn có nhiều trò chơi có công dụng giải trí bằng cách gây cười. Đó là những trò chơi đơn giản nhưng dễ chọc cười, vì đối với người dân nông thôn tâm hồn chất phác và đời sống giản dị thì không cần nụ cười sâu sắc gì cho lắm. Chẳng hạn như các cuộc thi nhẩy bị, leo cột mỡ, bịt mắt bắt dê (hoặc bắt lợn, bắt vịt), quàng vai bắt chạch v.v… (5) được quần chúng tán thưởng bởi lẽ nụ cười giúp họ quên khuấy đi được, dù trong chốc lát, nỗi nhọc nhằn vất vả.

            Cùng với kho tàng chuyện trào phúng, chuyện khôi hài, chuyện tiếu lâm cùng những chuyện bông lơn bù khú trong sinh hoạt hàng ngày, cả bộ môn hát chèo thuộc ngành nghệ thuật sân khấu (cũng thường dựng rạp trong sân đình để trình diễn trong dịp hội hè đình đám) chuyên chế giễu, pha trò cho thấy người dân Việt rất thích vui cười.

            Thêm một đặc điểm cũng rất dễ nhận ra là tính cách tự do phóng khoáng trong sự tiếp xúc giữa nam và nữ trong các dịp vui chơi hội hè. Đây là đặc điểm mà người bình dân ở nông thôn vẫn giữ dù trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, người Trung Hoa đã đem sang nền lễ giáo phân biệt nam nữ được giới nho sĩ Việt cầm quyền trong thời kì độc lập tuân thủ kĩ lưỡng.

            Sau này dù ảnh hưởng của nền lễ giáo này vẫn còn mạnh trong phong tục tập quán của dân ta, song trong đời sống của quảng đại quần chúng, nhu cầu tình cảm vẫn mạnh hơn, và trong những dịp hội hè vui chơi thì lễ giáo và ngay cả thần thánh cũng phải tháo khoán cho sự tự do tiếp xúc giữa nam và nữ (6) để cho trái tim được thoải mái bộc lộ niềm khao khát yêu đương. Như tại rất nhiều vùng ở đồng bằng Bắc bộ, trong dịp hội hè, các cuộc hát đối đáp nam nữ giao duyên là hấp dẫn nhất. Trong những buổi hát ấy trai gái hoặc chia ra hai phía đối diện nhau, hoặc có nơi ngồi cạnh nhau, vịn vai nhau mà hát, hoặc đối mặt kết tay giao chân nhau mà hát (7). Một vài miền còn có tục hát nam nữ giã cối nữa (8).

            Đời sống nông nghiệp gần gũi với thiên nhiên, việc nuôi gia súc gia cầm khiến người dân nông thôn chẳng xa lạ gì với động tác đực cái trống mái của loài vật. Và họ thấy con người cũng phải… như vậy! Công việc của nghề nông thô sơ cần nhiều nhân công, vì thế việc sinh con đàn cháu đống là điều đáng mong ước. Cho nên dưới mắt người nông dân và trong ngôn ngữ của họ, “cái giống” của nam và nữ chẳng có gì phải e dè mà không nhắc đến cả. Có khi đối với họ, cái đó còn là vật thiêng sinh ra sự sống nữa: đó là quan niệm của dân một vài làng thờ cái giống và rước hình cái giống trong ngày hội lễ. Hoặc có làng thờ ông Đùng bà Đà là đôi nhân vật huyền thoại, là hai anh em ruột vì thân hình khổng lồ không lấy được ai, nên đành phải lấy nhau vậy.

            Dưới mắt các nhà nho sau này thì phong tục bị coi là đồi bại như ở làng Dã La “thờ dâm thần, cứ đến ngày rã đám thì buổi tối tế một tuần, trong khi đang tế, tắt hết đèn nến, đình miếu tối mù, rồi đàn bà đàn ông, bất cứ ai đùa lẫn nhau một lát; có câu tục ngữ rằng: “Bơi Dăm, rước Dá, hội Thầy; vui thời vui vậy, chẳng tày Dã La” là không thể chấp nhận được.” (9)

            Nếp sống giản dị gần thiên nhiên, tính tình chất phác, người dân Việt ở nông thôn rất ưa biểu hiện hiện thực. Họ hay nhắc đến việc tính giao. Bằng chứng rõ ràng nhất trong ngôn ngữ thông tục của người bình dân là số từ ngữ chỉ “cái ấy”, “việc ấy” rất phong phú, những câu chửi tục để… chửi kẻ mình thù ghét cho sướng miệng, cho bõ ghét cũng rất dồi dào (10); còn chuyện tiếu lâm kể chuyện dâm tục thì có cả một kho với công dụng chính là gây nên những trận cười vỡ bụng, thế là những nỗi nhọc nhằn vất vả trong đời sống lam lũ hàng ngày được quên biến đi.

            Tầng lớp nhà nho trọng lễ giáo thì ghét thứ ngôn ngữ mà họ cho là hạ cấp và loại chuyện mà họ coi là tục tĩu nhảm nhí này (11). Song sự tránh né cái tục quá đáng của một số nhà nho ─ nhất là khi họ sống gần lớp bình dân ─ có khi bị chỉ trích là đạo đức giả, chứ thực ra sau bức màn che thì các cụ cũng ghê gớm lắm (!) như trường hợp cụ Nguyễn Công Trứ (đã nhắc nhiều lần) chẳng hạn. Nữ sĩ Hồ Xuân Hương nổi danh với những bài thơ hai ý trong đó có những tiếng nói lái mà ý dâm tục nửa kín nửa hở: Đánh đu, Đánh cờ, Cái quạt, Quả mít, Đèo Ba Dội, Hang Cắc Cớ v.v… nói xéo mấy ông tai to mặt lớn đến đâu cũng không thoát khỏi cài lòng ham muốn “cái ấy”, “việc ấy”:

Hiền nhân, quân tử, ai là chẳng…
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
(Qua đèo Ba Dội)

Mỏng dày chừng ấy chành ba góc,
Rộng hẹp chừng nào cắm một cay(12).
Càng nóng bao nhiêu càng thấy mát,
Yêu đêm chưa đủ lại yêu ngày.
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy(13),
Chúa dấu vua yêu một cái này.
(Vịnh cái quạt, bài II)

            Thỉnh thoàng cũng có một vài nhà nho hiển đạt không ngăn nổi cái khuynh hướng hiện thực, nói thẳng cái sự thật ấy mà không cần che đậy trong tác phẩm của mình như đoạn trích sau đây trong bài hát nói “Chơi cho thoà thích” của Trần Lê Kỉ:

Trời đã sinh ra kiếp làm người,
Nếu không chơi, người cười là chú vích(14).
Được ngày nào ta chơi cho thích,
Cho phong lưu thanh lịch mới là trai.
Thấy ai ai, ta cũng ai ai,
Ai ai ấy thì ta cũng ấy,
Chớ có quở chữ dâm là chữ bậy;
Nếu không dâm sao có nẩy ra hiền?

3. Ảnh hưởng ngoại lai: đặc tính trong thú tiêu khiển của giới nho sĩ học thức

a) Mô phỏng cổ nhân Trung Hoa

Như đã trình bày nhiều lần, sau thời kì Bắc thuộc kéo dài, dân tộc Việt đã học được của kẻ ngoại nhân cai trị mình khá nhiều; rồi cùng với chính sách đồng hoá của người Tàu, với thời gian trôi qua, ta cũng mất đi không ít những đặc điểm văn hoá riêng của mình vốn có từ trước khi văn hoá Tàu theo gót giày xâm lược tràn sang. Rồi khi hình thành tầng lớp sĩ phu hán học cao cấp nắm quyền lãnh đạo thì những sáng tạo độc đáo trong sinh hoạt thượng tằng hiếm dần đi. Thay vào đó, ta bắt chước mọi kiểu tàu, chẳng những trong mọi tổ chức chế độ chính tri, giáo dục, kinh tế như đã nói, mà còn trong các ngành văn nghệ: chế tác chữ viết, sáng tác văn học, trình diễn sân khấu, kiến trúc, công nghệ, mĩ nghệ và các cách tiêu khiển, nhiều phần mô phỏng Trung Hoa.

            Tầng lớp sĩ phu trí thức Việt, do ảnh hượng của nền học vấn của họ là Hán học, họ sùng thượng những giá trị văn hoá Trung Hoa, nên trong những cách ăn chơi tiêu khiển họ cũng bắt chước giới thượng lưu trí thức Trung Hoa. Tiêu biểu cho tính mô phỏng này trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của giới nho sĩ Việt có thể tìm thấy ở đoạn trích trong bài hát nói “Ngày tháng thanh nhàn” sau đây của Nguyễn Công Trứ:

Cầm, kì, thi, tửu với giang san,
Dễ mấy kẻ xuất trần xuất thế?
Ngã kim nhật tại toạ chi địa,
 Cổ chi nhân tằng tiên ngã toạ chi (15).
Ngàn muôn năm âu cũng thế ni,
Ai hay hát mà ai hay nghe hát,
Sông Xích Bích buông thuyền năm Nhâm Tuất,
Để ông Tô riêng một thú thanh tao (16).

            Quan sát thú tiêu khiển kể trên của giới nho sĩ gồm chơi đàn, đánh cờ, làm thơ, uống rượu, có khi thêm vẽ (hội hoạ) cùng ngắm cảnh thiên nhiên, ta thấy rõ ràng không có tính tập thể (quần chúng). Trừ cờ phải có hai người, còn các món kia có thể chỉ là thú tiêu khiển cá nhân hay ít người như hoà đàn, làm thơ (xướng hoạ hay liên ngâm), uống rượu, uống trà. Hai món sau này cũng có thể uống một mình (độc ẩm), uống hai người (song ẩm), hay nhiều người (quần ẩm). Song nhiều cũng chỉ ba, bốn, năm người là cùng. Còn thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên thì một mình mới trầm tư mặc tưởng trong khi thưởng ngoạn và nghĩ tới những tư tưởng cao xa; còn nếu có bạn thì thường là kết hợp cả uống rượu, làm thơ hoặc hoà đàn nữa.

b) Tính tao nhã và tính nhàn tĩnh

            Đây là biểu hiện rõ nhất của khuynh hướng mô phỏng cổ nhân Trung Hoa. Trong khi tiêu khiển, giới nho sĩ biểu lộ phong cách cao quí của giới tao nhân mặc khách (17) để phân biệt giá trị hơn hẳn của mình với đám đại chúng ào ào thô phác; bởi vì ngay từ cử chỉ dáng điệu, chứ chưa nói đến ngôn ngữ, cách xử sự của họ đã phải khác người tầm thường rồi. Xã hội trọng nho tất nhiên phải trọng con người nhà nho với tất cả phong thái của họ. Cho nên mẫu người lí tưởng trong tác phẩm văn nôm của nhà nho phải như nhân vật Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Nền phú hậu, bậc tài danh,
Văn chương nết đất, thông minh tính trời,
Phong tư tài mạo tuyệt vời,
Vào trong phong nhã (18), ra ngoài hào hoa.

            Thú tiêu khiển tao nhã của giới nhà nho, ngoài việc làm thơ thuộc lãnh vực sáng tác văn nghệ, còn có:

  • Đánh cờ tướng:  là thú chơi tiêu nhiều thì giờ nhất và cũng nhàn tĩnh nhất. Trong câu chuyện cổ, ta thường được nghe kể lại cảnh hai ông tiên ngồi đánh cờ trên cái bàn đá trong rừng thẳm, trên ngọn núi cao, và một chú tiều phu dưới trần may mắn gặp cảnh ấy, ngồi xem tới lúc xong ván cờ, đứng dậy thì thấy cán búa đã mục. Đây là môn thể thao trí óc có suy tính cao thấp và có kết quả thắng, bại hoặc hoà. Song được thua không quan trọng, mình đi được nước cờ cao dồn đối thủ vào thế bí, hoặc học được nước cờ cao của đối phương gỡ được thế bí đó, cả hai bên cùng thưởng thức nước cờ của nhau và lấy làm vui thích. Vậy thái độ và tâm lí người trong cuộc cờ mới đáng kể.

            Ta hãy đọc đoạn văn sau đây nói về tâm lí người đánh cờ:

                        Cậu rồi ngày sau khá. Cứ một cái lối đánh cờ của cậu tôi cũng thấy được một phần cái tương lai của cậu. Nhiều nước cờ bắt bóng chiếu rứ có vẻ tài tử lắm. Tôi nghiệm ra cậu không hay rình chiếu bí và có cái đáng để ý nhất trong lối xuất quân là cậu đánh mấy ván đều vào pháo đầu cả. Người hào hùng đánh cờ bao giờ cũng vào ngáy pháo đầu. Đánh cờ tức là người đấy…”

                        (Nguyễn Tuân, “Vang Bóng Một Thời”, truyện ngắn “Ngôi mả cũ”).

  • Thả thơ, đánh thơ: là một lối đố chữ trích trong những câu thơ cổ để thử sự sánh điệu của giới hâm mộ thi ca (đọc nhiều, thuộc nhiều thơ cổ). Nhưng đây đồng thời là một lối đánh bạc tao nhã: kèm với “tiếng bạc thơ” còn có tiếng tơ trầm bổng phụ hoạ cho giọng ngâm réo rắt làm tăng vẻ hào hoa phong nhã cho cuộc chơi, át cái bầu không khí đỏ đen đi.
  • Uống trà: đây là một thú tiêu khiển thanh cao nhã đạm mà dân Nhật tôn lên bậc “trà đạo”. Còn các nhà nho Việt thì coi đây là cái thú của hạng cao sĩ thanh nhàn. Uống trà vào lúc sáng sớm đối với họ là một cách giữ cho tâm hồn trong sáng và thân thể khoẻ mạnh. Nhân vật cụ Ấm trong truyện ngắn “Chén trà trong sương sớm” (cũng trong tác phẩm “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân) có thói quen nghĩ đến câu của Tăng tử “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân” (Ta một ngày ba lần sửa lỗi mình) vào giờ uống trà. Còn ông thầy học của cụ Ấm (là một quan đốc học) khi xưa thì sáng sớm dậy uống trà hay ngâm mấy câu:

Bán dạ tam bôi tửu,        nghĩa :        Mai sớm một tuần trà,
Bình minh sổ trản trà.           Canh khuya dăm chén rượu.
Mỗi nhật y như thử,                     Mỗi ngày được như thế,
Lương y bất đáo gia.                       Thầy thuốc xa nhà ta.

            Cũng vì thế pha trà là cả một nghệ thuật phải mất nhiều công phu:

                        Chưa bao giờ ông già này dám cẩu thả trong cái thú chơi thanh đạm. Pha cho mình cũng như pha trà mời khách, cụ Ấm đã để vào đấy bao nhiêu công phu. Nhưng công phu đó đã trở nên lễ nghi, nếu trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhấn thấy một tị triết lý và tâm lý. (cùng tác giả và tác phẩm kể trên).

            Sau đây là ý kiến của cụ Ấm về uống trà, pha trà:

                        Các cụ cứ suy ra một bộ đồ trà chỉ có đến bốn chén quân thì các cụ đủ biết cái thú uống trà tàu không thể ồn ào được (…) Chỉ có người tao nhã cùng một thanh khí mới có thể cùng nhau ngồi bên một ấm trà. Những lúc ấy chủ nhân phải tự tay mình chế nước, nhất nhất cái gì cũng làm lấy cả, không dám nhờ người khác, sợ làm mất cả thành kính… (cùng xuất xứ kể trên)

            Nhưng pha trà dù công phu mấy cũng chỉ thu gọn trong vòng mươi, mười lăm phút, còn cách chọn thứ nước để pha trà mới thật là cầu kì:

… nước pha trà không thứ gì thơm lành bằng cái thứ nước đọng trong lá sen. Mỗi lá chỉ có ít thôi. Phải gạn vét ở nhiều lá mới đủ uống một ấm.

(cùng xuất xứ kể trên)

            Trong khi uống trà mà đem thơ ra ngâm, đem văn ra bình thì lại là một cái thú cao tuyệt vời. Chẳng thế mà thỉnh thoảng cụ Ấm uống trà lại bắt người trưởng nam bình bài “Trà ca” của Lư Đồng, hoặc chính cụ lại giở cả “Vũ Trung Tuỳ Bút” ra để giảng những đoạn công phu mà tác giả Phạm Đình Hổ dành để chiêm nghiệm và xưng tụng trà tàu. Cho nên trong câu ca dao:

Làm trai biết đánh tổ tôm,
Uống trà Mạn Hảo, ngâm nôm Thuý Kiều.

thì uống trà và ngâm Kiều đi cùng với nhau trong một câu thơ.

  • Chơi cây cảnh, núi non bộ: là sự biểu lộ tình yêu thiên nhiên của các nhà nho. Sống gần cảnh thiên nhiên thật với núi cao sông rộng, trời đất bao la, trăm hoa đua nở phô sắc khoe hương là hoàn cảnh khó có được thì họ tự tay gây lấy một vườn hoa với một ít loài hoa quí ─ có đủ hương sắc ─ hoặc chỉ chơi riêng một loài hoa vương giả là hoa lan. Trong vườn xây bể thả cá vàng, núi giả trên có đủ cây, suối, hang động, cuộc cờ tiên, tức là có sẵn bên mình cảnh sắc thiên nhiên thu nhỏ lại để lúc rảnh rỗi thả hồn vào đó mà di dưỡng tính tình thì thật là một cái thú im lặng đầy vị thơ và vị triết lí Đông phương. Nhưng thú chơi nào mà chẳng tốn công phu? Đây là quan niệm của nhân vật trong truyện ngắn “Hương cuội” cũng ở trong “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân:

                        Cụ Kép nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự loài hoa thơm cỏ quý (…) Cụ Kép thường nói với lớp bạn cũ rằng có vườn hoa là một việc dễ dàng, nhưng đủ thời giờ để săn sóc đến hoa mới là việc khó. Cụ muốn nói rằng người chơi hoa nhiều khi phải lấy cái chí thành chí tình ra mà đối đãi với cả cái đẹp không bao giờ lên tiếng nói. Như thế mới phải đạo, đạo của người tài tử. Chứ còn cứ gây lên một khoảng vườn, khuân hoa cỏ ở các nơi về mà trồng, phó mặc chúng ở giữa trời, đầy chúng ra mưa nắng với thờ ơ, chúng trổ bông không biết, chúng tàn lá không hay thì chơi hoa làm gì thêm tội với Chúa Xuân.

            Đến như lối thưởng thức tiệc rượu Thạch Lan Hương thì quả là một thú tiêu khiển tổng hợp có đủ cả ăn, uống, ngửi, ngâm (thơ), ngắm (trăng) thì phải là những người có tâm hồn thanh cao ─ mà lại khá giả nữa ─ mới thưởng thức nổi cái hương vị tế vi, sản phẩm tiếng rằng của thiên nhiên, nhưng chỉ có thể có được sau bao chuẩn bị công phu tốn kém của con người.

            Trồng hoa lan, đợi đến thời kì hoa nở, tuỳ theo thời tiết, nếu đúng vào dịp rằm tháng giêng thì tốt nhất vì có trăng tròn để mà ngắm, nấu kẹo mạch nha cho khéo, cuốn kẹo vào những hòn đá cuội tròn, đã rửa kĩ trước đó dĩ nhiên, song còn phải chọn thứ nhỏ đủ ngậm vừa trong miệng. Những viên “đá kẹo” ấy được đặt vào chậu hoa lan, úp lồng bàn phất bằng giấy lại cho hương thơm của hoa ướp vào kẹo. Thửa sẵn rượu ngon, mời sẵn bạn thơ, đến đêm rằm, đốt đèn lồng treo ngoài vườn đào, bày tiệc rượu hoa giữa vườn, cùng vài ba người bạn uống rượu, ngâm thơ, ngắm trăng, ăn kẹo ướp hương lan…

            Ta hãy cùng mấy cụ già trong truyện ngắn “Hương cuội” (cùng tác giả, tác phẩm kể trên) thưởng thức mùi hương hoa Mặc Lan khi chiếc lồng bàn úp chậu hoa được mở ra:

                        Một mùi hương lan bị bỏ tù trong bầu không khí lồng bàn giấy phất chật hẹp từ đêm qua, đến bây giờ vội tản bay khắp vườn cây. Bốn cụ và bõ già đánh hơi mũi: những cặp mắt kém cỏi đăm đăm nhìn bầu không khí trong vắt như có ý theo dõi luồng hương thơm đang thâm nhập vào các lớp khí trời.

            Nhận xét chung về các trò vui chơi tiêu khiển của cả đại chúng lẫn giới học thức, ta thấy tinh thần thượng võ cổ truyền của dân tộc Việt có khuynh hướng giảm dần.

            Căn cứ vào các hình khắc hoạ trên trống đồng thì trước khi tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, dân tộc Việt trong thời thượng cổ do phải luôn luôn chiến đấu chống ngoại xâm nên tinh thần thượng võ phải cao và thâm nhập vào sinh hoạt trong các ngày hội lễ. Hình người múa vũ trang (19) và hình những chiếc thuyền hoạt động trong ngày hội lễ trên sông nước như bơi trải, hoặc cúng tế cầu mưa, trên thuyền có trống đồng và người cầm vũ khí còn thấy được khắc hoạ trên cả mặt trống lẫn thân trống thuộc thời đại Hùng vương (20).

            Sau thời Bắc thuộcc đến thời độc lập, dù văn hoá Trung Hoa với tinh thần trọng văn có ảnh hưởng mạnh trong các ngành sinh hoạt xã hội, song hẳn là sau mỗi lần chiến thắng quân xâm lăng, tinh thần thượng võ phải lên cao, cho nên ở một số địa phương vẫn còn những tục lệ vui chơi trong những ngày hội hè đình đám mang dấu vết chiến công của những trang lịch sử oai húng. Chẳng hạn cuộc rước diễn lại trận đánh phá giặc Ân của Thánh Dóng tại làng Phù Đổng, rước Hai Bà tại đền làng Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tình Phúc Yên có hình thức tập trận với số đông thanh niên nam nữ mặc đồng phục làm quân của Hai Bà, hoặc rước diễn tích cờ lau tập trận tại làng Trường Yên, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, nơi có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Chắc là lúc đầu các cuộc tế lễ rước xách ấy có chủ đích diễn lại chiến công của tiền nhân, đề cao tinh thần thượng võ cho các thế hệ sau noi theo.

            Đến khi tinh thần trọng văn thượng lễ của Nho giáo mạnh dần lên cùng với chế độ quân chủ càng ngày càng muốn dập khuôn theo mẫu mực Trung Hoa ─ có thể nói khuynh hướng này lên cao nhất từ đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) trở về sau cho đến triều Nguyễn ─ thì các cuộc tế lễ rước xách cũng thiên về hình thức lễ nghi mang tính tín ngưỡng nhiều hơn; và các cuộc vui chơi cũng nhiễm tinh thần trọng văn khinh võ. Hậu quả là các trò vui chơi ít có tính cách mạnh bạo, mạo hiểm, các môn thể thao thiên về sức mạnh vật chất ít phát triển.

4. Nói qua về những đam mê tai hại

            Trong các thú tiêu khiển của cả hai giới bình dân và nho sĩ trí thức, một số không có ranh giới giữa giải trí lành mạnh và đam mê tai hại. Trừ thuốc phiện và mấy món đổ bác vốn có tính cách đỏ đen rõ rệt như xóc đĩa, ít xì (xì phé) v.v… mà sự nghiện ngập và máu mê dễ đưa người ta đến cảnh táng gia bại sản hoặc tệ hơn nữa vào vòng tù tội, còn các thú chơi khác khởi đầu cũng chỉ là mua vui, nhưng khi người ta quá đam mê trở thành nghiện ngập hoặc lao đầu vào đám cờ bạc sát phạt nhau thì chúng biến thành tai hoạ phá vỡ hạnh phúc cá nhân, gia đình cùng đời sống yên vui trật tự của xã hội.

            Người ta nói đến tai hại của thuốc phiện “trai anh hùng cũng so vai rụt cổ, gái thuyền quyên cũng mặt bủng da chì”, hoặc nhà cửa ruộng vườn trâu bò gì cũng chui lọt vào lỗ nhĩ của cái tẩu hút thuốc phiện! Còn tai hại của “cờ bạc là bác thằng bần, cửa nhà bán hết tra chân vào cùm”, hoặc “được ham ăn, thua ham gỡ”, lúc đầu thì định “rỡ nhà ngói của người ta về làm chuồng lợn” nhà mình, sau hậu quả ngược lại là chính nhà mình bị người ta rỡ mất! Hoặc cành gia đình tan hoang như trong bài ca dao “Chồng em nó chẳng ra gì, tổ tôm xóc đĩa nó thì chơi hoang” đã dẫn trong chương nói về người phụ nữ ở trên.

            Rượu cũng là một trong bốn thú vui tao nhã cầm, kì, thi, tửu, nhưng ai mà nghiện thì cũng trở thành ma men, chẳng còn chút tương lai, hi vọng gì. Cho nên các cụ nói: “giàu đâu đến kẻ ngủ trưa, sang đâu đến kẻ say sưa tối ngày”. Còn về cầm, kì thì chính các nhà nho cũng cảnh giác “gia trung hữu cầm, nữ tử tắc dâm, gia trung hữu kì nam tử tắc suy”.

            Ngay như trà tàu tưởng có gì là hại đâu, thế mà khi nghiện, nó vẫn có thể làm cho người ta táng gia bại sản đến phải đi hành khất như tên ăn mày cổ quái trong truyện ngắn “Những chiếc ấm đất”. Theo tác giả “Vang Bóng Một Thời” thì tên ăn mày này chỉ vào xin những nhà đại gia. Có lần hắn xin chủ nhân nguyên một ấm trà mới, tự pha lấy vào cái ấm đất riêng của mình rồi ngồi bắt chân chữ ngũ, thưởng thức trà với dáng vẻ một người sành điệu. Sau đó hắn khám phá trúng phóc ra là trong bình trà của chủ nhân có lẫn mùi trấu! Còn chính cụ Sáu, nhân vật chính trong truyện, nghiện trà tàu cầu kì đến độ chỉ pha trà với nước giếng chùa Đồi Mai, phải sai người nhà đi bộ cả ngày mới xin được một gánh, và cụ không thể đi đâu xa được chỉ vì không thể đem nước giếng ấy đi theo pha trà cho khỏi lạc mất hương vị. Rốt cuộc cụ Sáu cũng lâm vào cảnh sa sút đến phải bán nhà, rồi bán dần cả đến những chiếc ấm đất pha trà mà lúc trước giá có người chồng bạc nén cũng không chuốc nổi của cụ.

            Thêm vào mấy thứ đam mê kể trên cho đủ bộ “tứ đổ tường” (21) thì từ cuối thế kỉ XIX cho đến đầu thế kỉ XX có nạn cô đầu con hát (22). Nguyên hát cô đầu (hát ả đào hay đào nương ca) từ lâu là một thú tiêu khiẻn tao nhã của giới văn nhân nghệ sĩ mà chúng tôi sẽ xin trình bày ở một đoạn sau. Nhưng vào thời gian kể trên là lúc xã hội suy đồi, luân lí xuống dốc thì thú vui thanh cao biến chất và trở nên thú hành lạc thấp kém của lớp người có tiền nhưng chẳng biết gì đến thưởng thức văn chương nghệ thuật. Mê cô đầu con hát, người chồng bỏ bê vợ con, hoặc lấy cô đầu làm vợ lẽ khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ, một thời cũng là một tai hoạ xã hội.

B. Sơ lược về một số đặc tính tiêu biểu trong các ngành nghệ thuật, mĩ nghệ và công nghệ

            Như đã trình bày, các ngành nghệ thuật và công nghệ của dân tộc Việt thời thượng cổ cũng phải có những đặc trưng ở vào trình độ tương ứng với nền kinh tế nông nghiệp định cư định canh và thuộc nền văn hoá thời kì thịnh đạt của đồ đồng đang bước sang đồ sắt.

            Dĩ nhiên, công, kĩ, mĩ nghệ và nghệ thuật muốn đạt tới những đỉnh cao, có được những nghệ sĩ lớn sáng tác nên những kiệt tác phẩm thì phải có điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội chuẩn bị trước. Dân tộc Việt chưa kịp đi đến giai đoạn lịch sử có đủ những điều kiện thuận lợi như vậy thì đã bị đế quốc Trung Hoa xâm lăng thôn tính rồi thực hiện chính sách cai trị đồng hoá. Những giai đoạn lịch sử tiếp theo là cuộc tranh đấu triền miên từ đời nọ qua đời kia để giành lại và bảo vệ nền độc lập quốc gia và duy trì sắc thái văn hoá riêng được càng nhiều càng tốt.

            Kết quả là cuộc gặp gỡ có tính cách cuỡng ép giữa hai nến văn hoá Hán và Việt đưa đến sự kết hợp có chỗ hài hoà, nhưng cũng có chỗ không xuôi xẻ (23). Nhìn bao quát, ta có thể thấy một số đặc tính tiêu biểu sau đây:

  1. Tính mô phỏng, tồn cổ

            Đó là tính hay bắt chước người xưa, giữ lại những gì người xưa truyền lại. Ở đây có một vấn đề đặt ra là sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc, đặc sắc trong nghệ thuật và công nghệ có trước đó của dân tộc Việt có bị lớp bụi thời gian chôn vùi mất và sau đó thì ta hoàn toàn bắt chước Trung Hoa hay không?

            Dĩ nhiên là có những lãnh vực bắt chước nhiều, có những lãnh vực bắt chước ít. Những sản phẩm, tác phẩm nào liên hệ đến giới nho sĩ cầm quyền (do giới này chế tác hay sáng tác cho chính họ thưởng thức) thì mô phỏng cổ nhân Trung Hoa là điều dĩ nhiên.

            Sở dĩ như thế là vì dưới nhãn quan của giới nho sĩ học thức thời xưa, Trung Hoa là cái rốn của thế giới, là cái nôi của nền văn minh nhân loại (cái tên “Trung Hoa” và từ “thiên hạ” đã bao hàm ý ấy), nơi sản sinh ra những đức Thánh Khổng, thầy Tăng, thầy Mạnh, thầy Chu, thầy Trình cùng bách gia chư tử với cả nền đạo đức luân lí, văn chương toàn bích, mà còn sản sinh ra bậc tổ sư của bách công bách nghệ cần thiết cho đời sống con người nữa.

            Từ kho huyền thoại Toại Nhân tìm ra lửa, Phục Hi đặt ra bát quái, dạy dân đan lưới đánh cá, săn thú cùng nuôi gia súc làm thịt nấu ăn (24). Thần Nông dạy dân chế ra cầy cuốc để làm ruộng, họp chợ trao đổi sản vật, Hoàng Đế dạy dân dệt vải, làm nhà cửa và xe cộ (25) cho đến nhiều nghề sau này, ta cũng phải học của người Tàu (26).

            Trong số các nhân vật huyền thoại kể trên thì Thần Nông có vẻ quan trọng hơn cả vì được coi là tổ sư của nghề nông là nghề căn bản của cả Hán tộc lẫn Việt tộc. Ông cũng còn được coi là tổ sư của nghề làm thuốc chữa bệnh cho người ta bằng dược thảo và tương truyền có ngày ông nếm vị của hàng chục cây thuốc và có khi chết đi sống lại mấy lần vì nếm thuốc (! ?). Ngay cả truyền thuyết về phát nguyên của dân tộc ta cũng là dòng dõi Thần Nông! (27)

            Rồi xuất phát từ lòng tôn kính tiền nhân ─ tục lệ tổ chức ngày cúng giỗ các vị tổ sư ở các làng hay các phường có nghề là biểu hiện rõ nhất của lòng tôn kính ấy ─ và một phần cũng do mặc cảm tự ti của dân nhược tiểu bị trị (cái gì người Tàu cũng làm thầy, còn ta chỉ là học trò thôi) nên người làm nghệ thuật và công, mĩ nghệ tự ràng buộc trong phép tắc của người xưa để lại, ít dám thay đổi và nhất định là không dám làm cách mạng: đả phá, bỏ hết cái cũ lỗi thời, hoàn toàn đổi mới. Tính mô phỏng tồn cổ trên lại đưa tới một dây chuyền hậu quả là mấy tính cách sau đây:

2. Tính khuôn đúc tượng trưng

            Đó là dùng những kiểu mẫu có sẵn, đi theo lối mòn trong khi sáng tác, mà không dám đi chệch ra ngoài khuôn sáo, cho nên thiếu vắng những sáng tạo độc đáo. Hậu quả của lòng tôn sùng cổ nhân thái quá hoá thành nô lệ cổ nhân. Học giả Đào Duy Anh nhận xét như sau trong cuốn “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương” của ông như sau:

                        Mỗi người, mỗi cảnh, mỗi vật… xưa nay vốn biểu hiện một ý nhất định. Ở trường hợp nào nhà nghề muốn bày tỏ tình ý gì thì phải dùng mô típ gì, chứ không tự ý dùng bậy. (tr. 288).

            Chẳng hạn muốn nói về lòng ước mong hạnh phúc của con người thì phải là tam đa (phúc, lộc, thọ), ngũ phúc (phú, quí, thọ, khang, ninh); tả cảnh thiên nhiên thì ngoài sơn, thuỷ, phong, hoa, tuyết, nguyệt, còn thêm một số mẫu lặp đi lặp lại: mai, lan, cúc, trúc, tùng hạc hay tùng lộc, nho sóc, liên áp, trúc tước (28); tả cảnh sinh hoạt xã hội thì ngư, tiều, canh, mục hoặc ngư, tiều, sô, lạp (29) dùng cho cả hội hoạ, điêu khắc và các ngành liên hệ (tranh thêu, tranh sơn mài,  khảm xà cừ, tượng đất, tượng sứ, tượng hay tranh chạm đá, khắc gỗ, tượng đồng v.v…).

            Nhìn suốt từ gốc đến ngọn, ta thấy do tính hay mô phỏng cổ nhân Trung Hoa đưa đến nếp sáng tác hay chế tạo theo khuôn sáo còn có hệ quả là tính hướng ngoại: các đề tài sáng tác thường chỉ được lây trong sử sách Trung Hoa, còn sự tích nước mình thì bị bỏ rơi, coi thường. Thật thế, các nho sĩ Việt thuộc sử sách Trung Hoa làu làu nên đối với họ, một bức hoạ tả cảnh Lã Vọng câu cá, Tây Thi tiến Ngô, Trương Lương nhặt giày, Lã Bố hí Điêu Thuyền, Bát Tiên quá hải v.v… gợi hứng gợi cảm nhiều vì hợp với cái vốn học thức của họ.

3. Tính trang sức tiểu xảo

            Với những khuôn mẫu có sẵn, người nghệ sĩ chỉ còn việc trổ tài nghề của mình trong tác phẩm bằng những đường nét tinh vi, những chi tiết tỉ mỉ; tóm lại giá trị tác phẩm tập trung vào những cái khéo nhỏ được thực hiện một cách công phu.

            Lấy thí dụ ngành kiến trúc mà theo học giả Đào Duy Anh trong “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương” là nghệ thuật thứ nhất vì nó bao gồm nhiều ngành nghệ thuật khàc. Nó lại quan hệ với cả thổ địa, khí hậu, phong tục, tín ngưỡng, chế độ… và gồm cả nhà cửa, đền chùa, cung điện. Như vậy thuật kiến trúc tiêu biểu nhất cho tinh thần chung của một dân tộc. (Trong tác phẩm của ông, Đào Duy Anh đã dựa theo Henri Gourdon trong bài “Sur l’art annamite” đăng trong Revue Indochinoise).

            Kiến trúc nhà ở của người Việt ta thường có vài ba kiểu đáp ứng được điều kiện khí hậu thời tiết (nóng, hay có bão…) hợp với thổ nghi và điều kiện kinh tế: nhà của đại chúng bình dân làm bằng tre, nứa, lợp gianh (rơm, rạ), vách đắp bằng bùn trộn rơm là những sản vật sẵn có, nhà bằng gỗ hay xây gạch lợp ngói thì đã thuộc lớp người khá giả trở lên đến giàu có. Đến dinh thự, cung điện, đình chùa, lăng miếu cũng cùng kiểu, chỉ to rộng hơn. Còn muốn làm đẹp thì tài nghệ thầy thợ chỉ trổ ra ở trang sức lặt vặt nơi kèo, cột, xà như chạm trổ, sơn son thếp vàng, khảm xà cừ hoặc làm các loại cửa khác nhau (võng, bức bàn, chấn song), còn tường hoa, mái dốc, nóc nhà thì đắp nặn thành hổ phù, tứ linh (long, li hay lân, qui, phượng).

            Cũng vẫn theo tài liệu trên thì trong các ngành nghệ thuật của ta, điêu khắc là quan trọng, có lẽ nó xưa nhất và khéo nhất: chạm từ gỗ đến đá. Có sáng kiến biến hoá là chạm trang sức cho các đồ dùng sang trọng và đồ bày biện trong nhà: từ cái tráp, cái khay, cái tủ, cái hương án cho đến kèo cột, hoành biển trong nhà với đủ lối chạm (nổi, lọng, xoi, giũa) rất tinh vi. Ngoài ra còn phải kể nghề chạm đồ trang sức bằng ngà voi cũng rất khéo. Nhưng tuyệt xảo đến độ người ngoại quốc phải khâm phục phải là nghề khảm xà cừ.

                        Con ốc xà cừ trong tay người thợ khảm Việt Nam không phải chỉ dùng để        kéo những đường thuỷ ba và đường cành lá, quanh cái bàn hay cái ghế, hay là chạm những nét ngoằn ngoèo trên cái tráp hay cái lòng khay, mà còn để khảm hẳn một phong cảnh, những sắc lóng lánh của xà cừ phối hợp thành hẳn một bức sắc hoạ. (Đào Duy Anh trích dịch Henri Gourdon, cùng tài liệu dẫn trên).

            Đến đây thì tính cách tiểu xảo không còn là tuyệt đối, vì các nghệ sĩ Việt cũng có thể làm nên được những tác phẩm tuy không vĩ đại song cũng có thể xếp từ cỡ trung bình trở lên đến cỡ lớn, vì cái khéo tay, tính nhẫn nại cần cù và óc thông minh là những điều cần có ở người nghệ sĩ trong khi sáng tác thì không ai có thể phủ nhận được ở người Việt Nam.

            Chỉ tiếc rằng trong ngót hai mươi năm quân Minh chiếm đóng nước ta, biết bao nhiêu tác phẩm của đủ mọi ngành nghệ thuật của ta đã bị họ cướp mang về Tàu hoặc phá huỷ hết, thành thử kho tàng nghệ thuật của dân tộc ta bị thiệt hại lớn lao, không lấy đâu bù đắp được.

            Đến nay sử sách còn nhắc đến “An Nam đại tứ khí”: một là bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên của chùa Sùng Khánh Báo Thiên xây năm 1057 đời Lí Thánh Tông gồm mườì hai tầng cao mười trượng (độ 40m) (30); hai là pho tượng Phật bằng đồng ở chùa Quỳnh Lâm lớn đến độ đứng ở bến đò Triều mé nam huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Yên cách chùa đến mười dặm mà còn trong thấy cái nóc điện che sát đầu pho tượng (31); ba là đỉnh Phổ Minh ở tỉnh Nam Định; bốn là chuông Qui Điền ở tỉnh Bắc Ninh (32). Nay chỉ còn tượng thánh Trấn Võ bằng đồng ở Hà Nội, cao chín thước, chu vi tám thước bảy, nặng sáu nghìn sáu trăm cân (theo Đào Duy Anh, “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương”). và chín cái đỉnh bằng đồng đen đặt ở sân Thế Miếu hoàng thành Huế là những tác phẩm lớn, di sản của nghề đúc đồng ở nước ta xưa kia.

            Về các sáng chế, trong đời Lí có nhiều hội lễ long trọng (33) nên đã khuyến khích chế ra nhiều máy tự động. Theo học giả Hoàng Xuân Hãn thì bia chùa Sùng Thiện Diên Linh còn tả rõ những máy thực hiện trong đời vua Nhân Tông:

                        Đây là máy kim ngao. Ngày trung thu và ngày tết, vua ngự ở điện Linh Quang trên bờ sông Lô. Dưới sông hàng nghìn thuyền gióng trống đua bơi. Ở giữa sông một con rùa vàng nổi, lưng đội ba hòn núi. Rùa lội rù rờ trên mặt nước, lộ vân trên vỏ và rè bốn chân. Chuyển mắt nhìn lên bờ, miệng thì phun nước lên bến. Quay đầu hướng tới ngai vua mà cúi đầu chào.

                        Đây là máy đèn quay và người nộm đánh chuông. Ấy là lúc vua kén hoàng hậu, Nhân Tông đặt hội đèn Quảng Chiếu: dựng đài Quảng Chiếu ngảnh ra cửa Đoan môn. Giữa nêu một cột, ngoài đặt bảy từng. Rồng cuốn mà đỡ toà Kim Liên, rèm lồng mà che đèn sáng rực. Có máy giấu kín dưới đất, làm đài quay như bánh xe. Lại có hai hoa lâu, treo quả chuông đồng. Tạc chú tiểu mạc áo cà sa, vặn máy kín thì giơ dùi đánh. Nghe tiếng sáo liền quay mặt lại. Thấy bóng vua lại biết cúi đầu.

             (Hoàng Xuân Hãn, “Lý Thường Kiệt”, ch, XIV: Đạo Phật đời Lý, tiết “Đạo Phật với văn hoá”).

            Ở một đoạn khác, Hoàng quân nhận xét thêm:

                        Tuy những cung điện chùa miếu cũ nay không còn, nhưng ở một vài nơi có vài toà tháp, hay một tấm bia, hay vài bệ đá, hay ít nhiều tảng đá chạm cũ. Những di vật ấy cũng đủ tỏ cho thấy rằng nghề kiến trúc cùng nghề điêu khắc đời Lý rất tinh vi và hùng vĩ, các triều đại sau không sánh kịp.

            Chuyển sang ngành kiến trúc quân sự thì thành Cổ Loa xây dựng đời An Dương vương, thành Hoa Lư xây đời Đinh Tiên hoàng, thành Thăng Long đời Lí Thái Tổ, thành Tây Đô đời Hồ Quí Li đều là những kiến trúc lớn lao trong lịch sử (34).

4. Tinh thần tôn trọng luân lí

            Đương nhiên lòng sùng kính cổ nhân cũng đưa đến tinh thần tôn trọng luân lí của cổ nhân, chủ yếu là luân lí nho giáo. Tính cách này thấy rõ trong văn học, nói rõ hơn là trong văn học chữ hán và văn chương chữ nôm mà tác giả là giới nho sĩ, và trong nghệ thuật sân khấu (tuồng, chèo). Các đề tài đều đề cao trung hiếu tiết nghĩa; kết cấu, diễn tiến tình tiết trong tác phẩm là sự tranh đấu giữa thiện vá ác, lúc đầu thiện bị ác lấn át, nhưng kết cục bao giờ thiện cũng toàn thắng; người thiện lúc đầu bị oan khuất khổ sở, thì sau được minh oan, được hưởng vinh hoa phú quí; còn kẻ ác lúc đầu dù có thắng thế thì sau cùng cũng bị trừng phạt, không bởi người thì cũng bởi Trời. Mục đích đề cao luân lí rất rõ ràng:

Trai thì trung hiếu làm đầu,
Gái thì tiết hạnh làm câu trau mình.
(Lục Vân Tiên)

            Thiện ác được phân biệt rất minh bạch. Trên sân khấu nhân vật thiện luôn luôn có cử chỉ, ngôn ngữ, hành động (35) biểu lộ những đức tính khiến người xem cảm phục. Ta thương xót khi nhân vật bị hàm oan, gặp hoạn nạn; ta hân hoan khi nhân vật thắng lợi, thành công, được sung sướng. Còn nhân vật ác, trái lại, luôn luôn tỏ ra đáng căm ghét, người xem bực bội, phẫn nộ khi nhân vật đắc thế vênh váo và mong mau đến lúc nó phải đền tội ác để được hể hả.

            Loại tác phẩm với lối kết cục có hậu như vậy dĩ nhiên đáp ứng được lòng mong mỏi cố hữu của con người là lẽ công bằng được thực thi ở ngay cuộc đời này, nhưng có phản ảnh trung thực cuộc đời hay không lại là chuyện khác. Khuynh hướng lí tưởng, ý thức trách nhiệm và niềm tin siêu hình đã khiến các tác giả luôn luôn sáng tác theo phương châm “dĩ văn tải đạo” để chứng minh rằng “thiện ác đáo đầu chung hữu báo” và “tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác”.

            Các tác phẩm hội hoạ, điêu khắc v.v… khi lấy sự tích xưa làm đề tài cũng thấm nhuần tư tưởng đạo lí và nhiều ít cũng ngụ ý khuyên răn người đời theo thiện bỏ ác, làm lành tránh dữ. 

5. Ca trù

            Ca trù là ngành nghệ thuật kết hợp ca nhạc với thơ văn. Có thể nói ở loại hình nghệ thuật này, văn nghệ sĩ Việt Nam thời xưa tỏ ra rất giàu óc tổng hợp và sáng tạo.

a) Tính tổng hợp dung hoà

            Hình thức phổ biến nhất và cũng thi vị nhất của loại hình nghệ thuật này là hát ả đào hay hát cô đầu trong đó hai bên: một bên là nghệ sĩ trình diễn gồm đào (hát) và kép (đánh đàn) với bên kia là khách thưởng thức giọng hát tiếng đàn là quan viên không có ranh giới phân biệt rõ ràng.

            Diễn tiến đúng nhất là như thế này: một nhà thơ sáng tác được một bài hát nói hay, lấy làm đắc ý, muốn được một giọng tốt ngâm hay hát lên để thưởng thức. Ông bèn tới giáo phường (36) dành một chầu hát trong đó tác phẩm của ông sẽ là một trong số những bài được hát lên: lời thơ sẽ là lời ca được nghệ sĩ trình diễn lồng vào trong khung nhạc (các thể điệu) có sẵn. Tác giả tất nhiên phải mời năm ba văn hữu tới cùng thưởng thức: họ trở thành quan viên thay nhau cầm chầu (đánh trống chầu) điểm xuyết cho giọng hát hay của đào, tiếng đàn ngọt của kép.

            Đây có thể coi như một loại “thi nhạc giao duyên” trong đó hai phía đào kép và quan viên cùng là nghệ sĩ tích cực tham gia vào quá trình sáng tác, trình diễn và cùng là người thưởng thức nghệ thuật. Và trong bầu không khí hào hứng có đủ cả cầm, ca, thi, tửu cùng thanh sắc của giai nhân, người ta có thể sáng tác tại chỗ để mời rượu nhau, để hát tặng nhau cũng tại chỗ luôn (37). Và cũng rất có thể… những mối tình nẩy nở giữa một bên là tài tử một bên là giai nhân. Đẹp biết bao tình yêu nở hoa trong khu vườn nghệ thuật! (38)

            Trong cuốn “Việt Nam Ca Trù Biên Khảo”, hai soạn giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề nói về quá trình tiến hoá của loại hình nghệ thuật này đi từ cung vua (ban nữ nhạc múa hát trong các dịp khánh tiết, yến tiệc, gọi là hát cửa quyền) ra đến đình thờ thần (múa hát để tế thần, gọi là hát nhà trò) rồi đến dinh các quan (hát nhà tơ) và sau chót phổ biến trong dân gian (hát ở tư gia vào những dịp vui mừng như khao vọng…). Trong quá trình tiến hoá ấy đã có sự biến đổi để thích hợp với hoàn cảnh: bài ca điệu nhạc từ chỗ mượn của Trung Hoa hay đậm đà ảnh hưởng Trung Hoa (Ngọc lâu xuân, Đạp thanh du, Mộng du tiên, Trang Chu mộng điệp v.v…) tiến đến chỗ Việt hoá với các thể điệu mới thích hợp với tâm tình dân tộc. Kết quả rực rỡ nhất của sự tiến hoá này là văn nghệ Việt Nam có được thể hát nói. Sau đây là ý kiến của hai ông Đỗ:

                        “… ca trù đã hiến cho chúng ta một thể thơ đặc biệt Việt Nam là hát nói,             giữa lúc văn chương Việt Nam bị các thể thơ của Tàu xâm nhập bốn bề. Tự do nhưng không bình dân, đài các nhưng không bị ràng buộc bởi những định luật quá ư khe khắt, hát nói là một thể văn tổng hợp. Trong hát nói từ và thơ luật của Tàu đứng cạnh lục bát và song thất lục bát của ta (…) hát nói cũng chính là thể thơ tàu pha trộn với thể thơ việt. Văn thể hát nói không những biểu hiện cái tinh thần độc lập mà còn biểu hiện cái khả năng đồng hoá của dân tộc ta. Chính nhờ cái tinh thần độc lập và cái khả năng đồng hoá ấy mà nền văn hoá của dân tộc chúng ta vẫn tồn tại và phát triển sau bao lần xâm lược của ngoại bang. Hơn nữa, hát nói rất phù hợp với nội dung của hai thái cực: một bên là những nội dung cô đọng dành cho thơ luật, một bên là những nội dung khai triển quá như truyện và ngâm dành cho lục bát và song thất lục bát.” (tr. 139-140).

            Nhân đây chúng tội cũng muốn nói thêm về tinh thần cởi mở và dung hoà tổng hợp của dân tộc ta trong lãnh vực ca nhạc. Không những ta chấp nhận ảnh hưởng của kẻ chiến thắng mà còn tiếp thu ảnh hưởng của kẻ chiến bại: đó là ảnh hưởng của âm nhạc Chiêm Thành. Ngay từ đời Lí Thái Tông, năm Thiên Cảm Thánh Võ đầu tiên (1044) vua đánh chiếm kinh đô Phật Thệ của Chiêm Thành, bắt về Thăng Long hơn một trăm cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiên rất khéo. Năm Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai (1203), mùa thu tháng tám, vua Lí Cao Tông chế ra khúc nhạc theo điệu Chiêm Thành sai nhạc công gẩy đàn và cung nữ hát theo. (Theo “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục”, trích theo sách dẫn trên).

            Đến đời Lê trung hưng, nhất là từ niên hiệu Quang Hưng (1578-1599) đời Lê Thế Tông trở đi, ở Bắc, triều đình không chú trọng đến âm nhạc dùng nơi triều miếu, nên dòng âm nhạc này (Đào Duy Anh gọi là quan nhạc) suy dần. Trong khi đó trong Nam, chúa Nguyễn và giới cầm quyền lại thích nhạc, và có thêm ảnh hưởng của nhạc Chiêm Thành nên âm nhạc thịnh và ngày một thêm phong phú. Kết quả là ca nhạc Việt thời ấy có thêm những khúc điệu gọi là cung Nam như Nam Ai, Nam Thương, Nam Bình, Nam Xuân v.v… thiên về điệu buồn, bên cạnh những khúc gọi là cung Bắc (chịu ảnh hưởng Trung Hoa) như Cổ Bàn, Kim Tiền, Lưu Thuỷ, Hành Vân, Tứ Đại Cảnh v.v… có giọng vui mạnh.

            Song song với dòng ca nhạc có thể gọi là chuyên nghiệp nói trên có trình độ nghệ thuật cao, nghệ sĩ trình diễn cần có năng khiếu và bỏ nhiều công phu học tập (39), người bình dân trong công việc lao động và sinh hoạt hàng ngày vẫn có những điệu hát câu hò của họ như hò bơi thuyền, đẩy xe, kéo gỗ, giã gạo, hát ru em, hát đò đưa v.v… Dòng ca nhạc bình dân kể trên tiến cao lên một chút về trình độ nghệ thuật đưa đến các lối hát đúm, hát bội, tức hát đông người trong những dịp vui chơi hội hè ở nông thôn: hát đối đáp để đố nhau, để thử tài nhau, để giật giải, nhưng mục đích quan trọng hơn cả là để tỏ tình trai gái, tức là hát giao duyên. Đó là các lối hát đúm, hát quan họ, hát trống quân ở trung châu Bắc bộ (tiêu biểu là vùng Bắc Ninh), hát giặm Nghệ Tĩnh, hát bài chòi ở Bình Định, hò đối ở miền Nam (40). Có thể coi đây là dòng ca nhạc tài tử bình dân; cái gạch nối giữa dòng ca nhạc chuyên nghiệp với dòng ca nhạc bình dân thuần tuý.

            Cùng với các dòng ca nhạc khác như hát rong, hát dạo (như hát xẩm thường do người khiếm thị hát để xin tiền độ nhật của khách qua đường), hát thờ là loại ca nhạc có liên quan đến tín ngưỡng, như hát chầu văn cho các bà các cô lên đồng (cũng gọi là hầu bóng), các dòng ca nhạc kể trên đã làm cho nền ca nhạc Việt Nam trước khi tiếp xúc với âm nhạc Tây phương cũng khá phong phú về thể loại cho dẫu trình độ nghệ thuật nói chung chưa cao lắm (41).

b) Tính sáng tạo

            Sáng tạo nơi con người không có nghĩa là từ không có gì cả mà làm nên có, mà là từ những vật liệu có sẵn tạo ra vật thể mới với công dụng mới. Ít ra thì cũng do nhu cầu mà nẩy ra sáng kiến. Nếu thế thì trong lãnh vực ca nhạc, quảng đại quần chúng Việt rất giàu óc sáng tạo cũng như rất giàu tình cảm nghệ thuật: từ những công việc làm nặng nhọc hàng ngày, họ đã hò, đã ngâm, đã ru, đã hát để tăng sức lao động cho dẻo dai, để giải trí, nghỉ ngơi lấy lại sức rồi làm việc trở lại (42).

            Hai thể thơ lục bát (chính thức và biến thể) và song thất lục bát (chính thức và biến thể) là hai thể chính dùng cho lời ca của ca nhạc xưa chứng tỏ đại chúng Việt rất yêu văn nghệ và chính họ đã là lớp tác giả khai sơn phá thạch cho văn chương và ca nhạc Việt Nam. Sau đó tầng lớp sĩ phu do được tiếp xúc với văn chương nghệ thuật nước ngoài mới lấy chất liệu trong nước pha chế với chất liệu ngoại nhập mà sáng tác, nâng cao, làm giàu thêm cho văn chương nghệ thuật nước nhà.

            Ngay từ buổi đầu của quốc gia độc lập, đã có nhiều vị vua, quan thừa kế truyền thống yêu văn nghệ của dân tộc, đóng góp không ít vào việc biên chế, sáng tác ca nhạc được sử sách ghi lại. Đời Lí có các vua Thánh Tông, Nhân Tông và Cao Tông đều tinh thông âm luật, sáng tác nhạc khúc cho nhạc công và ca nữ đàn hát. Đời Trần có Trần Nhật Duật, vị hoàng thân kiêm đại tướng chiến thắng giặc Nguyên, sửa lại tiết tấu âm nhạc và những điệu ca vũ, trong nhà ông lúc nào cũng có tiếng ca hát (43). Đời Hồ, năm Khai Đại (1403-1407), Hồ Hán Thương phiên chế ca nhạc, tuyển con các quan văn võ vào tập múa hát (44).

            Đời Hậu Lê năm Thiệu Bình thứ ba (1436) vua Thái Tông sai Lương Đăng định nhã nhạc mới phỏng theo nhạc khí nhà Minh đặt ra khúc nhạc tấu trên điện và khúc nhạc tấu dưới thềm. Chính nhà vua cũng đặt ra khúc “Chư hầu lai triều” để múa hát trong dịp lễ tiếp các nước phiên phục đến triều cống và đặt ra khúc “Bình Ngô phá trận” để kỉ niệm công đức của vua cha Thái Tổ (45).

            Đời vua Lê Thánh Tông, sau khi đặt ra hai bộ Đồng Văn và Nhã Nhạc để dạy ca vũ nhạc, năm Hồng Đức thứ 26 (1495), nhà vua thấy trong nước được thái bình thịnh trị bèn đặt ra chín khúc để hoà theo nhạc mà hát gọi là “Quỳnh Uyển Cửu Ca” (chín bài ca vườn Quỳnh) gồm có: Phong niên (năm được mùa), Quân đạo (đạo làm vua), Thần tiết (khí tiết kẻ làm tôi), Minh lương (vua sáng tôi giỏi), Anh hiền ( người hiền tài), Kì khí (khí lạ), Thư thảo (phép viết), Văn nhân và Mai hoa (46).

            Sau hết cũng trong đời Hậu Lê có cặp vợ chồng nghệ sĩ tài hoa là Đinh Lễ – Bạch Hoa. Chồng là tay danh cầm, tương truyền được tiên cho mẫu chế ra cây đàn đáy (chính tên là “vô để cầm”: đàn không đáy) chữa được tâm bệnh và thân bệnh cùng cảm hoá được vạn vật. Vợ là danh ca thanh sắc vẹn toàn. Nghề hát ả đào vốn có từ đời Lí, nay được nâng cao và phổ biến rộng rãi, nên cặp nghệ sĩ này được được đời sau tôn làm tổ sư của nghề cầm ca này (47).

            Nhìn chung hình thái sinh hoạt văn hoá gồm các trò vui chơi tiêu khiển và các ngành nghệ thuật của dân tộc Việt phong phú trong tiểu tiết, nhưng ít độc sáng cá nhân, (không có hay không được bảo tồn cẩn thận để lưu truyền hậu thế). Cũng không thấy có những tác phẩm lớn vượt khỏi tầm cỡ quốc gia đến tầm cỡ quốc tế; đó cũng là do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội: dân nước đã nghèo lại phải lo chống ngoại xâm triền miên.

            Thời kì mất độc lập, bị ngoại nhân cai trị và tìm cách đồng hoá đã kéo dài; đến khi giành lại được độc lập thì giới vua quan cầm quyền theo Nho học, đa số lại sùng thượng giá trị ngoại lai, ít khuyến khích phát triển các ngành nghệ thuật, mĩ nghệ, công nghệ, xuất phát từ quan niệm, thái độ trọng đạo lí văn chương mà khinh rẻ bách nghệ. Sự xếp hạng “sĩ, nông, công, thương” làm cho kinh tế xã hội không phát triển được vì công nghệ và thương mại bị khinh thường.

            Không những thế, nhiều khi triều đình lại thi hành chính sách độc đoán, áp chế đối với bách nghệ; sản phẩm chế khéo quá phải dâng tiến vua quan, nghệ sĩ nghệ nhân có tài thường hay luỵ đến thân: bị bắt buộc phải dời xa gia đình vào kinh đô đem tài nghệ phục vụ vua quan suốt đời mà không được đãi ngộ xứng đáng, có khi còn bị đem tiến cống cho thiên triều Trung quốc nữa. Thành thử người có tài phải giấu tài, thợ lành nghề phải bỏ nghề, hoặc làm ra sản phẩm tốt đẹp mà phải nói dối là hàng của Tàu v.v… Lại còn những thành kiến vô lí bất công như “xướng ca vô loại” chẳng hạn. Hậu quả là các ngành nghệ thuật, mĩ nghệ, công nghệ hoặc bị mai một, hoặc sa sút; chưa kể tinh thàn hẹp hòi giấu nghề để giữ bí truyền của người có tài, người thiện nghệ.

            Song dù sao các hình thái sinh hoạt văn hoá ấy cũng cho ta thấy một khía cạnh của cuộc tranh đấu trường kì hai mặt của dân tộc ta: một mặt chống lại cuộc thôn tính đồng hoá của văn hoá Trung Hoa để bảo tồn văn hoá riêng của mình khỏi bị tiêu diệt; mặt kia tiếp thu có lựa lọc cái hay cái đẹp của văn hoá ngoại lai rồi đồng hoá chúng. Và đây mới chính là vấn đề: cần phải có tinh thần dân tộc mạnh mẽ để đời sống tinh thần ngày càng được nâng cao và phong phú thêm mà không bị mất gốc. Cộng thêm vào đó, dân ta còn có cái khả năng rất cần thiết đối với hoàn cảnh địa lí, lịch sử của mình: đó là cái khả năng dung hoà, tổng hợp và cả óc sáng tạo nữa.

Chú thích cuối chương thứ bảy

(1)  Bơi trải:  trải: thuyền đua. Bơi trải: đua thuyền. Phải là các làng ở ven sông mới tổ chức được cuộc vui này. Trong bài thơ “Ngày hội tây”, Nguyễn Khuyến vẫn còn tả những cảnh như “Bà quan tênh hếch xem bơi trải, Thằng bé lom khom nghé hát chèo, Cậy sức cây đu nhiều chị bám, Tham tiền cột mỡ lắm anh leo”.

(2)  Làng anh em, kết nghĩa có thể là di tích của những đơn vị cư trú thời xa xưa vì nhu cầu an ninh, phải dựa vào nhau để tăng sức chiến đấu chống lại kẻ thù từ xa tới. Cũng có làng thờ các vị thần lúc sống có liên hệ với nhau như hai làng Đông Bộ, Đông Cao (phủ Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), làng thờ An Dương vương, làng thờ Mị Châu gọi là đền Cha và đền Con. Hàng năm ngày 18 tháng 8 âl. làng Đông Cao rước Mị Châu đến tế ở đền An Dương vương làng Đông Bộ, ý là con đến thăm và tạ tội với cha.

(3)  Khác với xã hội công nghiệp sau này, khán giả chỉ bỏ tiền ra mua vé để thưởng thức cuộc vui một cách thụ động do các nhóm tài tử diễn viên chuyên nghiệp tổ chức trình diễn.

(4)  Trong dịp hội hè đình đám, nhiều nơi tổ chức các cuộc thi dành cho phụ nữ như thổi cơm, đồ xôi, làm bánh v.v…

(5)  Nhảy bị: người đứng vào một cái bị, buộc thắt miệng bị lại rồi nhảy đi; thường người nhảy hay bị ngả lăn queo ra khiến người xem cười ầm lên. Ai đến đích trước mà không ngã thì được giải. – Leo cột mỡ: dựng cột gỗ cao cả chục thước, dưới to trên nhỏ, bào nhẵn lại bôi mỡ cho trơn, trên đầu cột treo giải. Người cởi trần leo lên có khi gần tới nơi lại tụt xuống; người xem reo hò cười vang. Ai lên tới đầu cột lấy giải đem xuống thi đưọc giải. – Bịt mắt bắt dê: làm chuồng rộng, trong thả dê, đào hố rải rác, lại bỏ ngồn ngang thân cây chuối. Người bịt kín mắt vào chuồng nghe tiếng dê kêu thì đuổi theo mà bắt, thường sa hố hay vấp thân cây chuối té lăn cù, thiên hạ cười ầm lên. Ai bắt được dê thì cho. (Theo “Việt Nam Phong Tục” của Phan Kế Bính).

(6)  Trong cuộc thi “bắt chạch trong chum” tại làng Dựng, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, những cặp trai gái dự thi ăn mặc đẹp đẽ, trước hết vào lễ thánh, rồi chào các quan viên, sau đó họ vừa đi vừa múa hát, mặt đối mặt tiến về phía cái chum dành cho họ, trong đó đổ độ 1/3 nước và thả một con chạch. Đến nơi mỗi người phải đưa một tay ra ôm nhau, còn tay kia thò vào chum bắt chạch. Điều lệ bắt buộc gái phải ôm ngang lưng trai, còn trai phải ôm ngang ngực gái, mắt nhìn nhau và cùng bắt chạch. Trong khi bắt, hai người không được nhìn vào chum, tay chàng trai phải luôn luôn sờ ngực cô gái, nếu mải bắt chạch mà quên là bị mất điểm. Chạch trơn luôn luôn chạy thoát, đôi bên chỉ bắt được tay nhau. Đứng ngoài dân làng hò reo cổ vũ, trêu đùa các đôi nào mải bắt trạch mà quên bóp ngực. Tiếng người cười nói, tiếng chiêng trống náo động. Khi bắt được chạch, cả hai cùng giơ cao lên để mọi người xem. Tiếng hò reo vang dậy. Đôi trai gái tiến về phía thềm lĩnh thưởng. (Dựa theo “Văn Hoá Việt Nam Tổng Hợp” của nhiều soạn giả, xb tại Hà Nội, 1989, người thuật: Lê Hồng Lý).

(7) Đến thế kỉ XV vẫn còn tục lệ hát đối đáp nam nữ kết tay giao chân để cài hoa kết hoa mà sách “Đại Việt Sử Kí Toàn Thư” gọi là hát lí liên. Ở nhiều tỉnh hát đối đáp nam nữ: hát đúm, hát xoan, hát quan họ v.v… nam nữ cũng giữ tục cầm tay.

(8)  Cối giã chầy tay với nhịp thưa nhịp mau, tiếng trầm tiếng thanh (thoát ra từ lòng cối hay thành cối) ở nhiều vùng Mường được coi, và thực tế là một nhạc cụ. Chầy cối theo quan niệm dân gian là hình giống của nam và nữ. Mãi về sau ở nhiều miền Việt Nam, việc nam nữ vừa giã cối, vừa hát đối đáp vẫn còn rất phổ biến. Giã cối ở một số nơi còn có nghĩa tượng trưng cho hành động tính giao. –  (7), (8) (Trích trong “Thời Đại Hùng Vương”, phần “Đời sống văn hoá” của Lê Văn Lan, nhà xb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1973).

(9)  Quan điểm của Phan Kế Bính trong “Việt Nam Phong Tục”. Ở đây ta chỉ xét tới một khía cạnh nhỏ trong nền văn hoá của dân ta thời xa xưa. Khi xã hội biến đổi thì những phong tục như vậy dần dần mất đi.

(10) Nói đến chửi thì tiêu biểu nhất phải là lời các bà bị mất gà rủa kẻ ăn trộm gà của bà. Có bà đứng chửi suông (không đối tượng) cả buổi đến độ thành “bài văn chửi” có vần vè, hay ho đến kẻ bàng quan nghe được có thể cười vỡ bụng, còn thủ phạm mà nghe được thì thâm gan tím ruột đến … mọc lông gà trong bụng mà chết! Cho nên nẩy ra câu chuyện hay mất trộm gà của một bà hiền đức, gà mất thì thôi, chẳng chửi bới gì. Được ít lâu tên ăn trộm gà tự nhiên lên cơn đau bụng lăn lộn giường trên giường dưới, thuốc gì cũng vô hiệu; vợ hắn phải đi lễ đền miếu. Đến đêm tên trộm được thần báo mộng bào phải đến thú thực với bà mất gà, xin bà chửi cho mới khỏi bệnh. Vợ tên trộm tới xin với bà kia như vậy. Thoạt đầu bà ta từ chối, sau vì vợ tên trộm khóc lóc van xin cứu mạng chồng, bà đành phải xắn váy quai cồng, xỉa tay năm ngón chửi cho một bài. Bà chửi xong, tên trộm lên cơn đau bụng dữ dội rồi thổ ra… một đống lông gà; thế là khỏi bệnh!

(11) Tính ưa hiện thực của người bình dân chống đối lại tính cảnh vẻ hay nói chữ của nhà nho thể hiện trong câu chuyện sau đây:

               Một ông phú hộ có một cô con gái đến tuổi lấy chồng, ngỏ ý kén rể. Có hai ứng viên cùng đến: một người là anh nông dân chất phác chỉ biết nói nôm na, người kia là một anh học trò hay nói chữ. Ông phú hộ chưa biết chọn ai, bèn dẫn cả hai đi dạo một vòng để thử tài. Ra đến bờ ao, chợt ông trỏ đàn vịt đang nhẹ nhàng lướt trên mặt ao vào hỏi: – “Tại sao vịt nổi được trên mặt nước?”  Anh học trò muốn tỏ ra mình hay chữ, nhanh nhảu đáp trước: – “Thưa, vì nó đa mao thiểu nhục ạ.” (nhiều lông ít thịt). Anh nông dân không biết cắt nghĩa ra sao, liền cãi lại: – “Không phải ạ, thế tại sao con trâu có đa mao thiểu nhục đâu mà xuống nước nó vẫn không chìm?”. Đi một quãng. gặp đàn ngỗng lớn tiếng kêu, ông phú hộ lại hỏi:

– “Tại sao ngỗng kêu được to thế?”. Anh học trò: -“Dạ, thưa vì nó tràng cảnh đại thanh ạ.” (cổ dài nên tiếng to). Anh nông dân lại cãi: – “Thế con ễnh ương cổ nó có dài đâu mà cũng kêu to được?”. Khi tới một ngọn đồi, chớt thấy một tảng đá lớn nẻ ra làm hai, ông phú hộ hỏi: – “Tại sao hòn đá lớn cứng thế mà vỡ làm hai được?”. Anh học trò: – “Dạ, thưa phi nhân đả thì lôi đả ạ.” (không người đập thì sét đánh). Lần này thì anh nông dân không chịu nổi cái lối giải thích bằng chữ nghĩa rởm ấy nữa, liền nổi quạu hỏi thẳng vào mặt anh học trò: – “Thế cái l… mẹ anh thì nhân đả hay lôi đả mà nó cũng nứt ra làm hai vậy?!”

               Câu chuyện chấm dứt ở đây, tác giả không cho biết rốt cuộc ông phú hộ gả cô con gái cho ai; nhưng tác giả câu chuyện này hẳn cũng phải là một nhà nho đầy óc châm biếm, và cũng như nữ sĩ họ Hồ, đứng về phía người bình dân, chống lại phe nhà nho hơi vọng ngoại, thích chữ nghĩa nho nhe.

(12) Cay: cái đinh nhỏ xuyên qua 17, 18 cái nan quạt làm thành cái cán quạt.

(13) Cậy: nhựa cây cậy dùng để dán quạt.

(14) Con vích, thuộc loại rùa, sống dưới biển, lên bãi cát đẻ trứng, người bắt chỉ việc lật ngửa nó lên là nó hết chạy được. Phương ngôn: dại như vích.

(15) Chỗ ta ngồi hôm nay ở đây (thì) người xưa đã từng ngồi trước ta rồi. Ý nói chẳng thể có gì mới lạ cả, ta chỉ việc bắt chước người xưa mà thôi.

(16) Tô Đông Pha, một thi hào đời Tống bên Trung Hoa, cùng bạn thả thuyền uống rượu ngắm trăng trên sông Xích Bích và làm bài “Tiền Xích Bích phú” nổi tiếng.

(17), (18): Tao: thiên “Li tao” trong thơ của Khuất Nguyên, người nước Sở thời Xuân Thu. Phong: thiên “Quốc phong”, Nhã: các thiên “Đại nhã”, “Tiểu nhã” trong Kinh Thi; tất cả chỉ thơ. Tao nhân: người làm thơ; mặc: mực, mặc khách: người làm thơ văn. Trong xã hội trọng văn thì thơ văn và văn gia thi sĩ được quí trọng. Xã hội trọng văn với xã hội trọng nho xưa kia là một vì học nho học là học đạo đức lễ nghĩa qua văn học.

(19) Múa vũ trang cũng là một hình thức múa phổ biến ở thời Hùng vương. Người múa một tay cầm chúc ngọn giáo, một tay đập phách; hoặc một tay cầm rìu chiến, một tay cầm khiên mộc, thể hiện tinh thần thượng võ.

(20) Bơi thuyền và những hoạt động trên sông nước là tục lệ ngày hội vào loại quan trọng và phổ biến nhất ở thời Hùng vương. Nhằm mục đích cầu nước và rèn luyện kỹ thuật bơi thuyền, tinh thần thượng võ, có hình thức đua thuyền. Những con thuyền độc mộc mũi cong đuôi én, mình thon dài, trên có nhiều người ngồi hoặc đứng, hoá trang thành chim hoặc không, cầm vũ khí hoặc giầm bơi (…) Một hình thức hội nước khác là hình thức hiến tế cầu cúng thuỷ thần. Trên những chiếc thuyến lớn có sàn cao, chở trống đồng (gọi mưa), bình đồng (đựng nước thiêng) với người cầm cung thần và cả chó nữa, canh giữ, có cảnh cầm giáo đâm người bị trói, đánh trống và người chèo lái hoá trang và vũ trang (…) Cho mãi về sau, những hình thức hội nước này vẫn được bảo lưu phổ biến ở nhiều làng Việt Nam.

(19), (20) trích trong “Thời Đại Hùng Vương”, phần thứ tư: “Đời sống văn hoá” do Lê văn Lan viết.

(21) Tửu: rượu chè, sắc: trai gái (bất chính), yên: nghĩa đen là khói, đây chỉ thuốc sái, đổ: cờ bạc là bốn tệ nạn làm cá nhân sa đoạ, hạnh phúc gia đình tan vỡ và xã hội suy đồi. Chúng tôi chưa tìm được ngữ nguyên của “tứ đổ tường”; cầu mong lời chỉ giáo của các học giả cao minh.

(22) Nữ sắc thì thời nào cũng có thể làm “đổ nước nghiêng thành”, nhưng nạn cô đầu con hát nói trên hoành hành phổ biến trong dân gian vào quãng thời gian như vừa kể.

(23) Thí dụ tinh thần luân lí độc tôn áp chế tình cảm khiến bùng nổ sự chống đối như biểu hiện trong phần văn chương bình dân chống lễ giáo, đòi hỏi tự do, nhất là trong vấn đề tình yêu nam nữ và hôn nhân.

(24) Vì vậy Phục Hi cũng gọi là Bào Hi (bào: một từ là nhà bếp, một từ là đốt, nướng).

(25) Vì vậy Hoàng Đế cũng gọi là Hiên Viên thị (hiên là cái xe).

(26) Theo Đào Duy Anh trong “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương” thì “những công nghệ của người Việt Nam phần nhiều là học của người Tàu, đại khái theo ba cách là: các quan, dân tàu ở nước ta trong thời Bắc thuộc đem công nghệ của tổ quốc mà truyền cho người bản xứ, các sứ giả nước ta về triều độc lập đi sứ ở Tàu rồi học được nghề đem về truyền lại cho dân gian, các triều đại xưa thường kén lấy những người thiếu niên tuấn tú ở các làng có nghề nghiệp cạo đầu cải trang giả người Tàu để đi học các nghề khéo ở Trung quốc như nghề đúc đồ sứ ở Hổ Giao, nghề dệt vóc ở Kim Lăng. Theo sách “Bách Nghệ Tổ Sư” và những điều ông Dumoutier thuật lại trong sách “Essai sur le Tonkinois” thì nghề làm đồ gốm do một người Tàu ngụ ở làng Đầu Khê dạy cho người mình từ đời Triệu Võ đế, nghề làm chiếu là ở Trung quốc truyền sang vào khoảng năm 1000, nghề sơn do người mình học ở Tàu vào khoảng năm 1415, nghề khắc bản in do vị sứ giả học được ở Trung quốc về truyền cho làng Trúc Lâm vào năm 1528, nghề dệt lượt thì do một vị sứ giả ta ở Tàu đem về dạy cho dân làng Phòng Thôn vào khoảng năm 1600.” (tr. 59-60).

               Quan điểm của các nhà khảo cứu ngày nay cho rằng vì đa số các tộc Việt trong đại tộc Bách Việt mà địa bàn sinh hoạt là ở phía nam núi Ngũ Lĩnh, lưu vực sông Dương Tử đã bị hán hoá, nên có nhiều nghề vốn là của các sắc dân Việt kể trên, sau này bị người Tàu nhận vơ là của mình. Điển hình nhất là nghề trồng lúa nước ngày nay khảo cổ học với những di chỉ được khoa học xác định niên đại là các dân tộc ở vùng Đông Nam Á trong đó có tộc Việt đã biết trồng thứ lúa này trước. Người Hán chỉ trồng lúa mì ở các vùng đất cao lưu vực Hoàng hà là địa bàn sinh hoạt gốc của họ. Thế mà họ tôn ông Thần Nông nào đó làm tổ sư nghề nông làm như ông ấy dạy dân Hán làm ruộng, rồi các dân tộc khác mới bắt chước làm theo. Thế thì trước khi người Hán chinh phục miền Nam, các dân tộc ở đây sống bằng gì?

               Lại nữa, các triều đại độc lập của ta sau này mỗi lần cống nạp thiên triều Trung quốc, ngoài vàng, lụa, châu báu, nhiều khi còn phải “cống” thầy thuốc giỏi, thợ giỏi các nghề. Vậy nếu người Tàu đã là thầy dạy các nghề thì còn đòi cống những người này làm gì?

(27) Sách “Việt Nam Sử Lược”, ngay chương I, soạn giả Trần Trọng Kim đã viết những dòng đầu tiên về họ Hồng Bàng: “Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau, đẻ ra một người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương vương, quốc hiệu là Xích Quỉ. Bờ cõi nước Xích Quỉ bây giờ phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam hải. Kinh Dương vương làm vua nước Xích Quỉ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 tr. tl.) và lấy con gái Động Đình quân là Long nữ, đẻ ra Sùng Lãm nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long quân.”

               Như vậy Việt tộc với Hán tộc là anh em cùng cha khác mẹ, có đồng hoá với nhau cũng không sao! Ngày nay khoa khảo cổ học với những di chỉ được khoa học xác nhận cho thấy các tộc Việt với địa bàn sinh hoạt như trên (lưu vực sông Dương Tử) có nguồn gốc khác hẳn với Hán tộc từ phía bắc (lưu vực sông Hoàng hà) tràn xuống phía Nam chinh phục và đồng hoá hầu hết các bộ lạc Việt. Sử sách được ghi chép dựa theo truyền thuyết sau này đều do các nhà nho Việt viết bằng chữ hán, tức là sau thời Bắc thuộc, nên đều chịu ảnh hưởng của các truyền thuyết có âm mưu đồng hoá ấy.

(28) Tùng: cây thông, hạc: chim hạc (một loài linh điểu các hoạ sĩ xưa vẽ trông thuộc loại cò, vạc, sếu), lộc: hươu; liên áp: vịt bơi trong hồ sen; trúc tước: chim sẻ đậu trên cành trúc. – Giai thoại về ông trạng Mạc Đĩnh Chi khi đi sứ Tàu, một lần vồ bắt con chim sẻ trên một bức thêu vì tưởng chim thật. Khi bị người Tàu cười, ông xé bức thêu; khi bị vặn hỏi, ông trả lời: trúc tượng trưng cho quân tử, sẻ tượng trưng cho tiểu nhân, không nên để cho tiểu nhân ở trên quân tử. Giá các nghệ sĩ xưa suy nghĩ về giai thoại này mà phá bỏ khuôn sáo cũ thì đã có thể có một cuộc cách mạng văn nghệ!

(29) Ngư: người đánh cá, tiều: người kiếm củi, canh: người cầy ruộng, mục: kẻ chăn dắt (như trâu bò), sô: người cắt cỏ, lạp: kẻ đi săn. – Một số đề tài này cũng là đề tài ngâm vịnh quen thuộc của thi nhân; trong văn chương người ta gọi là tính ước lệ.

(30) Theo Nguyễn Lang trong “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” thì tháp cao 20 trượng. Năm 1414 ? (chắc là năm 1424, vì cuộc kháng chiến của Lê Lợi diễn ra trong khoảng 1418-1428), tháp bị Vương Thông phá để lấy gạch xây luỹ chống quân Lê Lợi.

(31) Theo Nguyễn Đổng Chi trong “Việt Nam Cổ Văn Học Sử”. Tác giả dẫn lại bài “Luận về di tích chùa Quỳnh” của Nguyễn Trọng Thuật, đăng ở báo Đuốc Tuệ, số 77.

(32) Chuông đúc ở chùa Diên Hựu năm 1080, đúc xong, đánh không kêu, cho là đã thành khí nên không phá huỷ mà đặt vào ruộng chùa, vì ruộng có nhiều rùa nên người thời ấy gọi là chuông Qui Điền. Cả đỉnh Phổ Minh và chuông Qui Điền đều bị tướng Vương Thông nhà Minh phá ra lấy đồng làm khí giới sau khi hắn bị quân Lê Lợi đánh thua ở trận Tuỵ Động (1426) và hết quân khí. (sdt).

(33) Năm Thiên Thánh thứ 2 (1029) vua Thái Tông lấy ngày sinh nhật làm tiết Thiên Thánh, mở hội làm núi giả bằng tre (Trúc sơn) ở ngoài cửa Quảng Phúc (cửa tây thành Thăng Long) đặt tên là Vạn Thọ Nam sơn có 5 ngọn, ngọn giữa đặt tên Trường Thọ, 4 ngọn kia đều là Bạch Hạc, trên núi có hình chim bay thú chạy, lại có con rồng vàng quấn quanh núi, lưng chừng núi cắm cờ quạt, treo chuông trống, cho ca vũ nhạc công đứng bên múa hát, rồi ban yến cho quần thần. – (Dựa theo “Việt Nam Ca Trù Biên Khảo” của Đỗ Bặng Đoàn và Đỗ Trọng Huề). Ngoài ra việc xây cung điện, chùa tháp, đúc tượng Phật, đúc chuông cũng nhiều; mỗi khi khánh thành đều có hội lễ.

(34) Chúng tôi không nhắc đến kinh thành Huế xây đời vua Gia Long vì do người Pháp vẽ kiểu (kiểu thành Vauban bên châu Âu).

(35) Thường diễn viên đóng vai loại nhân vật nào cũng được hoá trang với sắc diện nhất định: người trung mặt đỏ (có lẽ dựa theo nhân vật Quan Vũ đời Tam quốc bên Trung Hoa nổi tiếng trung nghĩa, tương truyền mặt đỏ), người nịnh mặt trắng. Đây cũng thuộc tính ước lệ.

(36) Giáo phường: đoàn thể, đồng thời cũng là khu phố nơi cư ngụ của những người hành nghề hát ả đào.

(37) Trường hợp Bạch Cư Dị (thi hào Trung Hoa đời Đường) làm bài “Tì Bà hành” cũng là sáng tác tại chỗ để bày tỏ nỗi cảm khái của ông cho thân phận một ca kĩ một thời nổi danh, nay về già hết duyên phải sống cô đơn trên bến Tầm Dương.

(38) Vào đầu thế kỉ XX, xã hội xuống dốc, phong hoá suy đồi thì thú hát ả đào tao nhã nhiều nơi biến thành thú hành lạc thấp kém của hạng quan viên thiếu trình độ thưởng thức văn chương nghệ thuật, còn bên kia nhiều cô đào cũng chẳng biết gì đến thơ nhạc; thay vào đó họ biết mánh khoé chiêu đãi cũa hạng buôn hương bán phấn để làm tiền khách; người ta gọi hạng này là “cô đầu rượu” để phân biệt với ả đào đúng nghĩa là “cô đầu hát”.

(39) Theo soạn giả “Việt Nam Ca Trù Biên Khảo” thì ả đào phải học hát từ 3 tới 5 năm rồi qua kì sát hạch mới ra nghề hát được. Triều Nguyễn mỗi kì đại lễ như khánh thọ (mừng sinh nhật vua, thái hậu), các giáo phường ở mọi nơi phải chọn ả đào hát giỏi lên tỉnh hát thi, người nào trúng tuyển mới được đưa vào kinh đô để hát mừng vua.

(40) Về chi tiết các lối hát, hò này, xin đọc thêm “Đặc Khảo Về Dân Nhạc Ở Việt Nam” của Phạm Duy và “Cầm Ca Việt Nam” của Toán Ánh”.

(41) Đào Duy Anh trong “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương” đã đưa ra 4 sở đoản của âm nhạc Việt Nam thời xưa: 1 – các nhà âm nhạc chỉ học cho đủ những xoang điệu cũ chứ không dám đặt ra xoang điệu mới (tức là nô lệ cổ nhân, đi theo lối mòn). 2 – âm nhạc ta xưa chỉ có những bài tiết âm (mélodie) chứ không có bài hoà âm (harmonie). 3 – không có sách ghi chép, chỉ học truyền khẩu và tập phỏng chừng. 4 – nhạc chỉ phục vụ cho hát mà không có nhạc thuần tuý.

               Chúng tôi không dàm đi sâu vào lãnh vực chuyên môn ngoài khả năng của mình, nhưng nghĩ rằng khi phê bình như vậy, chắc Đào quân có ý so sánh nhạc Việt xưa với nhạc cổ điển Tây phương với những thiên tài và tác phẩm vĩ đại.

(42) Trong “Đặc Khảo Về Dân Nhạc Ở Việt Nam”, Phạm Duy chia ra 3 loại hò: hò làm việc, hò nghỉ ngơi và hò hội.

(43), (44), (45), (46) Theo “Việt Nam Ca Trù Biên Khảo”; các soạn giả chủ yếu dựa vào “Đại Việt Sử Kí Toàn Thư” và “Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục”.

(47) Cùng sách dẫn trên.