Đôi dòng kỷ niệm
GS Lưu Khôn
(Nguồn: Đặc san Petrus Ký 2002, hội Ái hữu CHS Petrus Ký Bắc California, trang 95-96)
Tôi vốn biết “cái tôi là cái đáng ghét”, nhưng đã viết về kỷ niệm bản thân thì làm sao không nói về chính mình được, mong quý vị và các bạn thông cảm.
Tôi vào học Pétrus Ký năm 1943. Lúc bấy giờ, trường sở đặt trong khu Normale, đối diện với Sở Thú đường Dr. Angier (sau đổi là Nguyễn Bỉnh Khiêm). Tôi may mắn được học section classique d’Extrême Orient (nói tắt là classique E. O, còn anh Trần Thượng Thủ hiện ở Houston học classique Métro). Giáo sư chính dạy chữ Hán và chữ Việt là giáo sư Phạm Thiều. Tuy người mảnh khảnh ốm yếu, nhưng Thầy có một giọng nói rất khỏe, Thầy rất thương học trò. Trong bulletin hằng tháng gởi về gia đình, Thầy luôn luôn nhắc nhở ba má tôi phải lo trị cặp mắt cho tôi. Tuy dạy học tại một ngôi trường khang trang, bề thế nhất tại Sàigòn, nhưng Thầy có một cuộc sống rất kham khổ. Muốn đến nhà Thầy, phải đi qua một bãi tha ma bên Bà Chiểu. Nhà Thầy bằng gỗ, trống trước trống sau. Có lần đến thăm Thầy, tôi gặp anh Cần, con trai của Thầy cũng cùng học chung lớp với tôi, sau này là sĩ quan Hải quân ở ngoài miền Bắc, đang dùng muỗng cạo khoai để nấu với tép. Phải nói, Thầy sống rất thanh bần, nhưng ngoài giờ dạy tại trường, Thầy lại dành thì giờ cho các sinh hoạt văn hóa. Còn nhớ, bài nói chuyện của Thầy tại rạp Nguyễn Văn Hảo về cụ Đồ Chiểu, tức Nguyễn Đình Chiểu, có một tiếng vang rất lớn trong lòng biết bao thanh thiếu niên lúc bấy giờ. Về sau, Thầy đã vô bưng, đã từng là Tổng Ủy Trưởng Ủy Ban Tuyên Truyền Nam Bộ, rồi Đại sứ VNDCCH tại Tiệp Khắc. Thầy vẫn không quên học trò cũ, và vào những ngày đầu tháng Năm năm 1975, Thầy đã vào Sàigòn và tìm đến thăm tôi, đặc biệt là vẫn với bộ tussor màu vàng thuở nào.
Sau khi lên 5è, tôi vẫn học tại khu Normale lúc ban ngày, nhưng để tránh bom đạn Đồng minh lúc nào cũng nhắm kho đạn và Arsenal (Hải quân công xưởng) gần đó, chúng tôi, vốn là boursier interne, được chuyển qua ngụ tại dãy ngoài trường Gia Long.
Các năm 45, 46, vì thời cuộc, tôi phải về quê lánh nạn. Cho đến gần cuối năm 47, tôi trở lên Sàigòn học tiếp, thì section classique đã bị bãi bỏ. Tôi phải xin qua học section primaire supérieure. Bấy giờ trường không còn dạy trong khu Normale và chuyển về dãy bên phải, dọc theo đường Vườn Bà Lớn, sau đổi là Phan Thanh Giản trong khu Marie Curie. Cũng lạ, Pétrus Ký rất có duyên với phái nữ! Còn nhớ, ông hiệu trưởng lúc ấy là ông Còn, và tôi phải khóc sướt mướt, phải năn nỉ ỉ ôi, mới được cho vào học lớp 3è année. Tôi ở trọ tại nhà một người bạn của tôi, người Tàu bán thịt heo tại chợ Phú Nhuận. Chỉ học buổi sáng thôi, và trên đường đi học, nhất là lúc tan học về, tôi thường lội bộ với ba bốn người bạn, trong đó có hai người bạn về sau là bác sĩ Tâm và đại tá Long.
Năm 3è année. tôi được học Pháp văn với giáo sư Di và Việt văn với giáo sư Trương.
Nghe nói, trước kia Thầy Di có dạy dưới Phan Thanh Giản Cần Thơ, và sau này về làm hiệu trưởng trung học Bình Dương, nơi quê của Thầy. Thầy Di biết võ, đi dạy thường mặc short, đi sandales. Đi dạy, thầy không đem theo gì cả, ngoại trừ bài dictée Thầy cắt sẵn trong sách và nhét trong túi áo. Năm thi Brevet, tôi đã gặp lại một trong những bài dictée ấy. Thầy thương tôi lắm, vì cho rằng tôi rất chịu khó. Thầy tỏ ra rất đắc ý khi nghe tôi định nghĩa rành rọt các figures de rhétorique (từ hoa). Những năm cuối của chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa, tôi có dịp gặp lại Thầy tại sân vận động Hoa Lư trong một đại hội thanh niên, lúc bấy giờ Thầy làm hiệu trưởng Bình Dương còn tôi làm hiệu trưởng Phan Thanh Giản Cần Thơ.
Cũng trong năm 3è année, tôi được học Việt văn với giáo sư Trương. Còn nhớ, dạy Việt văn, mà Thầy dạy rặt ròng trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương của Đào Duy Anh. Thầy Trương nói đến chủ nghĩa duy vật biện chứng (matérialisme dialectique), điều mà chúng tôi nghĩ rất dễ cám dỗ những đầu óc non nớt nhiều lý tưởng. Lúc bấy giờ, tôi đang ở trọ trong một khu lao động tại Phú Nhuận, nơi mà trời vừa sụp tối là có tiếng súng nổ lách tách ngoài đường, phải tắt đèn đi ngủ, nơi mà cứ vài hôm là lính Tây đến bố, chở hết lên xe cây xuống bót Giếng Nước (sau này là Viện Đại Học SàiGòn) để bao bố nhìn mặt, nơi mà sáng có những thây ma trôi bập bềnh dưới kinh sau nhà, có khi còn tấp lại dưới gầm cầu vệ sinh. Trong hoàn cảnh nghẹt thở như vậy, mà có dịp tôi vẫn chịu khó lội trên vỉa hè Bonard để tìm mua các sách của Éditions Sociales hoặc của Université Populaire.
Tôi còn đọc Biện Chứng Pháp của Phan Văn Hùm, và dịch các sách chủ nghĩa xã hội. Để làm gì? để đem bán cho nhà xuất bản.
Có lần, một ông chủ nhà xuất bản đã nói với tôi:
– “Cậu còn trẻ quá, dịch làm gì những loại sách này, nên dịch sách thiếu nhi thì hơn”.
Lên lớp 4è année, tôi được học Việt văn với giáo sư Nho. Thầy Nho rất giỏi cả Pháp văn lẫn Việt văn. Tôi chịu nhất nhóm từ “Vivre dans la serre familiale” Thầy đã dùng, ý nói “sống trong lồng kiếng gia đình, được nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”.
Thầy Nho cũng thương tôi lắm. Có lẽ thấy gia cảnh của tôi học 4è année mà mặc quần xà lỏn đi chân không – nên có dịp học trò biếu Thầy cái gì, Thầy đều bắt tôi phải nhận đem về.
Còn nhớ, những năm đó, học trò thường hay rải truyền đơn trong lớp, có khi còn để cả xấp trên bàn thầy nữa. Mỗi lần như thế, Thầy thường tỏ ra giận dữ và nói:
– “Các anh nên đi tìm cánh cửa nào còn đóng mà gõ”. Lúc bấy giờ, tôi chỉ mang máng hiểu tại sao thầy nói như thế, nhưng bây giờ thì tôi đã hiểu rõ.
Vào cuối tháng Sáu vừa qua, trong một buổi họp với Ban Chấp Hành và Hội Đồng Quản Trị Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Pétrus Ký Bắc Cali, để bàn về vấn đề đặc san 2002, tôi có nghe bác Lợi nhắc đến thầy Nguyễn Văn Nho đặc biệt là đến một người con trai trước kia sống ở miền Bắc VN.
Thời gian qua…
Ngoài quý thầy Phạm Thiều, thầy Nguyễn Văn Nho đã ra người thiên cổ, tôi không được biết gì thêm về quý thầy Di, thầy Trương. Thôi thì đành ngậm ngùi mà tự hỏi “Où sont les neiges d’antan?”.
GS Lưu Khôn
