Gánh hát Hương Mùa Thu (Thi ca vũ nhạc kịch đoàn Hương Mùa Thu)
Vưu Văn Tâm
Chán ngán cảnh sống chui rúc trong bưng biền, ông Nguyễn Văn Sáu bỏ trốn về thành và được ông bầu Ba Bản của gánh hát Thủ Đô tận tình giúp đỡ. Vốn là người đồng hương ở Bến-Tre, ông Sáu được ông Ba Bản giao cho nhiệm vụ coi sóc phòng thâu thanh ở hãng dĩa Hoành Sơn và phát lương tháng hẳn hòi. Nơi đây, ông có dịp quen biết và theo đuổi cô thơ ký của hãng dĩa tên Thu mặc dù đã có vợ con ở quê nhà. Do thường có mặt tại nhà của cô Thu nên các nghệ sĩ đương thời đặt tên cho ông là Thu An, có nghĩa là thường xuyên an nghỉ nơi nhà cô Thu. Ông có tài viết lách nên chọn luôn cái tên Thu An làm bút danh mỗi khi sáng tác.


Soạn giả Thu An vốn là nhạc sĩ đờn cò, quê quán ở Ba-Vát, tỉnh Bến-Tre và thường hay tham gia đờn ca tài tử, đình đám nơi quê nhà. Vở tuồng cải lương nổi tiếng “Tiếng trống sang canh” trên sân khấu đoàn Thủ Đô đã bắc nhịp cầu lương duyên cho soạn giả Thu An và cô đào Ngọc Hương, huy chương vàng giải Thanh Tâm dành cho nghệ sĩ triễn vọng vào năm 1962.

Dù được nhiều đãi ngộ của ông bầu Ba Bản, cặp Thu An và Ngọc Hương chia tay với đoàn Thủ Ðô rồi gia nhập gánh hát Kim Chưởng. Nơi đây, Thu An vẫn được giữ vị trí giám đốc kỹ thuật kiêm soạn giả và Ngọc Hương tiếp tục thăng hoa với nhiều vai diễn đi vào lòng người. Giữa năm 1964, vợ chồng Thu An và Ngọc Hương lập gánh với bảng hiệu “Thi ca vũ nhạc kịch đoàn Hương Mùa Thu”. Hương Mùa Thu là một gánh hát bề thế, áp dụng kỹ thuật tân kỳ khiến cho sân khấu cải lương thêm lung linh, kỳ ảo và sánh ngang hàng với các gánh hát đại ban đương thời như Thanh Minh Thanh Nga, Kim Chưởng, Kim Chung. Gánh hát Hương Mùa Thu với duy nhứt tuồng tích của soạn giả Thu An và tài nghệ ca diễn của Ngọc Hương hợp cùng các nghệ sĩ giỏi nghề như Út Hiền, Hà Bửu Tân, Văn Khoe, Bo Bo Hoàng, Hoài Mỹ, Bạch Lê, v.v.. ngày một đi lên. Những vở tuồng của soạn giả Thu An như “Lá của rừng xanh”, “Sài-Gòn thác bạc”, “Tiếng súng một giờ khuya”, “Tiếng còi sa mạc”, ‘Con cò trắng”, v.v.. được trình diễn trên sân khấu và lần lượt thâu thanh cũng như phổ biến trên dĩa nhựa với số bán kỷ lục. Ở mỗi tuồng hát, dù với đề tài hương xa hay tình cảm xã hội, soạn giả Thu An đều lồng vào một tiết mục ca múa nhạc độc đáo với đội ngũ nam nữ vũ công trẻ đẹp, duyên dáng và chuyên nghiệp.




Do ảnh hưởng của chiến cuộc từ sau tết Mậu Thân, các gánh hát cải lương ở Sài-Gòn cũng như ở miền Nam hoạt động co cụm lại và gánh Hương Mùa Thu cũng không thoát khỏi ngoại lệ. Vì không thể cầm cự ở thủ đô, họ phải đi hát ở đình, ở chợ hay nơi miền tỉnh lẻ xa xôi, heo hút. Từ dạo đó, gánh Hương Mùa Thu không còn dịp nào trở lại chốn đô thành bởi phim Hong Kong đã chiếm lĩnh các rạp hát lớn nhỏ và thu hút một lượng khán giả đông đảo.
Một ngày trong năm 1972, các nghệ sĩ của gánh hát Hương Mùa Thu dồn xuống chiếc ghe máy nhỏ xíu, đứng ngồi chen chúc chạy đến cù lao Rồng thuộc tỉnh Mỹ-Tho và khi dọn tới bến Gò Công thì tuyên bố rã gánh.
Báo chí thời đó thường đưa ra ý kiến, nếu gánh hát nào đó lỡ có xuống dốc thì cũng phải trải qua bao lượt thăng trầm, hết nước ròng rồi tới con nước lớn chứ không giống như đại ban Hương Mùa Thu, từ hạng A lúc mới khai trương bảng hiệu nhưng chỉ sau một thời gian vài năm thì rơi xuống hạng B rồi C và dẫn đến tình trạng ngưng hoạt động. Soạn giả Thu An và cô đào Ngọc Hương thành danh nhờ sự “lancé” tối đa của ông bầu Ba Bản mà không trung thành với chủ nên (có lẽ) Tổ nghiệp đã thâu lại lợi lộc dẫn đến tình trạng mất hết tiếng tăm lẫn bạc tiền. Báo giới cũng góp ý rằng soạn giả Thu An đã cho tập dợt và khai trương vở tuồng “Bà Chúa ăn mày” nhân ngày kỷ niệm đệ nhứt chu niên của gánh Hương Mùa Thu là điềm gỡ báo trước sự lụi tàn trong sớm muộn. Mùa tết Mậu Thân, gánh hát Hương Mùa Thu treo bảng ở rạp Nguyễn Văn Hảo vốn là “đại bản doanh” của gánh Thanh Minh Thanh Nga hay Kim Chưởng. Mọi người đặt nghi vấn rằng soạn giả Thu An có phải là người của phía bên kia được cài lại và cố tình hát tết ở Sài-Gòn dịp này đễ dễ bề tiếp tay cho Việt cộng đột nhập thủ đô thay vì đưa gánh hát đi lưu diễn ở các tỉnh như mấy mùa tết trước đó.
Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, ông bà bầu Thu An và Ngọc Hương tưng bừng dựng lại bảng hiệu Hương Mùa Thu quy tụ nhiều nam nữ nghệ sĩ nổi tiếng như Minh Phụng, Hoài Thanh, Phương Thanh, Ngọc Hương, Bích Hạnh, v.v… Cũng như lần trước, gánh hát hoạt động sôi nổi và đạt được doanh thu cao ở thuở ban đầu. Dòng thời gian cứ lặng lẽ trôi và khó tránh được cảnh sao dời, vật đổi. Phim ảnh Hong Kong và phương Tây tràn vào Việt-Nam theo trào lưu “đổi mới” nên khán giả quay lưng với cải lương. Nhiều gánh hát tan rã và gánh Hương Mùa Thu Thu cũng nằm trong mẫu số chung đó. Cuộc sống của bầu bì, soạn giả và các nghệ sĩ hữu danh lâm vào hoàn cảnh bi đát hơn bao giờ hết. Soạn giả Thu An qua đời vì căn bệnh hiểm nghèo vào năm 2005. Nghệ sĩ Ngọc Hương vì mưu sinh phải đi hát chầu, hát ở các quán nhậu (quán nghệ sĩ) và ra đi nơi viện dưỡng lão nghệ sĩ năm 2017.
Hai cánh màn nhung đã khép lại một thời vàng son, rực rỡ nhưng đối với khán giả còn tại thế hay trung thành với sân khấu cải lương đều nhớ tới những gánh hát vang danh sau bao năm bãi bồi, bến lỡ. Riêng gánh hát Hương Mùa Thu của “anh Sáu” hay “chú Sáu” (tên mà giới nghệ sĩ và báo chí thường thân mến gọi soạn giả Thu An) đã góp phần điểm tô cho nghệ thuật cải lương miền Nam Việt-Nam “thật và đẹp” với những tuồng hay, tích lạ, lời ca trau chuốt, lời đối thoại sâu sắc của soạn giả Thu An. Con chim đầu đàn Ngọc Hương cùng dàn nghệ sĩ tài năng, yêu nghề mà hiện tại khó tìm thấy nữa cũng góp phần không nhỏ cho sự tiếng tăm và uy thế của một gânh hát đại ban. Đập nát gương xưa mà không tìm thấy bóng mới hay ngày tháng cũ đã theo thời gian mà hun hút nơi bến trời xa.
TV, 27.02.2025

