Học Ngoại Ngữ Thời Trung Học Ở Petrus Ký
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADA
Tôi được may mắn theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại Trường Trung Hoc Petrus Trương Vinh Ký, thường được gọi tắt là Trường Petrus Ký. Trong thời gian này, với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các anh chị tôi, Chị Hai Lâm Nguyệt Anh (1933-2015), và Anh Tư Lâm Vĩnh-Tế (1939-2000), đều đã được theo học chương trình Pháp trước đó, nên tôi đã học rất khá môn Pháp Văn. Về môn Anh Văn thì, do đặc ân của Ơn Trên, tôi luôn uôn đứng đầu lớp về ngoại ngữ này. Bài viết này cố gắng ghi lại những chuyện liên quan đến việc học ngoại ngữ Anh-Pháp trong thời gian 7 năm tại Trường Petrus Ký.
Học Pháp Văn
Trong thập niên 1950, Bộ Giáo Dục có quy địng là học sinh bậc Trung Học, cả Đệ Nhứt Cấp và Đệ Nhị Cấp được học cả 2 ngoại ngữ Pháp và Anh, và được chọn một trong hai làm sinh ngữ chính Tôi đã chọn Pháp Văn làm Sinh Ngữ Chính và Anh Văn làm Sinh Ngữ Phụ.
Thời Gian Đệ Nhứt Cấp (1953-1957)
Trong thời gian suốt 4 năm (1953-1957) ở bậc Đệ Nhứt Cấp, Giáo Sư Pháp Văn của tôi là Thầy Phạm Văn Sửu, và, vì vậy, tôi đã có khá nhiều kỷ niệm với Thầy.
Thầy Phạm Văn Sửu
Thầy Phạm Văn Sửu dạy môn Pháp Văn, là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của Trường Petrus Ký đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn tôi, không những vì công ơn dạy dổ của Thầy (chúng tôi học Pháp Văn với Thầy suốt 4 năm Ðệ Nhất Cấp), mà vì Thầy đã nêu gương sáng cho tất cả anh em chúng tôi qua tư cách của thầy (thí dụ như trong biến cố giữa Bình Xuyên và Quân Ðội Quốc Gia tại Trường, như tôi đã kể lại trong Phần I của hồi ký nầy), cũng như qua quyết tâm vươn lên trong xã hội của thầy. Xuất thân là một huấn luyện viên thể dục, lại nặng gánh gia đình đông con, vợ lại không đi làm, Thầy đã cố gắng vừa đi làm, vừa đi học thêm để lấy bằng Tú Tài. Sau khi đậu xong Tú Tài, Thầy xin cải sang ngạch Giáo Sư Ðệ Nhất Cấp và được cử dạy môn Pháp Văn tại Trường. Trong suốt 4 năm dạy Pháp Văn cho anh em chúng tôi tại Trường, Thầy lại mở lớp dạy tư thêm tại nhà, một ngôi nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, để tăng thêm lợi tức cho gia đình vì lúc đó các con Thầy cũng đã lớn, trong nhà cần chi phí nhiều hơn. Tôi vẩn nhớ có nhiều hôm tụi tôi đến học thêm tại nhà Thầy, trời nóng quá, Thầy cho phép tụi tôi cởi áo ra, ở trần hết, riêng Thầy cũng chỉ mặc áo thung ba lổ. Hình ảnh “lớp học” lúc đó trông chắc buồn cười lắm nhưng quả thật đã để lại trong tôi rất nhiều kỹ niệm êm đềm. Cũng trong thời gian nầy, Thầy lại cố gắng ghi danh học Luật, và sau cùng Thầy lấy được mãnh bằng Cử Nhân Luật Khoa. Thầy rời Trường, chuyển sang ngành Tư Pháp và được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Án các Toà Sơ Thẩm. Gần mười năm sau, thầy trò chúng tôi lại có dịp gặp lại nhau tại tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre). Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon và được bổ về dạy các lớp Ðệ Nhị Cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa. Thầy Phạm Văn Sửu lúc đó là đương kim Chánh Án Toà Án Tỉnh Kiến Hòa. Tôi có đến thăm Thầy mấy lần tại ngôi biệt thự rất lớn dành cho vị Chánh Án của tỉnh, nằm cạnh bờ hồ Chung Thủy, ngay trước cổng Trường Trung Học. Tôi nhắc lại mấy buổi học “ở trần” tại nhà Thầy ở khu Bàn Cờ, Thầy cười và nói: “Cái thằng nhớ dai dữ.” Thầy rất mừng cho sự đổ đạt của tôi. Tôi không nói ra, nhưng trong bụng thầm nghĩ “Chính nhờ Thầy đã nêu gương sáng hiếu học mà ngày nay con mới nên người”.
Thời Gian Đệ Nhị Cấp (1957-1960)
Tôi được may mắn theo học môn Pháp Văn 2 năm học liên tiếp, Đệ Tam A (1957-1958) và Đệ Nhị A (1958-1959) với Thầy Trương Văn Cao, và năm Đệ Nhứt A1 (1959-1960) với Thầy Huỳnh Văn Hai.
Thầy Trương Văn Cao
Thầy Cao, nghe nói, xuất thân là một tu sĩ thuộc dòng Taberd của Gáo Hôi Thiên Chúa Giáo. Thầy người hơi thấp, nhưng đi dứng lại rất nhanh nhẹn, và làm việc cũng như vậy. Thầy đọc bài rất nhanh, chép bài lên bảng đen cũng nhanh, làm bọn tôi chay theo Thầy muốn hụt hơi luôn. Ở năm Đệ Nhị, bọn tôi sợ nhứt là giờ trả bài thuộc lòng (Récitation) các bài thơ của Lamartine, Alfred de Musset, vv Thầy luôn luôn kêu một lúc 4 học sinh, mỗi đúa đứng một góc của bàn bureau của Thầy, Thầ cầm cây thước gỗ và Thầy gỏ góc nào thì học sinh đứng góc đó trả bài, và cứ thế Thầy chuyển từ dứa này sang đúa khác, không theo thứ tư gì cả, và khi Thầy gỏ góc bàn của mình đang đứng thì học sinh đó phải trả bài tiếp theo liền, thành ra, trên thực tế, một đứa đang trả bài, thì 3 đứa còn lại đều phải lầm thầm đọc theo, có như vậy thì mới bắt vô liền cho kịp. Nhờ cách dạy “tàn bạo” này, năm đó bọn tôi thuộc lòng hết tất cả các bài thơ của phái lãng mạn Pháp của thế kỷ thứ 19, như Le Lac, L’Automne của Lamartine (1790-1863), như Adieu, Souvenir của Alfred de Musset (1810-1857).
Thầy Huỳnh Văn Hai
Ảnh chân dung Thầy Huỳnh Văn Hai – Niên Giám Quốc Hội Lập Pháp Khóa 2
Thầy Huỳnh Văn Hai lớn tuổi hơn Thầy Cao khá nhiều, lúc đó đã chính thức nghỉ hưu rồi. Thầy chỉ là một giáo sư tư nhân dạy giờ để kiếm thêm một chút lợi tức cho gia đình. Tóc Thầ đã bạc trắng hết và Thày nói năng rất nhỏ nhẹ, chưa bao giờ bọn tôi thấy Thầy nổi giận hay la mắng học trò. Cả năm học Thầy chuyên chú vào việc tập cho bọn tôi nói tiếng Pháp cho đúng giọng và đúng văn phạm. Về sau, Thầy Huỳnh Văn Hai là một Dân Biểu của tỉnh Gò Công, Quốc Hội Lập Pháp Khóa II của Việt Nam Cộng Hòa
Học Anh Văn
Thời Gian Đệ Nhứt Cấp (1953-1957)
Trong thời gian 4 năm (1953-1957) của bậc Đệ Nhứt Cấp, tôi đã được học Anh Văn với 3 Thầy:
- Thầy Ưng Đồ: nửa năm sau của Lớp Đệ Thất F (NK 1953-1954)
- Thầy Đinh Xuân Thọ: hai năm của Lớp Đệ Lục F (NK 1954-1955) và Lớp Đệ Ngũ F (NK 1955-1956)
- Thầy Nguyễn Hoàng Sang: Lớp Đệ Tứ F (NK 1956-1957)
Thầy Ưng Đồ:
Đầu năm Lớp Đệ Thất F bọn tôi học Hán Van với Thầy Ưng Thiều. Được nửa năm thì Trường có chỉ thị cho phép học sinh được chon học Anh Văn hay Hán Văn. Tuyệt đại đa số học sinh (trong đó có tôi) đã chọn học Anh Văn và Giáo sư môn sinh ngữ này là Thày Ưng Đồ.
Thầy Ưng Đồ nguyên là một Giám Thị của Trường nhưng vì lúc đó Trường thiếu Giáo Sư Anh Văn nên Thày được Tương cử cho dạy sinh ngữ này cho các lớp đệ thất.
Với xuất thân như thế, Thày không phả là một giáo sư được đào tạo chính quy. Thầy đã từng kể cho bọn tôi nghe về cách học tiếng Anh của Thầy là như sau: Thầy chịu khó tìm cách làm quen các thủy thủ của các thương thuyền Hong Kong, Singapore cập bến Sài Gòn, dẫn họ đi ăn nhậu, và tập nói tiếng Anh với họ. Bọn tôi thường cười vui khi nhìn Thầy uồn lươi, vặn vẹo cặp môi khi Thầy cố gắng phát âm cho đúng giọng Anh. Bọn tôi chỉ học với Thày có nửa năm sau của Lớp Đệ Thất F (NK 1953-1954) vì tựu trường NK 1954-1955 Trường Petrus Ký đã nhận được 5 giáo sư tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội là các Thầy Lê Xuân Khoa, Vũ Ngọc Khôi, Đinh Xuận Tho, Nguyễn Hữu Kế và Bùi Trọng Chương, mà Thầy Đinh Xuân Thọ là Giáo Sư môn Anh Văn.
Thày Đinh Xuân Thọ
Thầy Đinh Xuân Thọ năm 1953
Thầy Đinh Xuân Thọ, người Bắc, tốt nghiệp Tường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội, người tầm thước, mặt trắng trẻo, đẹp trai, trông như lai Pháp, dạy bọn tôi môn Anh Văn liên tiếp 2 năm ở bậc Đệ Nhứt Câp, Lớp Đệ Lục F (NK 1954-1955), và Lớp Đệ Ngũ F (NK 1955-1956), và sau đó thêm 1 năm ở Đệ Nhị Cấp, Lớp Đệ Tam A (NK 1957-1958).
Trong cách dạy, Thầy chú trọng nhiều vể văn phạm, và việc chuyển dịch các tài liệu từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại, thật sự giúp bon tôi nắm được tiếng Anh khá vững vàng, nhứt là việc đọc và dịch tiếng Anh
Thầy Nguyễn Hoàng Sang
Thầy Nguyễn Hoàng Sang, dạy môn Anh Văn cho bọn tôi ở Lớp Đệ Tứ F (NK 1956-1957), là một người tầm thước, hơi ốm, đi dạy lúc nào cũng bận một đồ complet bằng sharkskin trắng. Thầy Sang có rất nhiều đặc điểm làm bọn tôi khó quên được Thầy. Tôi thật sự không rõ Thầy có được đào tạo về sư phạm hay không nhưng phải nhận rằng Thầy dạy rất hay, rất sống động, vừa tạo được không khí vui tươi cho lớp học, vừa tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong giờ học. Khi dạy về đề tài nào là Thầy vẻ hình về đề tài đó lên bảng ngay, mà Thầy vẻ theo lối hí họa nên trông rất vui và hấp dẫn. Một lần Thầy dạy một bài về tàu bè, thế là Thầy vẻ ngay lên bảng một chiếc tàu, với đầy đủ mỏ neo, ống khói và dây ăng-ten. Vẻ xong, Thầy quay lại hỏi bọn tôi có biết dây đó là dây gì hay không. Dĩ nhiên bọn tôi đều biết đó là dây ăng-ten nhưng anh Ánh (cũng là cái anh chàng Ánh liếng khỉ đã nhảy lên cặp cổ Thầy Giám Thị Chương của hai năm về trước) lẹ làng dơ tay lên xin trả lời và bảo đó là dây phơi quần áo. Bọn tôi cười quá trời. Thầy Sang, mặt không đổi sắc, vừa chỉ tay vào mặt anh Ánh vừa nói:”Cha mầy!”. Vậy thôi, Thầy không phạt anh Ánh gì cả, và lại quay ra dạy tiếp. Ðặc điểm sau cùng về Thầy Sang mà tôi vẫn còn nhớ là Thầy đi dạy học bằng xe hơi, một chiếc Juvaquatre mui trần màu trắng, một điều khá hiếm trong giới Giáo sư trung học trong thập niên 50. Riêng tôi có được thêm một kỹ niêm riêng với Thầy Sang. Cuối năm đó, thi đệ nhị lục-cá-nguyệt tôi đứng hạng nhì môn Anh Văn, và được Thầy chọn thay mặt cho học sinh Petrus Ký đọc một diễn văn ngắn bằng tiếng Anh trong buổi lể tiếp nhận sách do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tặng cho Trường. Tôi còn nhớ một ngày trước buổi lể đó, học sinh Petrus Ký chúng tôi được điều động ra đứng dọc theo đường Công Lý để chào mừng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm công du Ðại Hàn trở về. Bọn tôi ra đó rất sớm, tất cả đều mặc đồng phục trắng cho các ngày lể, trong khi chờ đợi thì Thầy Sang đến, nói vài lời với thầy Giám thị phụ trách lớp bọn tôi, rồi dẩn tôi ra, cho tôi lên ngồi trên chiếc xe Juvaquatre kế bên Thầy (xe Thầy chỉ có hai chổ ngồi, không có băng sau) và tập dượt cho tôi đọc bài diển văn mà Thầy đã soạn sẳn. Nhờ vậy, qua hôm sau, tôi đã làm tròn nhiệm vu, đọc bài diển văn không bị vấp váp.
Thông Tín Bạ Petrus Ký, Đệ Tứ F (1956-57) – Đệ Nhị Bán Niên – Hạng 2 môn Anh V8n
Thời Gian Đệ Nhị Cấp (1957-1960)
Trong thời gian 3 năm (1957-1960) theo hoc bậc Đệ Nhị Cấp, tôi đa hoc môn Anh Van với 2 Thầy:
• Thầy Đinh Xuân Thọ: Lớp Đệ Tam A (NK 1957-1958; đã trình bày thông tin về Thầy họ bên trên rồi)
• Thầy Pham Văn Thuật: 2 năm, Lớp Đệ Nhị A (NK 158-1959) và Lớp Đệ Nhút A1 (NK 1959-1960)
Thầy Phạm Văn Thuật
Thày Phạm Văn Thuật là giáo sư Anh Văn đầu tiên của tôi tại Trường Petrus Ký tốt nghiệp tứ một trường đại học ở ngọai quốc, và đặc biệt hơn nữa, là từ Anh Quốc. Thày nói tiếng Anh không những lưu loát, tự nhiên (không cần phải uốn lưởi, vặn vẹo môi gì cả như Thầy Ưng Đố đã trình bày bên trên), mà còn đúng giọng Ăng-Lê chính cống. Thầy cũng là người đi dạy học bằng xe hơi, một chiếc xe hiệu Sunbeam màu hường lợt láng coón.
Mặc dù xuất thân như thế, nhung Thầy lại rất bình dân, không hề tỏ ra ngạo mạn, và dạy học rất tận tình, giúp bọn tôi rất nhiều trong hai lãnh ực quan trọng: 1) dịch các tài liệu tiếng Anh sang tiêng Việt; và, 2) tập nói tiếng Anh cho đúng giọng.
Về sau, Thầy rời Trường Petrus Ký lên làm việc trên Bộ Giáo Dục, và giữ chức vụ Tồng Giám Đốc, Tổng Nha Trung Tiểu Học và Bi\ình Dân Giáo Dục, phụ trách điều khiển luôn cả 3 Nha quan trọng của Bộ Giao Dục là Nha Trung Học, Nha Tiểu Học, và Nha Bình Dân Giáo Dục. Sau cùng, Thầy được bổ nhiệm về làm Giảng Sư tại Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Anh Văn, cho đến ngày 30-4-1975.
Về phần tôi, tại kỳ thi đệ nhị bán niên của năm học Lớp Đệ Nhứt A1 (NK 1959-1960), tôi đã được xếp Hạng 1 môn Anh Văn.
Thông Tín Bạ Lớp Đệ Nhứt A1 (NK 1959-1960) – Đệ Nhị Bán Niên, Hạng 1 môn Anh Văn
Thay Lời Kết:
Tôi đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại Trường Petrus Ký. Về hai môn sinh ngữ Pháp Văn và Anh Văn, thì tôi cũng đã may mắn được học với những vi Thầy không những có kiến thức về sinh ngữ cao mà còn có tấm lòng thương yêu học sinh. Tất cả các vị Thầy này, dù là tự học hay được đào tạo chính quy, đều đã giúp cho tôi nắm thật vững các sinh ngữ này, nhứt là sinh ngữ Anh, tạo điều kiện thật tốt đẹp cho việc tôi đi du học tại Hoa Kỳ sau này (1971-1973) cũng như việc giàng dạy tại các trường đại học cộng đồng và viết sách bằng tiếng Anh trong suốt thời gian hơn 40 năm tôi định cư tại Canada.



