5

Đây là những mối quan hệ chịu ảnh hưởng khá đậm của luân lí Nho giáo mà lại ít có sự chống đối từ phía đại chúng. Dĩ nhiên là trước khi tiếp nhận lễ giáo đạo Nho, dân tộc Việt cũng đã có những mối liên hệ ấy và cũng biết cách cư xử sao cho phải. Vì lẽ phải, cái đúng, cái tốt là những tiêu chuẩn đạo đức phổ quát mà con người muôn nơi muôn thuở đều tôn trọng và cố gắng sống theo. Đó cũng là thước đo để đánh giá tư cách của con người trong xã hội. Luân lí Nho giáo chỉ đưa ra những qui tắc rõ ràng cho các quan hệ ấy và được dân ta chấp nhận với tinh thần cởi mở và sùng thiện, tôn trọng những giá trị tinh thần cao đẹp dù là ngoại lai.

A. Đạo vua tôi

            Trong chương nói về chế độ quân chủ, chúng tôi đã nói đến vai trò của vua quan triều đình và mối tương quan giữa họ với dân chúng. Đạo vua tôi bàn đến ở đây thu hẹp giữa cá nhân ông vua với cá nhân người bề tôi phò tá ông vua ấy. Đúng ra thì quan hệ ấy là quan hệ giữa những người cộng tác, tuy có thứ bậc trên dưới rõ ràng. Vua là vị chủ tề quốc gia, tức là vị thượng cấp tối cao, còn bề tôi đều là nhưng thuộc cấp cũng có thứ bậc cao thấp tuỳ theo đức độ, tài năng, nhiệm vụ được giao phó và công lao lập được. Cả vua lẫn quan (bề tôi) đều là công cụ phục vụ cho công ích. Đó là bộ máy chính quyền, tức chỉ là phương tiện sử dụng cho mục đích tổ chức, điều hoà mọi ngành sinh hoạt của xã hội sao cho cuộc sống của tất cả mọi thành viên đều được yên vui theo đúng ý Trời, hợp với lòng mong muốn của mọi người.

            Sách Luận Ngữ chép: Lỗ Định công hỏi đức Khổng tử về cách đối xử giữa vua và tôi, Ngài đáp: “Quân xử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung” nghĩa là vua phải lấy lễ mà dùng người bề tôi, còn người bề tôi thì phải lấy trung mà thờ vua.

            Lễ nhằm duy trì trật tự và ổn định cho một xã hội có văn hoá, tức xã hội loài người. Vậy vua chỉ được sai bề tôi làm những việc chính đáng nhằm mục đích phục vụ quyền lợi quốc gia, công ích xã hội; ấy là lấy lễ mà sai. Bề tôi cũng chỉ được giúp vua làm những việc ấy, mà làm cho hết lòng, ấy là lấy trung mà thờ vua. Ngược lại, vua không được sai bề tôi làm những việc sai trái, chỉ có lợi cho riêng mình mà có hại cho dân cho nước, như thế là trái lễ. Mà bề tôi cũng phải từ chối làm những việc như vậy; hơn nữa còn phải can gián vua, không để vua làm điều trái; nếu không là bất trung. Vua mà làm điều tàn ngược hại dân là hôn quân bạo chúa, tôi mà theo hoặc xui vua làm điều ác là kẻ gian nịnh. Bộ máy chính quyền tức triều đình mà như thế thì trái với ý Trời lòng người, không còn lí do tồn tại, phải bị huỷ bỏ. Còn huỷ bỏ thế nào thì xưa nay lịch sử đã ghi lại quá nhiều.

            Trong lịch sử cũng như trong các tác phẩm văn học cổ của Trung Hoa và Việt Nam có rất nhiều truyện về những người tôi trung can ngăn vua khi vua làm điều ác, trái nghĩa mà bị cách chức, thậm chí bị rơi đầu, cũng như về những ông vua chỉ nghe lời sàm nịnh của kẻ gian thấn mà mất ngôi, mất nước và mất cả mạng sống nữa.

            Vua và đám đông bề tôi không phải có liên hệ huyết thống, mà gặp nhau, họp nhau lại ─ đặc biệt trong giai đoạn loạn lạc ─ để mưu cầu việc lớn như kéo cờ khởi nghĩa, dẹp loạn cứu dân, hoặc đuổi quân xâm lăng, giành lại độc lập cho đất nước. Lúc đầu đám nghĩa quân ấy do một người xướng xuất, thường là người có tài đức, có uy tín được nhiều người tin phục nhất, đứng ra làm thủ lĩnh. Khi đại nghiệp thành rồi, người thủ lĩnh ấy được tôn lên làm vua và mối quan hệ vua tôi được chính thức xác lập.

            Lễ đăng quang được tổ chức hết sức long trọng: chọn ngày lành tháng tốt, đắp đàn cao chín bậc, vua đội mũ miện, mặc áo long cổn màu vàng thêu rồng, các quan mặc phẩm phục, xếp hàng theo thứ bậc. Vua làm lễ tế cáo Trời Đất, vâng mệnh Trời lên ngôi, ngự trên ngai vàng, quay mặt về hướng Nam; các quan quì gối phủ phục tung hô vạn tuế. Kể từ đó, nhất cử nhất động giữa vua và tôi ─ nhất là bề tôi đối với vua ─ phải theo lễ nghi được qui định nghiêm ngặt.

            Trong lịch sử xưa thường là ông vua khai sáng ra mỗi triều đại ở vào bối cảnh trên, thí dụ như Lưu Bang bên Trung Hoa, sau này là Hán Cao Tổ với đám lương thần nổi danh như Trương Lương, Tiêu Hà, Hàn Tín v.v…, hoặc là Lê Lợi ở Việt Nam với Nguyễn Trãi, Nguyễn Xí, Lê Sát, Trần Nguyên Hãn, Phạm văn Xảo v.v…

            Như vậy vua tôi do nghĩa (1) mà họp lại, và đạo vua tôi cũng do nghĩa mà thành hình và tồn tại (quân thần dĩ nghĩa hợp). Vua tôi tuy địa vị cao thấp có khác, song cùng có tư cách và giá trị riêng phải bảo vệ và cùng phải tôn trọng lẫn nhau. Vua tôi cũng phải giúp nhau làm tròn nhiệm vụ mỗi bên; nhiệm vụ ấy cũng nhằm mục đích chung là lo cho dân được an cư lạc nghiệp. Về mối quan hệ hỗ tương giữa vua và tôi, Mạnh tử chỉ rõ:

                        “Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm; quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân; quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù”.

                        nghĩa là: vua coi bề tôi như tay chân thì bề tôi coi vua như lòng dạ (tức quí hoá giữ gìn như phần thân thể quan trọng của mình); vua coi bề tôi như chó ngựa (chỉ để sai khiến) thì bề tôi coi vua như người dưng; vua coi bề tôi như cỏ rác (khinh bỉ giày xéo, vứt bỏ) thì bề tôi coi vua như giặc thù.  

            Nhưng rồi ý nghĩa nguyên thuỷ về đạo vua tôi rất chính đáng, công bằng của Khổng Mạnh cứ bị hiểu sai dần đi: vua trở thành mục đích, bề tôi trở thành phương tiện phục vụ cho cá nhân ông vua và dòng họ vua. Toàn thể dải giang san gấm vóc với của cải trên đó đều là của vua, vua có quyền sử dụng vô giới hạn và truyền lại như gia sản riêng cho con cháu muôn đời sau. Tất cả mọi người dân trong nước từ đứa bé mới lọt lòng đến ông già lụ khụ đều là thần dân của vua, vua có quyền sai khiến để phục vụ mình (phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ, suất thổ chi dân mạc phi vương thần: khắp dưới gầm trời không chỗ nào không là đất của vua; mọi người dân trong nước không ai không là bề tôi cùa vua).

            Đến người dân cả đời không biết mặt vua (2) cũng là con dân của vua, phải trung thành với vua, thì người bề tôi chính hiệu, theo giúp vua, được trực tiếp hưởng ơn mưa móc của vua thì sao? Người đó đã trở nên tên đày tớ của cá nhân ông vua, phải trung thành tuyệt đối với vua, phải phục vụ vua hết mình. kể cả sẵn sàng lấy cái chết để báo ơn vua (quân ưu thần nhục, quân nhục thần tử: để vua phải lo thì bề tôi nhục, để vua nhục thì bề tôi nên chết); thậm chí vua bắt phải nhẩy vào nước sôi lửa bỏng (bắt phải thi hành một nhiệm vụ hết sức nguy nan, trông thấy cái chết trước mắt), người bề tôi vẫn phải tuân lệnh vua (quân sử thần tử, thần bất tử bất trung: vua bắt bề tôi chết mà bề tôi không chịu chết là bề tôi bất trung). Như vây quan hệ vua tôi đã bị hiều sai thành quan hệ chủ tớ, hoặc tệ hơn, thành quan hệ chủ – nô lệ.

            Trước nữa thì người ta còn chút quyền tự do “chim khôn chọn cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ”, ấy là vào những giai đoạn lộn xộn, anh hùng tứ xứ nổi lên như ong, thiên hạ chưa định, chưa biết vào tay ai. Nhưng khi nước đã có chủ rồi thì không có sự lựa chọn nào nữa, mà ai cũng đương nhiên là bề tôi của ông vua đương trị vì rồi. Theo Phan Chu Trinh thì sau này mấy ông hủ nho cứ bày đặt ra những qui tắc khắt khe để buộc những người có tài dù muốn hay không cũng phải ra cho vua dùng (quân thần chi đạo bất khả đào ư thiên địa chi gian: trong khoảng trời đất này không ai trốn tránh được đạo vua tôi). Đời vua Minh Thái Tổ rồi vua Thanh Càn Long bắt tội những người “hữu tài bất vi quân dụng” (có tài mà không chịu ra cho vua dùng) là “yêu quân” (làm nũng vua).

            Tóm lại một người có tài may mắn sinh vào thời một vị minh quân thì ra phò vua giúp nước lập công để bản thân và gia đình được vinh hiển đã đành, còn nếu chẳng may sinh vào thời một hôn quân bạo chúa đang trị vì mà cũng không được ở ẩn, phải ra phục vụ và trung thành với hôn quân bạo chúa ấy? Nếu như vậy là trái với điều đức thánh Khổng và thầy Mạnh dạy học trò và chính bản thân các Ngài đã sống theo:

Bang hữu đạo, cốc; bang vô đạo, cốc, sỉ dã.
(Luận Ngữ – thiên Thái Bá)

(nước có đạo, tức có vua sáng, ra làm quan, hưởng bổng lộc thì được; nước vô đạo, tức vua hôn ám, mà vẫn ra làm quan để hưởng bổng lộc là điều vô sỉ).)

Thiên hạ hữu đạo tắc hiển, thiên hạ vô đạo tắc ẩn.
(cùng xuất xứ như câu trên)

(xã hội có đạo lí thì ra giúp đời, còn vô đạo thì ở ẩn).

Bang hữu đạo, bần thả tiện yên, sỉ dã;
Bang vô đạo, phú thả quí yên, sỉ dã
(cùng xuất xứ như câu trên)

(nước có đạo lí mà không chịu ra làm quan để chịu nghèo hèn là điều đáng thẹn, nước vô đạo mà cứ ra làm quan để hưởng giàu sang cũng là điều đáng xấu hổ).

            Bên Trung quốc, thời Xuân Thu thì Khổng tử, thời Chiến Quốc thì Mạnh tử, thấy nhà Chu suy quá rồi, không thể vực lên được nữa; cả hai Ngài đều đi chu du khắp các nước chư hầu mong tìm được một ông vua sáng suốt biết theo chủ trương dùng đạo đức để trị quốc và bình thiên hạ để phò tá, nhưng không tìm được, nên hai Ngài đành rút lui khỏi chính trường, về mở trường dạy học và trứ thư lập ngôn để truyền lại học thuyết của mình cho đời sau. Chính Khổng tử đã có một thời gian ngắn làm tể tướng nước Lỗ là quê hương của Ngài, nhưng khi thấy vua Lỗ mê nữ sắc, không xứng đáng, Ngài liền bỏ đi sang nước khác. Như vậy Khổng tử đâu có chủ trương phải tuyệt đối trung thành với một ông vua một cách mù quáng!

            Lịch sử Việt Nam cho thấy khi các triều đại quân chủ của thời kì độc lập được ổn định tương đối lâu thì cũng là lúc dân tộc ta chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa khá sâu đậm. Đó là kết quả của hơn một ngàn năm Bắc thuộc, của việc ta phải mượn chữ hán làm chữ viết chính thức, từ đó học sách hán (3), tức chương trình giáo dục, chế độ thi cử, thể chế chính trị v.v… đều mô phỏng Trung Hoa.

            Luân lí Nho giáo lấy đạo vua tôi làm đầu cũng được triều đình đề cao vì luân lí ấy củng cố vương quyền. Tư tưởng tôn quân được chính thức công nhận bằng một nghi lễ quốc gia với hội thề hàng năm ở đền Đồng Cổ ở kinh đô Thăng Long trong đó các quan đọc lời thề “làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất bất hiếu bất trung, xin quỉ thần trị tội”. Lễ hội thề này được tổ chức từ sau vụ nổi loạn bị dẹp tan của ba vương em thái tử Lí Phật Mã định tranh ngôi vua của anh sau khi vua cha Lí Thái Tổ băng (1028).

            Như vậy trong các mối liên hệ giữa ông vua và người khác ─ trừ cha mẹ vua và các thế hệ tiền nhân trực hệ với vua được coi là vai trên (4) ─ còn thì mối liên hệ vua tôi được đem lên hàng đầu: vua đứng trên tất cả. Thí dụ em vua phải xưng với vua là thần đệ, vợ vua phải xưng với vua là thần thiếp, con vua phải xưng với vua là thần nhi v.v… kể cả thầy học của vua, thậm chí bố vợ vua đến trước vua cũng phải phủ phục và xưng hô “muôn tâu bệ hạ, kẻ hạ thần…” (5)

            Như thế đạo vua tôi ngày xưa là trụ cột của luân lí quốc gia, và trong một thời gian nào đó, người ta đã đồng hoá triều đại với quốc gia. Như vào thời Lê mạt, trong Nam thì họ Nguyễn, ngoài Bắc thì vua Lê chúa Trịnh; khi anh em Tây Sơn nổi lên đuổi họ Nguyễn trong Nam xong, Nguyễn Nhạc lên ngôi là vua Thái Đức, Nguyễn Huệ nghe lời Nguyễn Hữu Chỉnh xui, đem quân Bắc tiến với chiêu bài phò Lê diệt Trịnh. Họ Trịnh đổ rồi, vua Thái Đức Bắc du, Nguyễn Huệ với tư cách vừa là ân nhân vừa là rể (6) của nhà Lê, vừa là em vừa là tướng của nhà Tây Sơn, đứng ra tổ chức một cuộc hội kiến giữa hai vua Thái Đức và Lê Chiêu Thống (mới lên kế vị vua cha Cảnh Hưng thăng hà). Vua Lê muốn tỏ lòng biết ơn nhà Tây Sơn đã diệt giùm họ Trịnh bằng cách cắt đất Nghệ An để tặng, nhưng anh em Tây Sơn khảng khái chối từ: “Nếu là đất của họ Trịnh thì một tấc chúng tôi cũng không bỏ, còn là đất của nhà Lê thì một tấc chúng tôi cũng không lấy”. Ở đây rõ ràng mỗi ông vua là một quốc gia.

            Rồi cuộc đời tang thương biến đổi, nhà Lê, nhà Tây Sơn lần lượt sụp đổ, nhà Nguyễn Gia Long lên, dời đô vào Huế, cố đô Thăng Long bị phế, bày ra cảnh:

Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương.

khiến những người có ít nhiều liên hệ với triều Lê cũ như Nguyễn Du, bà huyện Thanh Quan phải cảm khái:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

            Song thật ra trong suốt các triều đại quân chủ ở Việt Nam, tinh thần tôn quân trong giới sĩ phu nho học cũng như trong đại chúng biểu lộ rất ít tính cực đoan cố chấp như thấy đầy dẫy trong sử sách Trung Hoa. Mỗi lần thay đổi triều đại, dĩ nhiên một số người của triều đại cũ vì mất địa vị quyền lợi nên chống đối và tất yếu triều đại mới phải đàn áp và nhiều ít có đổ máu. Nhưng nhìn chung ở Việt Nam những cuộc xung đột như thế diễn ra chóng vánh và đất nước mau trở lại trật tự dưới triều đại mới trong hoàn cảnh sau đây:

  • Một là trước nguy cơ ngoại xâm, vua cũ không đủ năng lực chống giặc, cần có người lãnh đạo mới tài giỏi để bảo vệ đất nước.
  • Hai là vua triều mới lên có đủ tư cách và uy tín để cai quản đất nước, thay thế triều đại cũ đã quá bất lực, thối nát.

            Ở đây ta cũng vẫn thấy tinh thần cởi mở của dân tộc Việt sẵn sàng tiếp nhận tư tưởng ngoại lai, nhưng nhất định là không nhắm mắt “bảo hoàng hơn vua”. Trước khi Nho học được sùng thượng, có hai cuộc thay đổi triều đại tương đối êm thắm. Một là nhà Tiền Lê lên thay nhà Đinh: trước yêu cầu cấp bách chống xâm lăng, sau khi Đinh Tiên hoàng đế và người con lớn là Việt Nam vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích tin dị đoan ám sát, trong lúc tự quân Đinh Tuệ mới có sáu tuổi, quân đội đồng lòng tôn Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua với sự đồng tình của Dương thái hậu. Bà này không những bằng lòng phế ngôi vua của con mà còn lấy luôn người bề tôi của vua chồng vừa mới qua đời nữa. Hành động này của bà ta mà diễn ra vào mấy triều đại sau ắt là bị chống báng dữ dội và bị các nhà nho nghiêm khắc lên án (7). Hai là nhà Lí lên thay nhà Tiền Lê: Lí Công Uẩn làm Điện tiền Chỉ huy sứ được các quan trong triều và giới tăng lữ Phật giáo có thế lực tinh thần rất mạnh vào thời ấy ─ mà đại diện là thiền sư Vạn Hạnh ─ tôn lên ngôi vua sau khi bạo quân Ngoạ Triều chết mà tự quân cũng hãy còn nhỏ. Không thấy sử ghi lại có sự chống đối nào.

            Đến khi nhà Trần thay thế nhà Lí thì có vụ Trần Thủ Độ ngầm bức tử vua Lí Huệ Tông quá nhu nhược và thủ tiêu tôn thất nhà Lí để trừ hậu hoạ. Vụ đổ máu xẩy ra là do hành động tàn bạo của tay gian hùng họ Trần muốn “nhổ cỏ nhổ cả rễ” mà không do sự chống đối cùa các trung thần triều Lí muốn tận trung báo chúa, trừ vụ Đoàn Thượng nổi lên, song cũng kết thúc mau chóng.

            Chỉ đến cuối đời Trần, trước mưu mô thoán đoạt trắng trợn của Hồ Quí Li, một số tôn thất nhà Trần như Trần Nguyên Hãng, Trần Khát Chân mưu lật Quí Li, song việc bại lộ, họ đều bị giết hại cả. Đây là thời kì Phật giáo lu mờ dần và Nho giáo đang đi dần đến địa vị độc tôn. Tư tưởng trung quân đã mạnh, nên sau khi họ Hồ cướp ngôi báu của họ Trần, con cháu họ Trần mới tổ chức được các cuộc chống đối dai dẳng, trong đó Trần Thiêm Bình sang Tàu cầu cứu, rước hoạ mất nước vào tay nhà Minh.

            Khi Lê Lợi chiến thắng quân Minh sau mười năm chiến đấu gian khổ giành lại được độc lập cho đất nước, họ Lê cũng đã xứng đáng lên ngôi vua rồi, mà vẫn phải tôn Trần Cao lên để cho được danh chính ngôn thuận với nhà Minh là giang san này vẫn thuộc về dòng họ Trần. Nhưng lòng người đã hướng về người anh hùng có công đuổi giặc cứu nước rồi, nên nhà Lê vẫn lên. Trong đám khai quốc công thần của nhà Lê vẫn có những người con cháu họ Trần như Trần Nguyên Đán, Nguyễn Trãi (8).

            Sang đời Lê, nhất là từ đời Lê Thánh Tông trở đi thì Nho học độc tôn, tinh thần tôn quân mạnh đến độ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, trong số các bậc đại thần khoa bảng có nhiều người chửi bới, lấy nghiên mực ném hoặc nhổ vào mặt kẻ tiếm vị để rồi chết, kẻ thì quay đầu về hướng Lam Sơn vái lạy rồi tự tử. Nhưng tích cực hơn cả là Nguyễn Kim; ông đi tìm dòng dõi nhà Lê để mưu sự khôi phục với kết quả là trung hưng nhà Lê lên được hơn hai thế kỉ rưỡi nữa. Sở dĩ nhà Lê trung hưng lên được vì lòng dân còn tưởng nhớ công ơn cứu nước của Lê Thái Tổ, trong khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua mà lại đi đầu hàng và cắt đất dâng cho kẻ ngoại thù truyền kiếp để cầu được an thân, bất chấp quyền lợi và thể diện quốc gia.

            Đến khi họ Trịnh lên, Trịnh Kiểm biết lòng người còn mến phục nhà Lê, nên không dám thực hiện ý đồ tiếm vị, chỉ xưng làm chúa để vua Lê ngồi làm vì cho mình nắm thực quyền. Rồi hai họ Trịnh, Nguyễn tranh quyền gây ra cuộc nội chiến Nam Bắc kéo dài khiến nhân dân điêu linh đồ thán thì tinh thần tôn quân suy thoái dần. Bởi vua thì vô năng để chúa lấn át ─ thậm chí có khi chúa giết vua này lập vua khác (9) ─ chúa thì hưởng thụ ích kỉ, để chính quyền thối nát, xã hội rối ren, giặc giã nổi lên khắp nơi. Hậu quả khi có biến, vua chúa phải chạy ra khỏi kinh đô, quân quyền không có trong tay thì cả kẻ bề tôi lẫn dân chúng đều chẳng ai coi vua chúa ra gì.

            Hai sự kiện lịch sử có thể chứng tỏ điều này. Một là khi Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc lần đầu với danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh, chúa Trịnh Khải thua chạy đến nhờ tiến sĩ Lí Trần Quán tìm nơi ẩn náu thì bị một tên học trò của họ Lí là Nguyễn Tráng phản bội bắt đem nộp cho Tây Sơn để lấy thưởng. Khi họ Lí trách mắng Tráng là đồ phản chúa, phản thầy thì Tráng thản nhiên trả lời: “Sợ chúa không bằng sợ giặc, kính thầy không bằng yêu thân”. Họ Lí uất quá, tự chôn sống mình để tỏ lòng trung với chúa. Hai là khi vua Quang Trung Bắc tiến lần sau, đánh bại quân Thanh xâm lược, vua Lê Chiêu Thống bỏ kinh đô chạy sang Kinh Bắc, quan trấn thủ Kinh Bắc là Nguyễn Cảnh Thược đòi vua đưa hết vàng bạc châu báu đem theo cho y, y mới cho chở đò sang sông. Khi đò tới bờ, y còn cho người đuổi theo “xin” nốt tấm hoàng bào vua đang mặc, vua ứa nước mắt cởi áo ra đưa. Đạo nghĩa vua tôi đến đây thật đã xuống đến tận bùn đen.

            Nhưng không phải là đã hết những con người còn giữ vững lòng trung nghĩa, ấy là đám bề tôi tòng vong vua Lê Chiêu Thống sang Tàu. Dù ở trong cảnh lưu vong, họ vẫn giữ đạo vua tôi, chống lại hành vi khinh mạn của người Tàu đối với vua mình, dù phải chết. Đó là hành động của Nguyễn Văn Quyên nhặt gách ném vào bọn lính Tàu và chửi: “Lũ chó Ngô kia, sao chúng bay dám làm nhục vua tao!” để cuối cùng bị chúng đánh trọng thương mà chết. Xét cho kĩ, lòng trung quân của đám bề tôi này đối với vua Lê Chiêu Thống ─ một ông vua thiếu hẳn tư cách để giữ được ngai vàng và đất nước, đã “cõng rắn cắn gà nhà” ─ chỉ là cái ngọn đã héo. Thật sự cái gốc vẫn còn vững mạnh để họ giữ được tinh thần bất khuất thà chết không chịu nhục khi bị dồn vào thế cùng là tinh thần dân tộc, là lòng tự trọng tự ái quốc gia. Chính điều đó đã khiến Lê Quýnh (cũng tòng vong Lê Chiêu Thống) khi bị tổng đốc lưỡng Quảng là Phúc Khang An (thay Tôn Sĩ Nghị) bắt đổi áo ta thay áo tàu, bắt dóc tóc như người Tàu, đã khảng khái trả lời: “… đầu chúng tôi có thể chặt được chứ tóc không thể dóc, da chúng tôi có thể lột được chứ áo không đổi!”

            Sang đến triều Nguyễn, ngay trong đời ông vua khai sáng là Gia Long, vua đã giết hại các bậc khai quốc công thần như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường vì những cớ nhỏ nhặt không đâu. Đến đời vua thứ nhì là Minh Mạng thì càng chuyên chế hẹp hòi hơn (thí dụ các vụ án Lê Văn Duyệt, Lê Chất), dân tình bất phục, loạn lạc bắt đầu nổi lên và kéo dài cho đến đời vua thứ tư là Tự Đức thì thêm nạn ngoại xâm xẩy đến. Cuộc kháng chiến chống Pháp mà kéo dài và lan rộng được trong cả nước là do các nhà nho có khí tiết lãnh đạo; nhưng chính từ người lãnh đạo cho đến nghĩa quân cũng đều xuất phát từ tinh thần dân tộc bất khuất, từ lòng ái quốc mà hành động chứ không phải vì lòng trung quân với các vua triều Nguyễn.

            Chứng cớ là triều đình Huế sau mỗi lần bại trận là nhượng bộ cắt đất dần cho Pháp (hoà ước Nhâm Tuất 1862 rồi Giáp Tuất 1874), và cuối cùng đầu hàng (hoà ước Harmand 1883). Trận đánh cuối cùng của quân đội triều đình diễn ra ở kinh đô Huế năm 1885 (do Tôn Thất Thuyết chủ xướng) thất bại, vua Hàm Nghi bôn đào và hạ chiếu cần vương, phong trào văn thân chống Pháp nổi lên. Người Pháp cố lùng bắt được vua Hàm Nghi, tưởng rằng các cuộc chống đối sẽ xẹp xuống. Nhưng không! Các cuộc nổi dậy vẫn tiếp tục…(10). Rõ ràng là khi vua nhà Nguyễn ngồi trên ngai vàng chỉ để làm bù nhìn cho ngoại bang (như Lê Chiêu Thống) mà không nghĩ đến quyền lợi của quốc gia dân tộc thì chính nhà nho cũng khinh miệt mỉa mai:

Vua chèo còn chẳng ra gì,
Quan chèo bôi nhọ khác chi thằng hề!
(Nguyễn Khuyến)

            Tư tưởng tôn quân sụp đổ hẳn ngay từ ở lớp nhà nho cuối cùng như Phan Chu Trinh và bị tư tưởng dân chủ từ phương Tây tràn đến thay thế. Rút cuộc chỉ còn lòng yêu nước, tình nghĩa đồng bào, tinh thần dân tộc là trường tồn trước mọi cơn bão của lịch sử.

B. Đạo thầy trò

  1. Địa vị quan trọng của ông thầy trong xã hội xưa

            Các nhà nho xếp địa vị của ông thầy đứng hàng thứ hai, sau vua và trước cha. Có thể có nhiều lí do khiến ông thầy có được địa vị quan trọng đến thế.

Thầy đồ và học trò

a) Các nhà nho đều có thể là các ông thầy được cả

            Một anh khoá học tới trình độ khoảng hết trung, cao cấp, chuẩn bị thi hương cũng có thể gõ đầu mươi lăm đứa trẻ và được gọi là thầy đồ. Như nhân vật Tuấn trong cuốn tiểu thuyết “Nhà Nho” của Chu Thiên còn trẻ măng, là học trò cụ nghè Tâm, lại học giỏi và đang sửa soạn đi thi, cũng đã mở lớp dạy trẻ trong làng. Khoá sinh thi rớt vài khoa, bỏ mộng lều chõng, chân tay học trò “trói gà không chặt”, cầy cuốc không nổi, cũng về nhà làm nghể thầy đồ. Rồi mấy ông tú chưa đủ điều kiện ra làm quan, mấy ông cử, ông nghè tuy đủ điều kiện xuất chính, nhưng không thích bị “giàm danh khoá lợi” trói buộc, cũng lại mở trường dạy học để truyền đạt giáo lí thánh hiền cho kẻ hậu sinh, hậu học. Hoặc chính các bậc hiển nho đỗ đại khoa, làm quan to, đến khi về trí sĩ cũng noi gương thầy Khổng, thầy Mạnh thiết trướng đào tạo nhân tài cho đất nước.

            Danh sư đời Trần thì có Chu An mà học trò có người trở nên rường cột của quốc gia như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát. Đời Lê, Mạc thì có Lương Đắc Bằng với ông học trò nổi danh là bậc tiên tri Trạng Trình tức Nguyễn Bỉnh Khiêm; đến lượt ông Trạng thì tuy thi đỗ và làm quan dưới triều Mạc, nhưng khi cáo quan về hưu lại mở trường đào tạo được nhiều nhân tài cho nhà Lê trung hưng như Lương Hữu Khánh (con thầy Lương Đắc Bằng), Phùng Khắc Khoan tức Trạng Bùng. Đời Nguyễn thì có Võ Trường Toản với đám học trò hiển đạt Ngô Tòng Châu, Lê Quang Định.

b) Vai trò của ông thầy trong cuộc đời học hành thi cử của người học trò

            Từ lúc bắt đầu học vỡ lòng cho đến khi học lớp đại tập để đi thi đậu ông cử, ông nghè, một người học trò có thể chỉ cần học vài ba ông thầy là đã đủ đi đến đỉnh cao của danh vọng khoa bảng, nếu người ấy được hanh thông trên con đường khoa cử, như ông nghè Nguyễn Đức Tâm, nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết “Bút Nghiên” của Chu Thiên chỉ học có ba ông thầy: thầy đồ dạy khai tâm, ông đồ Trí cũng là cậu ruột và cụ nghè Phạm Xá. Bởi vậy ảnh hưởng của ông thầy đối với người học trò rất sâu đậm, nhất là nội dung chương trình học thời xưa thiên hẳn về luân lí đạo đức, còn văn chương chỉ đưọc dùng làm phương tiện diễn tả (văn dĩ tải đạo). Ông thầy là khuôn mẫu: tư tưởng, tình cảm, thậm chí lời văn của người học trò cũng được đúc theo cái khuôn mẫu đó. Khi người học trò thành đạt, có được địa vị xã hội cao sang thì công ơn tác thành của thầy rất là to tát: “không thầy đố mày làm nên”.

            Trong xã hội trọng nho xưa, gia đình thừa nhận và trông cậy rất nhiều vào vai trò quan trọng của ông thầy trong việc giáo dục con cái. Lần đầu tiên nhờ thầy khai tâm cho con, những bậc cha mẹ cẩn thận, nhất là những nhà khá giả, thường chọn ngày lành tháng tốt, có khi cả giờ tốt nữa, dù rước thầy về ngồi dạy ở nhà mình hoặc dẫn con đến nhà thầy, hoặc nơi thầy ngồi dạy, bao giờ cũng biện lễ vật gồm trầu, rượu, mâm xôi, con gà, trước là lễ Thánh (đức thánh Khổng, vị tiên sư của đạo Nho), sau là biếu thầy làm lễ nhập môn. Khi được thầy chấp nhận, đứa học trò phải lễ thầy hai lạy để chính thức hoá mối quan hệ thầy trò.

            Sau này trong gia đình mỗi khi đứa con phạm lỗi, cha mẹ trách mắng thường hay hỏi “có phải thầy mày dạy mày như thế không?” hay: “mày hỏi thầy mày xem mày cư xử với cha mẹ (anh em…) như thế có đúng không?”. Như vậy ông thầy nhận trách nhiệm dạy học trò không phải chỉ dạy có văn chương chữ nghĩa, mà còn dạy cách cư xử với mọi người ─ trước hết là với những người trong gia đình ─ sao cho phải đạo. “Tiên học lễ, hậu học văn” mà! Vả lại học văn tức là học cái nội dung đạo lí thánh hiền dạy cách làm người sao cho đúng cho phải để mọi người sống trên thuận dưới hoà hầu cuộc sống từ trong gia đình ra đến làng, đến nước được trật tự, yên vui.

            Ngoài ra, ông thầy dạy học trò lớp đi thi còn phải chịu trách nhiệm nặng (bị tội lây) nếu học trò đi thi làm bài phạm trọng huý (dùng chữ là tên vua, tên cha mẹ vua…). Cũng vì có trách nhiệm tinh thần lớn lao như vậy, ông thầy cũng được chia sẻ vinh dự khi học trò đạt được thành công lớn. Trong đám rước vinh qui của một ông tân khoa, ngoài “võng nàng” đi theo “ngựa anh”, còn có võng cha, võng mẹ, và có thể có cả võng ông thầy, có khi là ông thầy khai tâm của ông tân khoa nữa. Hoặc trịnh trọng hơn, ông tân khoa phải thân hành đến nhà thầy để trình thầy về sự thành đạt của mình và tạ ơn thầy.

            Trong “Bút Nghiên”, nhân vật Tâm mới đỗ giải nguyên (thủ khoa cử nhân), sau buổi vinh qui từ huyện về nhà ăn khao, đã biện lễ vật đến nhà ông thầy đồ dạy vỡ lòng để lễ tạ ơn thầy, rồi đến bái tạ cụ nghè Phạm Xá là ông thầy lớp luyện thi cao nhất. Sau đó khi đỗ hoàng giáp (đỗ đầu nhị giáp tiến sĩ trong kì thi đình), ông nghè Tâm được rước vinh qui từ tỉnh về, trên đường qua làng Phạm Xá, ông nghè cho đám rước dừng lại, xuống võng đi bộ vào nhà thầy để làm lễ bái tạ thầy về công ơn đào luyện thành danh cho mình.

2. Thế lực tinh thần của ông thầy đối với đám môn sinh

            Xã hội kính trọng ông thầy, giao cho ông thầy trách nhiệm và quyền hạn to tát trong việc giáo dục đàn hậu sinh, lâu dần trở thành truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc:

Sang sông phải bắc cầu kiều,
Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy. (ca dao)

            Cho nên trong gia đình bình dân, cha mẹ ít học mà muốn cho con học hành nên người có danh phận, ắt phải trông cậy, uỷ thác cho ông thầy vai trò quan trọng hơn hẳn mình. Đứa học trò sợ và vâng lời thầy hơn là sợ và vâng lời cha mẹ. Trong “Bút Nghiên” có cảnh một bà mẹ lôi đứa con trốn học đến trường nhờ thầy đồ trừng phạt giùm. Ông đồ lập tức nổi giận vì nhận ra ngay cái trách nhiệm của mình và liền thi hành hình phạt theo châm ngôn “thứ nhất hay chữ, thứ nhì dữ đòn”.

            Không phải ông thầy chỉ có oai quyền với mấy đứa trẻ còn thò lò mũi xanh, mà còn có oai quyền với cả đám môn sinh đã thành đạt của mình, nhất là các bậc thầy đạo cao đức trọng. Dù đỗ cao làm quan to mấy, nhưng đến trước thầy, người học trò vẫn phải giữ lễ thầy trò như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát làm đến tể tướng mà khi đến thăm thầy cũ là Chu An, vẫn phải đứng khép nép, chắp tay cúi đầu. Trong “Nhà Nho” một ông mới đậu tiến sĩ đã định phụ rẫy người vợ tấm cám (11) đã nuôi chồng ăn học thành tài để lấy một cô tiểu thư đài các nào đó. Thấy họ hàng can ngăn không nổi, người vợ chỉ còn nước cuối cùng là chạy đến cầu cứu ông thầy cũ của chồng. Ông thầy đại khoa đó nhận ra ngay cái nghĩa vụ  phải ngăn chặn hành vi bất nghĩa của một kẻ môn đồ ra vào nơi cửa Khổng sân Trình, hầu tránh tiếng xấu cho nho lâm. Cho nên dù còn cư tang mẹ, ông đã phải bỏ kinh theo quyền, thân hành dẫn một đám môn sinh tới tận nhà người học trò kia, lôi cổ nó ra, bắt nó phải từ bỏ ý định xấu xa đó, lạy xin lỗi vợ, rồi nọc nó ra đánh ba roi cảnh cáo, dù nó cũng đã là ông nghè như mình.

             Nhờ đâu ông thầy học có được cái quyền lực tinh thần to lớn hữu hiệu đối với người học trò cũng đã thành danh phận lớn, điều mà chú bác họ hàng người ấy cũng không có được? Ấy là do luân lí, phong tục xã hội và nhất là quyền uy chính trị của triều đình yểm trợ. Ông tiến sĩ định phụ rẫy vợ kể trên biết rằng nếu trái lời thầy, ắt sẽ bị thầy ─ một bậc mô phạm nổi danh có biết bao học trò thành đạt khắp nơi, trong triều ngoài nội ─ dâng sớ tâu lên vua xin lột mũ áo tiến sĩ (truất bỏ học vị) thì thân danh cũng bại liệt theo, nên sợ hãi chấp hành mọi mệnh lệnh và nhận chịu hình phạt mà thầy ban ra. Và hành động chính nghĩa của ông thầy để bảo vệ đạo lí, bảo vệ danh dự nho gia, đồng thời bảo vệ hạnh phúc gia đình của chính người học trò được tất cả đồng tình ủng hộ hoan nghênh.

            Dĩ nhiên đó là vào thời điểm xã hội còn thịnh trị, đạo lí và thuần phong mĩ tục còn đuợc tôn trọng. Còn trong thời xã hội loạn lạc, kỉ cương rối nát, phong tục suy đồi thì tất nẩy sinh ra những tên phản thầy phản chúa như Nguyễn Tráng đã kể ở trên.

3. Nghĩa vụ cụ thể của trò đối với thầy

            Ngoài sự tôn kính, lòng biết ơn của trò đối với thầy bằng cách coi thầy như cha, người học trò còn có nghĩa vụ cụ thể đối với thầy và gia đình thầy như đóng góp tiền gạo định kì để trả công thầy dạy học, biện lễ vật gồm của ngon vật lạ, mùa nào thức ấy đến biếu thầy vào những dịp lễ tiết trong năm. Ngoài ra, vào những lúc nhà thầy có việc quan trọng như hiếu, hỉ, đám môn sinh phải thông báo cho nhau để họp nhau lại đóng góp tiền bạc, công sức đến tận nhà giúp đỡ thầy (12). Đặc biệt đối với chính thầy, mỗi khi thầy ốm đau, học trò phải thăm nom và cùng gia đình thầy lo thưốc thang chạy chữa; nếu thầy mất, học trò phải họp nhau lại chịu tang, làm lễ tế thầy, đưa đám và giúp đỡ gia đình thầy hết sức mình. Nếu gia đình thầy nghèo, học trò phài tuỳ khà năng từng người, đóng góp tiền bạc, công sức lo đám tang cho thầy, kể cả việc xây mộ phần, có khi làm cả một ngôi nhà thờ để đến giỗ thầy cho đến khi hết tang (bằng tang cha mẹ). Những người ở gần, thí dụ ở cùng làng với thầy, thì đến giỗ hàng năm cho đến hết đời mình (13).

            Còn đối với gia đình thầy như vợ thầy (học trò gọi bằng cô), học trò cũng phải kính trọng, coi ngang hàng với mẹ. Đối với các con thầy, tuỳ theo tuổi, học trò phải coi như anh em (thế huynh, thế đệ), phải liên lạc và nếu cần phải tận tình giúp đỡ như anh em ruột thịt.

            Mối quan hệ thầy trò rõ ràng là xây dựng trên cơ sở tình cảm nên tồn tại lâu dài. Trước hết tư cách đạo đức của ông thầy thường là khuôn mẫu cho học trò noi theo: tình thầy trò có cái nền là lòng cảm phục của trò đối với thầy. Sau đó lòng ham muốn hiểu biết là của con nguời muôn nơi muôn thuở. Ông thầy đem lại sự hiểu biết, đáp ứng lòng ham muốn phổ biến đó, nên cái công ơn đem lại ánh sáng tri thức, xua tan bóng tối ngu dốt là điều ta không thể quên được, nếu không muốn là kẻ vong ân bội nghĩa.

            Còn thầy đối với trò thì tình cảm cũng tương tự như tình cha con, vì nhiều khi người học trò được khuôn đúc thành đứa con tinh thần của ông thầy, nhất là những người học trò ngoan, giỏi, thành công trên đường học vấn, đem lại sự thoả mãn ─ cả vinh dự nữa ─ cho ông thầy được thấy kết quả tốt đẹp của công phu dạy dỗ, đào tạo của mình. Nhiều khi tình thầy trò thắm thiết đến độ biến thành tình cha con thực sự: trong xã hội xưa nhiều ông thầy kén chồng cho con gái mình trong đám học trò ngoan giỏi: tình nghĩa thầy trò trở thành (hay cộng thêm) tình bố vợ – con rể.

            Thời xưa, người ta có thể không nói quá khi bảo rằng “sinh ra ta là cha mẹ, dạy cho ta nên người là thầy học”. Trong “Nhà Nho”, ông nghè Tâm khi hấp hồi đã tác thành cho cô con gái út rất cưng của mình lấy người học trò cưng rất ngoan giỏi mà ông đã nhắm trước. Đó là anh học trò nhà nghèo, người cùng làng, đã đi lại từ lâu và được gia đình thầy coi thân thiết như người trong nhà. Để tăng cường cho lòng mong muốn cuối cùng của mình, ông nói với vợ con: “Biết con gái không ai bằng mẹ, biết con trai không ai bằng thầy học” để xét đoán về đức độ và triền vọng sáng sủa của người học trò kiêm chàng rể tuơng lai của mình. Và dĩ nhiên ông được toại nguyện trong sự đồng tình và niềm sung sướng của tất cả.

            Trong xã hội Việt Nam theo nông nghiệp và chế độ quân chủ thời xưa, với tinh thần thượng lễ và tôn trọng tôn ti trật tự của Nho giáo, tình nghĩa thầy trò được đề cao và trở thành truyền thống tôn sư trọng đạo tốt đẹp. Điều đó cũng một phần nhờ dân tộc ta có tinh thần hiếu học (ham học thì phải cần thầy) và ý thức được vai trò của ông thầy không phải chỉ thu hẹp trong việc truyền đạt kiến thức, luyện tập cho học trò thi cử để thành danh không thôi, mà còn làm công việc nặng nề của nhà giáo dục đúng nghĩa, có nghĩa vụ do xã hội giao cho là đào tạo những con người toàn diện, sống theo đạo lí thành hiền như cuộc đời mẫu mực của chính bản thân ông thầy vậy.

C. Tình bạn

            Ngũ luân là năm mối quan hệ chính yếu của con người đối với nhau mà nho gia xếp theo thứ tự như sau: quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu (14). Ba quan hệ giữa nằm trong phạm vi gia đình. Hai quan hệ đầu và cuối nằm trong phạm vi xã hội. Trong chế độ quân chủ thời xưa quan hệ vua tôi đứng đầu là điều dĩ nhiên. Còn tình nghĩa bạn bè tuy đứng cuối, nhưng không phải vì thế mà kém phần quan trọng.

            Để thấy rõ đặc điểm của quan hệ bạn bè, ta có thể so sánh quan hệ này với quan hệ anh em vì cùng có tính cách ngang hàng. Trước hết quan hệ anh em là tiền định và cố định: khi ta sinh ra là đương nhiên ta đã có mối quan hệ anh chị em trong gia đình, dù muốn hay không ta cũng không thay đổi đưọc. Trái lại về bạn bè, ta có tự do lựa chọn người hợp với mình để giao du, và ta có thể thay đổi: nếu thấy không thích hợp với người này, ta có thể thôi không giao du nữa (15). Dĩ nhiên sự thay đổi bạn phải có lí do chính đáng và phải diễn ra sau thời gian thử thách ngắn ngủi; không được để liên hệ sâu đậm rồi bỏ bạn này chơi với bạn khác vì mục đích trục lợi, hoặc bỏ bạn vì bạn gặp tai ương hoạn nạn mà không cứu giúp vì sợ liên luỵ, thiệt thòi; như thế là bất nghĩa đáng khinh bỉ. Ta chỉ tránh bạn xấu dựa vào nguyên tắc sau đây:

Chữ rằng: gần mực thì đen,
Anh em bạn hữu phải nên chọn người,
Những người lêu lổng chơi bời,
Cùng là lười biếng, ta thời tránh xa.
(Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp dự bị, bài 10, tr. 12)

            Số anh chị em thì có hạn, còn số bạn bè thì có thể nhiều ít tuỳ mình: người thích giao du rộng nên có nhiều bạn, đó là những người quảng giao; có người chỉ thích chơi với một số ít bạn bè đã lựa chọn kĩ, đó là những người quả giao.

            Tương tự như tình yêu nam nữ, quan hệ bạn bè cũng có nền tảng tình cảm và yếu tố cấu thành là sự tương hợp về tính tình tư tưởng; điểm dị biệt là không khác phái tính để trở thành tình yêu nam nữ (16). Tuy nhiên sự tương hợp về tính tình tư tưởng mà ta hay gọi là ý hợp tâm đầu để trở nên đôi bạn thân thiết lâu bền là điều hiếm có, nên người xưa cho rằng trong đời mình mà gặp được một người bạn tri kỉ thôi (hiểu nhau như nhìn thấu tận đáy lòng nhau) là một duyên may, một diễm phúc đáng trân trọng (đắc nhất tri kỉ khả dĩ bất hận dã). Sử sách Trung Hoa thường đưa ra cặp bạn tri kỉ tiêu biểu nêu gương cho đời là Quản Trọng – Bão thúc Nha. Trong khi giao du, Thúc Nha không những hiểu rõ tính tình, chí hướng, tài năng, hoàn cảnh riêng của Quản Trọng mà còn đủ đại lượng để bao dung cho những khuyết điểm của bạn và giúp đỡ dìu dắt, nhường bước cho bạn tiến vượt xa hơn mình nữa. Cho nên khi Thúc Nha chết, Quản Trọng khóc than rằng: “sinh ra ta là cha mẹ, nhưng hiểu ta trên đời chỉ có Bão Thúc Nha mà thôi!”

            Như vậy một đôi bạn tri kỉ không nhất thiết phải giống hệt nhau về tính tình tư tưởng, mà điều quan trọng là phải hiểu rõ nhau về cả ưu lẫn khuyết điểm và có tấm lòng yêu quí bạn, rộng lượng đối với bạn đến độ có thể nhường nhịn và xây dựng cho bạn hơn ta, tức là bỏ được tính ích kỉ, lòng đố kị, ghét người hơn mình mà người đời thường có.

            Một trường hợp đặc biệt khác trong tình bạn là sự thông cảm qua nghệ thuật, một sự tương hợp về mĩ cảm cũng rất hiếm có: đó là cặp Bá Nha – Tử Kì mà sử sách Trung Hoa cũng hay nhắc đến làm tiêu biểu. Bá Nha là tay danh cầm, Tử Kì la một ẩn sĩ làm nghề đốn củi; hai người tình cờ gặp nhau và khi Bá Nha thấy Tử Kì nghe tiếng đàn mà biết được tâm trạng của mình lúc đánh đàn thì cảm phục và họ kết thành đôi bạn “tri âm”. Đến khi Tử Kì chết, Bá Nha ra mộ viếng bạn và đánh đàn lần chót cho “bạn nghe”; sau đó đập bỏ đàn vì cho rằng trên đời này không còn ai biết nghe tiếng đàn của mình nữa.

            Ngoài những trường hợp đặc biệt, thông thường thì quan hệ bạn bè trong xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo dựa trên qui tắc tín nghĩa, trung hậu, thuỷ chung, đại để bạn bè phải cư xử với nhau như sau:

  • Thành thực, tin cậy nhau đến độ có thể trao gởi tính mạng, tài sản, gia đình (thân nhân) cho nhau nếu cần. Luân lí xưa kết án gay gắt kẻ bất tín bất nghĩa, lừa thầy phản bạn.
  • Yêu mến quí trọng nhau, giúp đỡ nhau hết sức hết lòng, coi bạn như thân mình hay anh em ruột thịt, coi gia đình bạn như gia đình mình, đúng theo lễ. Thí dụ coi cha mẹ bạn như chú bác mình, coi vợ bạn như chị hay em dâu, coi con bạn như con hay cháu mình. Điều này thể hiện rõ khi bạn lâm sự hay gặp tai ương hoạn nạn, ta phải giúp đỡ mà không nề thiệt thòi, nguy hiểm.
  • Chung thuỷ: bạn bè đối xử vơi nhau phải trước sau như một, lúc nghèo hèn cũng như lúc giàu sang, không thể “giàu đổi bạn, sang đổi vợ”. Luân lí Nho giáo thường nhắc đến qui tắc “bần tiện chi giao bất khả vương, tao khang chi thê bất khả hạ đường” (17). Cho nên hai người bạn cùng học với nhau, chỉ sau một khoa thi, một người thi đậu rồi ra làm quan, trở nên cao sang; một người thi hỏng vẫn là dân đen (18) thì người hiển đạt phải biết tâm lí mà giữ gìn hết sức cẩn thận để giữ được tình bạn thân ái như cũ. Ngày xưa một ông quan lớn đi ra đường thường có lính tráng tiền hô hậu ủng, võng lọng nghênh ngang, nhưng khi đến thăm một người bạn cũ hàn vi là phải để quân hầu, nghi vệ  ở ngoài xa, bận thường phục đi vào nhà bạn để tránh phô trương về phía mình, tránh sự so sánh tủi hổ về phía bạn, phải hết sức khiêm tốn giản dị trong ngôn ngữ, cử chỉ thì mới mong giữ được tình bạn cũ trong hoàn cảnh, địa vị xã hội giữa hai người nay đã cách biệt.

            Tấm gương sáng về tình bạn giữa Lưu Bình và Dương Lễ được dân tộc ta nêu lên như một khuôn mẫu toàn hảo về sự chung thuỷ, sự tận tình tận lực giúp bạn, về sự tin cậy, sự khéo léo, kể cả sự hi sinh danh dự tạm thời, tóm lại là “tất cả vì bạn, cho bạn”. Câu chuyện ấy, dân ta chẳng cần biết nó xẩy ra vào triều đại nào, ở đâu và mức độ xác thực của nó đến đâu, nhưng vẫn ca tụng để mọi người noi theo.

  • Bền vững: kết quả tất nhiên của cách đối xử với bạn theo những tiêu chuẩn trên là tình bạn sẽ kéo dài mãi mãi, suốt đời. Và càng lâu, tình bạn càng trở nên quí như món đồ cổ càng đắt giá khi thời gian càng trôi qua; vả lại tình bạn lâu như thế cũng phải trải qua nhiều thử thách rồi. Cho nên khi giới thiệu bạn bè với người khác, cũng để hãnh diện là có được người bạn lâu bền chung thuỷ, người ta hay nhắc đến khoảng thời gian hai người kết bạn, dùng những từ như bạn từ lúc (tóc) còn để chỏm, bạn nối khố, bạn thâm giao, bạn cố tri v.v…

            Đến cách tiếp bạn thì có sự khác biệt giữa giới bình dân và giới nho học trí thức. Ở giới bình dân thì cách tiếp xuề xoà đúng với nếp sống giản dị, tính tình chất phác “yêu nhau bốc bải giần sàng”, mà không cần lễ nghi trang trọng. Còn ở giới nho học thì tinh thần thượng lễ được biểu lộ. Bạn bè đến nhà nhau thì dù thân hay sơ, cả chủ lẫn khách đều phải khăn áo chỉnh tề: chủ phải ra tận cổng đón khách vào nhà nếu được báo trước; còn nếu bất ngờ, chủ phải sai người nhà ra mời khách vào gian nhà chính (nơi tiếp khách), rồi từ nhà trong, chủ khăn đóng áo dài ra chào.

            Gặp nhau, hai bên đều phải cúi đầu chắp tay vái dài rồi mới tay bắt mặt mừng. Rồi hỏi thăm sức khoẻ của nhau và của các bà nội tướng. Sau đó bà vợ của chủ nhân, dù từ ngoài về hay vẫn ở nhà, cũng phải chít khăn, mặc áo dài ra chào bạn chồng, hỏi thăm nội tướng và gia quyến của khách, rồi cáo lui vào sửa soạn trước là trà, sau là bữa cơm đãi khách. Sau phần lễ nghi rồi, hai ông bạn mới ngồi uống với nhau vài tuần trà và đi vào câu chuyện thân mật, có thể có những câu đùa vui nhưng vẫn giữ lễ. Nếu là bạn văn thì bao giờ cũng phải có câu chuyện văn chương sách vở, rồi làm thơ đề vịnh, xướng hoạ, ngâm nga, hoặc đánh một vài ván cờ trước khi vào bữa cơm có chén rượu khề khà tiếp nối câu chuyện văn chương bỏ dở…

            Nói chung đời sống nông nghiệp thô sơ với phong thái người Á Đông xưa ít quan tâm đến giá trị kinh tế của thì giờ nên cuộc gặp gỡ của đôi bạn có thể kéo dài vài ngày (vội vã lắm cũng phải từ sáng đến chiều). Vả lại phương tiện đi lại xưa kia cũng thô sơ (đi bộ, đi ngựa, đi cáng) nên nếu bạn ở xa lâu mới đến, ắt chủ nhân phải giữ khách ở lại cho bõ công đi và bõ thời gian xa cách.

            Còn trường hợp bạn nghèo thì sao? Không cứ phải mâm cao cỗ đầy mới có tình bạn chân thành; “quân tử chi giao đạm nhược thuỷ” mà! Tình bạn thanh cao mà đậm đà thì gặp nhau uống chén nước lã cũng vui rồi (19). Đến đây thì ai cũng nhớ bài thơ “Bạn đến chơi nhà” của Nguyễn Khuyến. Dẫu có trừ hao phần nói đùa đi nữa thì cũng phải có phần sự thật là bạn đến bất thình lình phải lúc vợ con đi vắng cả, mà đôi bạn thân lâu mới gặp nhau, cần hàn huyên hơn, nên phải ngồi nói chuyện suông trong khi chờ đời người nhà về:

Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thì đi vắng, chợ thì xa.
Ao sâu sóng cả, chôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
 Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.

            Điều đó cũng có nghĩa là tình bạn thời xưa không cần vồ vập, biểu lộ ồn ào, dẫu xa nhau lâu ngày, nhưng đã là tri âm tri kỉ thì mặt cách nhưng lòng vẫn gần, thời gian không thể làm phai nhạt tình bạn được. Đó là lối giao du “thoang thoảng hương nhài mà lại thơm lâu” như tình bạn Nguyễn Khuyến – Dương Khuê:

Đường đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần,
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can.

            Và khi bạn từ trần thì tiếng khóc vĩnh biệt bạn không thảm thiết bi ai, nhưng nỗi đau buồn mất bạn lại đượm màu thanh cao và không kém phần sâu xa thấm thía:

Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua,
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa,
Giường kia treo những hững hờ, (20)
Đàn kia gẩy những ngẩn ngơ tiếng đàn!

            Trong các mối quan hệ xã hội của cá nhân thì tình bạn là mối quan hệ thông thường phổ biến và cũng đa dạng phong phú nhất, vì ở bất cứ giai đoạn nào, hoàn cảnh nào trong cuộc đời, ta cũng có thể có bạn, mong cầu có bạn (21), và mối liên hệ chỉ với một người bạn thôi cũng có thể chồng chéo nhiều thứ và kéo dài suốt đời: bạn từ thời thơ ấu, bạn học (đồng song, đồng môn), bạn cùng đỗ một khoa thi (đồng khoa), bạn cùng làm việc một sở (đồng liêu, đồng sự), cùng làm một nghề (đồng nghiệp), cùng tuổi (đồng canh), bạn đồng tâm, đồng chí…

            Đối với nhiều người, vai trò của bạn thật quan trọng và cần thiết cho sự thành công của cả cuộc đời (như Quản Trọng nhờ Bão Thúc Nha) như câu tục ngữ “giàu vì bạn, sang vì vợ”. Cho nên mối quan hệ này được người xưa chú trọng, nhắc nhở bằng nhiều qui tắc xử sự, nhiều câu chuyện để người đời suy ngẫm.

D. Quan hệ chủ tớ

            Có thể nói quan hệ chủ – tớ (còn gọi là thầy – tớ) là thứ quan hệ vua – tôi biến thể và ở cấp bậc thấp. Nhà thường dân ─ thường từ giới trung lưu trở lên ─ ai có thể nuôi được kẻ ăn người ở để sai khiến giúp việc trong nhà thì đều là chủ nhân của những kẻ gia nhân, gọi nôm na là đày tớ. Chính quan hệ vua tôi trong xã hội xưa cũng làm khuôn mẫu cho quan hệ chủ tớ, nhất là đòi hỏi sự trung thành của tớ đối với chủ.

            Quan hệ vua tôi biến thể có nghĩa là người đày tớ (hoặc kẻ tôi tớ) đúng là kẻ phục vụ cho cá nhân ông chủ và gia đình ông chủ. Dĩ nhiên không kể trường hợp thuê mướn người làm một công việc nào đó ngắn hạn xong việc trả công rồi thôi (thí dụ thuê thợ cấy, thợ gặt, thợ làm nhà v.v…). Quan hệ chủ tớ ở đây phải có tính cách lâu dài. Càng “lâu ngày càng dầy kén”: càng ở với nhau lâu thì tình nghĩa càng sâu đậm. Nhiều khi người đầy tớ ở với chủ suốt đời, nhất là những người cô độc, không gia đình thân thích, tận tuỵ phục vụ, chia vui sẻ buồn với nhà chủ; ngược lại cũng được chủ đối xử như một thành viên trong gia đình: bảo đảm mọi mặt trong đời sống, không phải chỉ có cơm áo, tiền công, mà còn săn sóc thuốc men khi đau ốm, chết thì chôn cất và cúng cấp tử tế.

            Quan hệ vua tôi ở cấp bậc thấp nghĩa là đòi hỏi trung thành của tớ đối với chủ. Sử sách xưa kể ra biết bao tấm gương người bề tôi hi sinh cho chúa như Lê Lai liều mình cứu Lê Lợi cũng được kể lại trong “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” lớp dự bị (bài số 40, tr. 42), thì cũng có những câu chuyện người đày tớ vì chủ quên mình như trong truyện nôm “Nhị Độ Mai” (vô danh). Mai Lương Ngọc, nhân vật chính trong truyện có cha là một vị trung thần vì bị gian thần gièm pha với vua mà phải tội chết, gia đình bị tróc nã. Lương Ngọc cùng với tên đày tớ Hỉ Đồng định đến tránh nạn ở nhà bố vợ tương lai là Hầu Loan. Trước khi vào nhà họ Hầu, họ nghe tiếng đồn xấu về người này. Hỉ Đồng liền tự nguyện đổi áo cho chủ để vào trước thăm dò. Quả nhiên, Hầu Loan trở mặt bắt Hỉ Đồng (giả dạng Lương Ngọc) định đem nộp lĩnh thưởng. Hỉ Đồng nuốt thuốc độc tự tử và Lương Ngọc trốn thoát. Sau cùng, chàng đội tên khác, thi đỗ trạng nguyên, minh oan cho cha và báo được thù nhà. Câu chuyện này cũng được kể lại trong “Luân Lý Giáo Khoa Thư” lớp sơ đẳng (bài 15: Tôi tớ, với câu chuyện tiểu dẫn “Nghĩa bộc cứu chủ”, tr. 20-21).

            Tinh thần tôn quân có trong quan hệ chủ tớ còn thể hiện ở trường hợp người đày tớ khoẻ mạnh sống lâu, phục vụ đến hai, ba đời chủ (cũng như người bề tôi thờ đến hai, ba đời vua): chủ chết sớm, phục vụ tiểu chủ và con tiểu chủ nữa. Cho đến đầu thế kỉ XX khi làn sóng văn minh Tây phương đã lan tràn đến đời sống thành thị ở Việt Nam, trong cuốn tiểu thuyết “Nửa Chừng Xuân” của Khái Hưng, ta còn thấy ở thôn quê một người lão bộc đã từng ở với cụ tú Lãm, thân sinh ra nhân vật chính là Mai; rồi cụ tú mất, lão lại ỏ với Mai và em trai của Mai là Huy, cho mãi đến lúc Mai có con, lão lại tiếp tục săn sóc đứa bé, con của Mai. Người lão bộc ấy suốt đời phục vụ nhà chủ (mặc dầu có gia đình riêng, có con cái đàng hoàng), sống hoà mình với sự thăng trầm của gia đình chủ, lo lắng buồn rầu khi nhà chủ sa sút, bày tỏ ý kiến trước quyết định quan trọng của tiểu chủ (can ngăn Mai bán nhà, sẵn sàng lấy hoa lợi của phần ruộng công cấp cho đứa con đi lính của mình để tư cấp cho tiểu chủ ăn học), tuy vẫn tôn trọng quyền của tiểu chủ và giữ đúng bổn phận người làm tôi tớ (dẫn Mai đến nhà ông hàn Thanh để bán nhà). Sau này chị em Mai dời quê ra ở hẳn Hà Nội để Huy đi học, rồi lên Phú Thọ là nơi Huy dạy học, lão vẫn đi theo: người lão bộc ấy đã trở nên một thành phần bất khả phân li của gia đình tiểu chủ.

            Điều mà người ta gọi là cách ăn ở có nghĩa trong quan hệ chủ tớ bên ngoài có vẻ đòi hỏi bổn phận người đày tớ đối với chủ nhiều hơn. Điều kiện tiên quyết là sự ngay thực, vì không ai lại nuôi một kẻ gian dối trong nhà. Tiếp theo là sự trung thành “ăn cây nào, rào cây ấy”, chứ đừng “ăn cây táo, rào cây soan đâu”; khi đã chọn chủ rồi thì một lòng một dạ với chủ, không được chỉ ở với chủ khi chủ “lên voi” và bỏ chủ, hoặc tệ hơn phản chủ khi chủ “xuống chó”. Nếu xử sự theo lối theo thịnh bỏ suy là con người bạc bẽo, bất nghĩa, bị luân lí xưa lên án nặng nề, vì con chó còn không chê chủ nó nghèo (22).

            Xưa kia có nhiều trường hợp một người nghèo khổ, hay gặp hoạn nạn, được người cứu vớt, và rồi quan hệ chủ tớ được xây dựng trên nền tảng ơn nghĩa. Như vậy kẻ tôi tớ còn là kẻ chịu ơn, có bổn phận báo đáp ơn sâu bằng sự trung thành tận tuỵ với chủ, đồng thời là ân nhân của mình. Một kẻ vong ân bội nghĩa phản chủ không những đáng phỉ nhổ mà còn đáng kết án, trừng trị, bời vì một khi kẻ ấy đã vì lợi lộc ích kỉ mà phản ông chủ thứ nhất thì chẳng có ai bảo đảm rằng nó sẽ không phản ông chủ thứ hai…

            Ngoài ra một người đày tớ có nghĩa còn là người vẫn đi lại thăm hỏi chủ cũ sau khi quan hệ chủ tớ chấm dứt với sự thoả thuận song phương, do hoàn cảnh riêng của một hay cả hai bên. Có khi hoàn cảnh thay đổi đảo ngược, chủ sa sút trở nên nghèo hèn, tớ may mắn nên người giàu sang. Đây là lúc vàng được đem ra thử lửa, thử đá: nếu người tớ cũ vẫn giữ tình nghĩa, giúp đỡ chủ cũ mà không quay lưng đi thì cái nghĩa của ngưởi ấy mới thật đáng quí. Cả hai trường hợp đều tiêu biểu cho tính thuỷ chung như nhất.

            Song suy cho kĩ thì mối quan hệ nào muốn tốt đẹp lâu bền cũng phải có tính cách song phương. Để có được người đày tớ có lòng vị chủ, chứ không “cơm nhà chúa, múa tối ngày”, hoặc “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” thì chủ cũng phải quan tâm đến tớ sao cho quyền lợi của tớ gắn liền với quyền lợi của chủ, khiến cho khi làm việc hay bảo vệ lợi ích cho chủ, tớ thấy rằng đồng thời cũng là làm việc và bảo vệ lợi ích cho chính mình. Chẳng hạn công việc làm ăn của chủ mà phát đạt thịnh vượng thì quyền lợi của tớ cũng được tăng theo. Như vậy có nghĩa là chủ không được bóc lột tớ quá đáng: bắt làm việc nhiều mà trả công ít. Ngoài ra chủ còn phải để ý đến mọi mặt trong đời sống của tớ: ăn đầy đủ, mặc lành lặn, khi khoẻ họ làm được việc thì khi ốm đau, gặp tai nạn, chủ phải săn sóc họ chu đáo. Khi họ tận tâm tận lực làm việc đem lại kết quả mĩ mãn thì chủ phải thưởng, phải tỏ ra biết công cho họ, chứ không phải chỉ thưởng bằng lợi ích vật chất không thôi. Đến đây thì đã chuyển sang lãnh vực tình cảm.

            Kẻ đã phải đem thân đi làm tôi tớ cho người, thường có mặc cảm tự ti, lòng tự ái tự trọng dễ bị tổn thương. Bởi vậy ông chủ và gia đình chủ phải biết đến điều đó mà dành cho kẻ ăn người ở trong nhà tấm lòng ưu ái và sự tôn trọng nhân phẩm như một tấm lót che chở cho lòng tự ái tự trọng của họ, sao cho họ cảm thấy rằng sống trong nhà chủ họ không những không mất nhân cách mà lòng quí mến trọng nể của chủ đối với họ càng tăng theo với sự trung thành và đắc lực của họ, rằng công lao tâm lực của họ bỏ ra cho nhà chủ không uổng. Còn khi chẳng may họ lỡ lầm gây thiệt hại cho chủ thì chủ cũng chỉ nên phiền trách nhẹ nhàng. Cách đối xử đối với tôi tớ như vậy là của một ông chủ nhân đức.

            Mối tương quan về quyền lợi vật chất và tình cảm giữa chủ và tớ do sự chân thành và khéo léo của cả đôi bên rất nhiều khi làm quan hệ chủ tớ biến đổi. Thí dụ một ông chủ thương yêu một người đày tớ tận trung đến độ coi nó như một đứa con nuôi (2), gây dựng cơ nghiệp (chia một phần nhỏ gia tài như nhà cửa ruộng đất), dựng vợ gả chồng cho nó. Và kẻ tôi tớ kia cũng coi ông bà chủ như cha mẹ nuôi của mình. Có khi người đày tớ trai giỏi giang có công lớn với chủ đến độ lấy được con gái chủ và leo lên hàng con chủ. Nếu tớ là người đứng tuổi, ở nhà chủ lâu năm, thạo việc, nhiều kinh nghiệm, được chủ tin cậy, giao cho vai trò quản gia, trông coi tài sản như ruộng vườn, cửa hàng, điểu khiền sự thu nhập hàng ngày mà chỉ phải trình qua với chủ; chỉ những việc quan trọng mới phải đến chủ quyết định, nhiều khi chủ cũng quyết định theo đề nghị của quản gia vì thấy đó là biện pháp tốt nhất. Người quản gia như thế trở nên một trợ tá đắc lực cho chủ, và đối với những kẻ tôi tớ khác trong nhà, thực tế người quản gia là chủ nhân thứ hai, là vị chỉ huy trực tiếp nữa.

            Dĩ nhiên trong xã hội xưa không thiếu gì những ông bà chủ keo kiệt ác nghiệt đối với đày tớ, cũng như không thiếu kẻ đày tớ bạc bẽo hoặc tệ hơn, phản chủ vì chẳng có luật pháp nào qui định mối quan hệ chủ tớ với những quyền lợi và bổn phận hỗ tương minh bạch. Nhưng nói chung đạo lí xã hội thời ấy để cao lòng nhân hậu về phía chủ, sự tận tâm, lòng trung thành và thuỷ chung về phía tớ.

            Những mối quan hệ xét trong chương này là quan hệ xã hội thời xưa ai cũng phải có, nhưng được tương đối tự do lựa chọn. Cư xử tốt đẹp, làm tròn mọi bổn phận trong các mối quan hệ ấy là biểu thị sự hoàn chỉnh trong phẩm chất đạo đức của mỗi cá nhân mà từ đó con người được đánh giá một cách toàn diện.

Chú thích cuối chương thứ năm

(1)  “Nghĩa” có thể hiểu là việc lớn có chính nghĩa như kéo cờ khởi nghĩa để trừ bạo cứu dân (Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo – “Đại cáo Bình Ngô”). Rộng hơn “nghĩa” là lẽ phải người ta dựa vào để cư xử với nhau; trong trường hợp này nghĩa thường đi đôi với tình như ta nói “ăn ở có tình có nghĩa”.

(2)  Ngày xưa mỗi khi vua ngự giá đi đâu thì có quân ngự lâm tiền hô hậu ủng, dân phải tránh ra xa để trống đường vua đi. Trường hợp bất thần không kịp tránh từ xa thì họ phải phủ phục rạp mình xuống đất cho đến khi Ngài ngự qua rồi mới dám ngẩng lên thì làm sao thấy được long nhan?

(3)  Năm 1007 vua Lê Ngoạ Triều sai phái bộ Minh Xưởng – Hoàng Thành Nhã sang xin nhà Tống cấp cho Cửu Kinh (Tứ Thư và Ngũ Kinh) và Đại Tạng Kinh của Phật giáo. Đây là lần đầu tiên triều đình của nước Việt độc lập chính thức xin kinh sách của Trung Hoa.

(4)  Cha mẹ, ông bà, tổ tiên của ông vua khai sáng một triều đại dĩ nhiên là không làm vua. Nếu cha mẹ vua còn sống thì sau khi lên ngôi, vua phải tôn cha lên làm Thái Thượng hoàng, mẹ làm Thái hậu. Còn nếu các vị ấy đều đã qua đời thì vua phải truy tặng miếu hiệu hoàng đế đến vị tổ mà còn biết được tên. 

(5)  Các chức quan “thị độc học sĩ”, “thị giảng học sĩ” thực ra là các ông thầy đọc và giảng sách cho vua mà danh hiệu là “kẻ sĩ đứng đọc, giảng sách hầu vua”.

(6)  Sau khi diệt được nhà Trịnh, Nguyễn Huệ được vua Lê Cảnh Hưng gả công chúa Ngọc Hân cho.

(7) Trong thời gian Lê Hoàn còn giúp tự quân thơ ấu nhiếp chính, bọn Nguyễn Bặc, Đinh Điền thấy họ Lê lộng quyền nên khởi binh định trừ hậu hoạ, nhưng họ thất bại và bị giết cả. Chưa chắc gì hai họ Nguyễn, Đinh đã do lòng trung quân mà hành động, hay là do muốn tranh quyền. Và nếu họ thành công, không có gì bảo đảm rằng họ sẽ không lộng quyền trước một ông vua con nít!

(8) Trần Nguyên Hãn là dòng dõi Trần Quang Khải. Nguyễn Trãi là cháu ngoại Trần Nguyên Han. Bản thân Nguyễn Trãi thi đậu thái học sinh (đời Hậu Lê đổi là tiến sĩ) dưới triều Trần, trên nguyên tắc ông đã là bề tôi triều Trần. Ngoài ra thân phụ ông là Nguyễn Phi Khanh cũng làm quan nhà Trần và có dự vào cuộc chống Minh nên mới bị quân Minh bắt đưa về Tàu.

(9) Trịnh Tùng giết hai vua Lê Anh Tông (1556-1573) và Lê Kính Tông (1600-1619), Trịnh Giang giết vua Lê Vĩnh Khánh (1729-1732).

(10) Sau các hoà ước 1862, 1874, triều đình Huế nhường đứt sáu tỉnh Nam kì cho Pháp, các nhà nho nghĩa khí như thủ khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, Trương Định v.v… vẫn tiếp tục lãnh đạo dân chúng nổi lên chống Pháp, bất chấp lệnh ngưng chiến của triều đình.

(11) Do câu “tao khang chi thê, bất khả hạ đường”: người vợ cùng ăn tấm cám với mình, tức cùng chung sống lúc nghèo hèn, không được khinh rẻ (bỏ ở nhà dưới). Tống Hoằng làm tể tướng đời Hán Quang Vũ, đẹp trai, công chúa em vua muốn Hoằng bỏ vợ để lấy mình, nhờ vua ướm hỏi, thấy ông trả lời như trên, bèn thôi.

(12) Ở mỗi trường, nhất là trường của những ông thầy danh tiếng, đông học trò, thường có hội đồng môn gồm những người bạn cùng học (đã và đang học) bầu một người trưởng tràng để lo việc liên lạc, thông báo, phân bổ và thu góp phần nghĩa vụ đối với thầy.

(13) Học trò chỉ mặc tang phục lúc dự tang lễ hay lúc đến giỗ thầy khi còn tang kì. Còn lúc thường, mặc dù còn tang kì, học trò không phải để tang bằng phục sức, mà chỉ để tâm tang. Sau khi Khổng tử mất, trong số học trò thân thiết với Ngài, có người làm nhà gần mộ để cư tang hết ba năm, có người thương nhớ ở đến sáu năm mới thôi.

(14) Trong ngũ luân không thấy có quan hệ thầy trò, có lẽ vì quan hệ này (sư phụ – đệ tử) coi như tương đương với quan hệ cha con chăng?

(15) Thí dụ lúc mới giao du thì bạn là người tốt, sau đó bạn sa ngã và trở nên người xấu, ta khuyên can không được thì có thể bỏ bạn.

(16) Trong xã hội xưa, sự giao thiệp giữa nam và nữ bị lễ giáo kiểm soát chặt chẽ, nên hầu như không có tình bạn thuần tuý giữa những người khác phái. Cũng không thấy nói đến trường hợp đồng tính luyến ái.

(17) Nghĩa: người bạn chơi với nhau lúc nghèo hèn không thể bỏ quên, đoạn sau đã giải thích ở chú thích số 14 phía trên.

(18) Trường hợp này, người xưa gọi là “nhất tự cách trùng”, chỉ khác nhau một chữ cũng đủ để xa cách nhau nghìn trùng. Trong một khoa thi, văn bài hai người ngang nhau cùng đáng đỗ, nhưng một người viết sai một chữ, hay dùng một chữ phạm huý là đủ để hỏng thi.

(19) Người ta kể chi tiết giống nhau trong nhiều chuyện để chứng tỏ sự chân thành đáng quí hơn giá trị vật chất: một ông ăn khao, một ông bạn thân bắt buộc phải có mặt, nhưng nghèo đến độ không mua nổi chai rượu mừng, bèn đổ nước lã vào chai đem đến. Ông bạn nhận lễ vật, biết được, vội cất riêng một nơi, nói với người nhà là rượu ngon của bạn quí, muốn để uống riêng, cốt giữ thể diện cho bạn. Trong “Nhà Nho” cũng có một người học trò nghèo đến tết thầy hai chai nước lã giả rượu cúc, ông thầy cũng xử sự tương tự.

(20) Trần Phồn đời Hậu Hán bên Tàu có một cái giường dành riêng cho bạn là Từ Trĩ đến chơi thì nằm. Hễ bạn đi khỏi thì treo giường lên. Cả câu có ý than bạn quí nay đã mất, giường không bao giờ được hạ xuống nữa.

(21) Các quan hệ xã hội khác như vua tôi, thầy trò. Một người xưa kia chỉ có thể thờ hai, ba đời vua cùng triều đại, học bốn, năm ông thầy. Còn bạn bè thì không giới hạn, lúc nào cũng cần có bạn, khi gặp hoạn nạn càng cần có bạn (thí dụ bạn trong tù).

(22) Tục ngữ: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”. Con chó của một người hành khất rách rưới vẫn theo chủ nó và sủa cắn người khách lạ, dù người đó ăn mặc sang trọng.

(23) Một đôi vợ chồng hiếm muộn xin hay mua một đứa con hoang về nuôi công phu như con đẻ, đó là con nuôi chính thức được phong tục và luật pháp công nhận. Còn đầy tớ được nâng lên hàng con nuôi hoàn toàn dựa trên cơ sở tình cảm giữa đôi bên chủ tớ.