Trong suốt 4 năm học ở bậc Đệ Nhứt Cấp (1953-1957), tôi và 8 người bạn chơi rất thân với nhau trong một nhóm 9 người gồm: 1) Nguyễn Thanh Hải; 2) Nguyễn Trung Hiếu; 3) Đinh Xuân Lãm; 4) Võ Văn Minh; 5) Trần Phục; 6) Phan Văn Quang; 7) Dương Xã Tắt; 8) Huỳnh Hữu Thế, và 9) Lâm Vĩnh Thế. Bài viết này cố gắng ghi lại những kỷ niệm vui buồn của bọn 9 người chúng tôi và điểm danh lại xem ai còn ai mất

Trước Ngày 30-4-1975

Lúc Còn Học Đệ Nhứt Cấp

Đến niên khóa 1956-1957, ở Lớp Đệ Tứ F, thì nhóm 9 người chúng tôi đã thật sự trở nên rất thân tình, đi chơi chung ở đâu cũng có nhau, và khi cần tập hợp lại những lúc cùng nhau ôn bài vở, hay làm các bài tập toán đại số, hình học, hoặc chuẩn bị thi Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thì luôn luôn là họp nhau ở nhà Võ Văn Minh, và trong những dịp như vậy thì Bác Gái, Má của Minh, (và sau này là nhạc mẫu của tôi vì năm 1963, sau khi tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa là em gái duy nhứt của Minh) luôn luôn cho cả đám tụi tôi ăn trưa, thường là món cà ri vịt ăn với bánh mì, và, lần nào cũng như lần nấy, tụi tôi đều ăn ào ào, Bác Gái phải tiếp tế mấy lần mới đủ cho tụi tôi ăn, và vì vậy, sau này, Minh thường gọi món ăn đó là “một món ba thau.”

Trong thời gian này, về những lần đi chơi chung với nhau, đến ngày hôm nay, năm 2024 này, tôi vẫn còn nhớ rất rõ những lần đi vô Phú Lâm mướn xuồng đi hái bần:

“Thời gian này vùng Phú Lâm, tuy đã nổi tiếng với những vườn rau xanh của người Tiều, tương đối vẫn còn có những khu đất hoang với nhiều sông rạch.  Mỗi lần đi chèo xuồng trong Phú Lâm đều là một ngày Chúa Nhựt.  Sáng sớm tụi tôi tụ tập ở nhà anh Minh.  Chuyện đầu tiên là góp tiền lại chung với nhau, mỗi đứa độ 30 hay 40 đồng, nếu có đứa nào không có đủ số tiền góp đó thì Tắt luôn luôn ứng ra thêm cho anh em.  Tắt làm chuyện này một cách thoải mái, tự nhiên, không bao giờ nề hà gì cả vì bản tánh rộng rãi.  Tắt lớn tuổi nhứt trong bọn tôi, lại có tiền nhiều vì là con nhà giàu, ba của Tắt là điền chủ lớn ở Bến Lức.  Sau khi gom tiền xong, mọi người giao cho Minh cất.  Việc đầu tiên là Minh cùng với tôi chạy xe đạp ra Chợ Đa Kao mua 4, 5 ổ bánh mì lớn, thịt nguội (ba tê, jambon), và một ít mắm sống và ớt trái.  Má Minh đã làm cho tụi tôi mấy chai nước đã nấu chín.  Sau đó, tất cả bọn tôi đạp xe vào Phú Lâm và ghé nhà Trần Văn Minh, trưởng lớp của tụi tôi, ở khu Bình Tiên, và nhờ Minh hướng dẫn đi mướn xuồng (luôn luôn mướn hai chiếc) của những nhà mà Minh quen biết.  Có khi, nếu không bận việc, thì Minh cũng đi chơi chung với tụi tôi luôn.  Tất cả tụi tôi đều cổi quần áo đang mặc ra hết, gởi lại nhà cho mướn xuồng, chỉ mặc quần cụt và áo thung, chia thành 2 nhóm nhỏ xuống 2 chiếc xuồng, mang theo các chai nước và thức ăn đã mua ở Chợ Đa Kao, và chèo vào con rạch gần nhất.  Những con rạch trong vùng này rất nhỏ, ít có ghe xuống qua lại nên rất yên tỉnh, hai bên bờ rất nhiều cây bần. Tụi tôi tìm hái những trái bần đã hơi chín, chia nhau ăn với mắm sống.  Ăn đả rồi thì cả bọn xuống sông bơi lội thỏa thích; có khi chia hai phe chọi bùn với nhau.  Đến trưa thì bọn tôi tìm một bãi có cát, cặp xuồng vào, và mang các thức ăn đã mang theo cùng nhau ăn trưa.  Trong lúc ăn trưa thì mặc sức mà kể cho nhau nghe những chuyện vui, toàn chuyện bạn bè trong lớp, trong trường, chuyện các thầy cô và các giám thị.  Sau khi nghĩ trưa một lúc, bọn tôi lại xuống xuồng chèo đi, lại kiếm bần ăn nữa, và lại xuống rạch bơi lội.  Khoảng hơn 4 giờ chiều thì quay trở lại, trả xuồng, mặc quần áo lại và đạp xe về.  Tối hôm đó, khi nằm ngủ, lần nào tôi cũng bị cái cảm giác cái giường lắc qua lắc lại, giống như ở trên xuồng lúc ban ngày.” [1]

Ngoài mấy lần đi chèo xuồng hái bần ở Phú Lâm đó thì còn một lần đi chơi chung đầy đủ cả nhóm nữa: đó là lần đi Vũng Tàu bằng Du Thuyền Bạch Tuyết.  Lần đi chơi chung này xảy ra vào khoảng đầu năm 1956, lúc bọn tôi đang học Lớp Đệ Ngũ (niên khóa 1955-1956).  Thời gian này là sau khi Đại Tá Dương Văn Minh đã đánh dẹp xong Bình Xuyên (sau đó ông Minh được thăng lên cấp Thiếu Tướng; lúc đó chưa có cấp Chuẩn Tướng), và đường thủy từ Sài Gòn ra Vũng Tàu, bằng sông Sài Gòn và sông Lòng Tảo, đã được khai thông.   Một người quen thân với gia đình Minh, Cô Hai Bạch Tuyết, chủ nhân của Du Thuyền Bạch Tuyết, đã cùng với gia đình cô đứng ra tổ chức những chuyến du ngoạn thương mại bằng đường thủy từ Sài Gòn ra Vũng Tàu rất thành công.  Bọn 9 đứa chúng tôi đã được tham gia miễn phí một chuyến du ngọan đó vào một ngày Chúa Nhựt.  Buổi chiều Thứ Bảy trước đó, 5 đứa trong bọn tôi gồm Tắt, Lãm, Phục, Thế Huỳnh và Thế Lâm đã tụ họp ở nhà Minh và được Bác Gái, Má Minh cho ăn cơm tối.  Tối đó cả bọn 6 đứa chúng tôi (thêm cả Minh luôn) ngủ chung với nhau ở nhà trên, trên nền nhà gạch bông có trải chiếu, ngay trước bàn thờ Phật của nhà Minh.  Sáng hôm sau, ba tên còn lại, Hải, Hiếu, Quang, và thêm một bạn Lớp Đệ Ngũ F nữa là bạn Dương Văn Triệu (với biệt danh mà bọn tôi đặt cho là Triệu Đà), đến sớm và cả bọn lần này là 10 đứa lại được Bác Gái cho ăn sáng với bánh mì và hột gà ốp-la.  Ngày hôm đó bọn tôi đã có trọn một ngày thật vui vẻ bên nhau.  Tôi vẫn còn nhớ ngày hôm đó, Nhơn Nghĩa cũng đã rủ một số bạn gái cùng đi chơi chung, và, dĩ nhiên, bọn con trai chúng tôi cũng rất thích.  Tôi gần như tin chắc rằng chính từ cuộc đi chơi bằng Du Thuyên Bạch Tuyết này mà Lãm đã để ý và làm quen với Minh Lệ lần đầu (sau này khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa thì Lãm là rể phụ của tôi và Minh Lệ là dâu phụ của Nhơn Nghĩa; sau đám cưới tụi tôi thì Lãm và Minh Lệ yêu nhau và đi đến hôn nhân; Lãm và Minh Lệ đã có được 2 đứa con trai và sống thật hạnh phúc bên nhau cho đến khi Lãm mãn phần vào ngày 21-6-2011). 

Những Thay Đổi Khi Lên Đệ Nhị Cấp

Sau khi đậu Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, bắt đầu học lên bậc đệ nhị cấp, bọn 9 người chúng tôi bắt đầu có những thay đổi không tránh được.   Một số bạn rời Trường Petrus Ký: Trần Phục đậu vào Trường Cán Sự Y Tế, Dương Xã Tắc thì đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm (QGSP), Nguyễn Trung Hiếu thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Thủ Đức.  Nguyễn Thanh Hải, Đinh Xuân Lãm, Phan Văn Quang và tôi ở lại học các lớp Đệ Tam của Trường Petrus Ký.  Hải và tôi học Ban A (Vạn Vật), còn Lãm và Quang thì học Ban B (Toán).  Riêng Huỳnh Hữu Thế thì là một trường hợp hết sức đặc biệt.  Sau khi thi đậu xong bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp như cả bọn tôi thì Thế đậu luôn bằng Tú Tài I Ban B, và kết quả là tựu trường niên khóa 1957-1958, trong khi tụi tôi lên lớp Đệ Tam thì Thế lên lớp Đệ Nhứt.  Vì chuyện học nhảy này, Thế không được ở lại Trường Petrus Ký nữa mà phải xin vào học lớp Đệ Nhứt của Trường Chu Văn An.  Cuối năm đó, Thế thi đậu luôn bằng Tú Tài II Ban B và sau đó đậu luôn kỳ thi tuyển vào Ban Toán của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn ĐHSPSG).  Thế là vào đầu năm học 1958-1959 trong khi bọn tôi lên Lớp Đệ Nhị để chuẩn bị thi Tú Tài I vào cuối năm thì Thế đã là sinh viên năm thứ nhứt tại Trường ĐHSPSG.  Nhưng thật là bất hạnh, chỉ một thời gian ngắn sau đó, Thế lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn (nào bịnh tật, nào chuyện đau buồn trong gia đình) khiến cho việc học hành bị trì trệ và mãi đến năm 1964 Thế mới tốt nghiệp được ĐHSPSG.

Lên Đại Học, Vào Quân Trường và Vào Đời

Năm 1960, tôi đậu Bằng Tú Tài 2 và sau đó đậu luôn kỳ thi tuyển vào Trường ĐHSPSG, Ban Sử Địa.  Lãm tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt (VBĐL), Khóa 17.  Hai năm sau, Quang cũng tình nguyện vào Trường VBĐL, Khóa 19, và Hải tình nguyện vào Không Quân, Khóa 62C.           

Hè 1963, tôi tốt nghiệp ĐHSPSG, và đầu tháng 10, tôi được bổ nhiệm về dạy hoc tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa, và tôi đã dạy học ở đó trong 3 năm (1963-1966).  Trước khi đi nhận việc ở Kiến Hòa, ngày 6-10-1963, tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa. 

Lúc đó Lãm đã tốt nghiệp Khóa 17 VBĐL, là một Thiếu Úy thuộc Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC).  Đơn vị của Lãm vừa thắng lớn tại Trận Đầm Dơi [2] nên Lãm được đi phép về Sài Gòn, và nhờ vậy Lãm đã cùng với Thế Huỳnh, hãy còn đang học năm cuối Ban Toán của ĐHSPSG, là hai trong bốn chàng rể phụ của tôi:

Hình đám cưới của tôi – Lãm đứng ở bìa trái, Thế đứng phía sau, giữa cô dâu và chú rể

Về phần Quang, sau khi tốt nghiệp Khóa 19 VBĐL, Quang tình nguyện về Trung Đoàn 48 Biệt Lập, bị thương năng, ra Hội Đồng Giám Định Y Khoa, được xếp vào Loại 2, và sau cùng về phục vụ tại Quân Vụ Thị Trấn Sài Gòn – Gia Định cho đến ngày 30-4-1975. 

Còn Hải thì năm 1964, “Hải tốt nghiệp khóa huấn luyện phi công trực thăng tại Hoa Kỳ, và mang đôi cánh bạc về nước phục vụ trong Phi Đoàn Trực Thăng 217 Thần Điểu, Không Đoàn 64 Chiến Thuật, Sư Đoàn 4 Không Quân tại Cần Thơ.” [3]

Chính trong thời gian này, năm 1965, nhóm 9 người bạn thân chúng tôi phải chịu cái đau buồn sinh ly tử biệt đầu tiên trong đời: Dương Xã Tắt tử trận tại Bến Lức.  Trong 9 người bọn tôi, Tắt lớn tuổi nhứt và cũng to con nhứt, tánh tình thì hiền lành, dễ thương, và rộng rãi như đã có nói ở trên.  Sau khi tốt nghiệp Trường QGSP, Tắt được bổ về dạy tại Trường Tiểu Học Bến Lức.  Sau đó Tắt bị động viên vào Thủ Đức, lúc ra trường nhờ gia đình vận động Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân tại Bến Lức.  Tưởng như vậy là Tắt được mang chữ “Thọ” rồi.  Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Công, Tắt bị thương, và vì không được tải thương kịp thời, Tắt mất máu quá nhiều nên không cứu được.  Lúc đó vợ Tắt đang có bầu 6 tháng đứa con đầu lòng.  Lúc đó tôi đang bận gát thi Tú Tài I ở Cần Thơ nên không đến dự đám tang của Tắt được.  Chỉ có Minh đại diện bọn tôi đến dự tám tang của Tắt.

 Tháng 9-1966 tôi được thuyên chuyển về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức và tháng 8-1971 tôi được học bổng của USAID (United States Agency for International Development) đi du học Hoa Kỳ trong 2 năm tại Trường Thư Viện Học của Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University), và tốt nghiệp vào tháng 5-1973 với Bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science – MLS).  Về nước, tôi ứng cử và đắc cử chức vụ Chủ Tịch Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN) hai nhiệm kỳ 1974 và 1975.  Với tư cách Chủ Tịch HTVVN, tôi đã được các hội đoàn văn hóa tư bầu vào Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục (là một trong 3 hội đồng do Hiến Pháp VNCH 1967 thiết lập; 2 hội đồng kia là Hội Đồng Kinh Tế – Xã Hội, và Hội Đồng Các Sác Tộc), Nhiệm Kỳ II (1974-1977), do Phó Tổng Thống Trẩn Văn Hương làm Chủ Tịch.  Sau đó, tôi được Viện Đại Học Vạn Hạnh cử nhiệm làm Giáo Sư Trưởng Ban, Ban Thư Viện Học, thuộc Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn dưới quyền Khoa Trưởng của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, cho đến ngày 30-4-1975. [4] 

Cũng trong khoảng thời gian này, Hải lần lượt thăng cấp và năm 1970, Hải đã mang lon Đại Úy, với chức vụ Phi Đoàn Phó, Phi Đoàn Trực Thăng 217, dưới quyền Phi Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Trương Thành Tâm (tốt nghiệp Khóa 16 VBĐL).  Năm 1971, Hải thăng cấp lên Thiếu Tá và được cử đi Mỹ làm Sĩ Quan Liên Lạc hướng dẫn một nhóm sinh viên sĩ quan phi công đi học lái phi cơ trực thăng tại tiểu bang Georgia.  Sau nhiệm kỳ một năm, Hải về nước, sau đó thăng cấp lên Trung Tá, giữ chức vụ Thanh Tra về An Phi thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân tại Tân Sơn Nhứt cho đến ngày 30-4-1975.

Về phần Lãm, sau chiến thắng Đầm Dơi, Lãm tiếp tục tham dự một số trận đánh lớn của binh chủng TQLC, như Trận Đức Huệ ở Hậu Nghĩa (tháng 11-1963), Trận Phụng Dư ở Bình Định (tháng 4-1965; sau trận này Tiểu Đoàn 2 TQLC chính thức mang danh hiệu Trâu Điên).  Theo đúng quy chế của Trường VBĐL, sau khi ra trường 2 năm, Lãm thăng cấp lên Trung Úy.   Cuối tháng 6-1966, trong trận Phò Trạch ở Quảng Trị, Tiểu Đoàn 2 TQLC bị phục kích, Tiểu Đoàn Trưởng là Trung Tá Lê Hằng Minh tử trận, chính Trung Úy Đinh Xuân Lãm, lúc đó là Đại Đội Trưởng Đại Đội 3, đã có công lớn trong việc tổ chức phản phục kích thành công, đẩy lui được địch quân. [5] Sau trận Phò Trạch, Lãm thăng cấp lên Đại Úy, và sau một thời gian, Lãm được đề cử lên làm Trưởng Ban 3 (phụ trách về hành quân) của Tiểu Đoàn 2 TQLC.  Cấp bậc và chức vụ cuối cùng của Lãm, vào ngày 30-4-1975, là Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16 TQLC, thuộc Lữ Đoàn 468 tân lập dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đằng Tống (từ ngày 22-4-1975, thay thế Đại Tá Ngô Văn Định được điều động về chỉ huy Lữ Đoàn 147).

Sau Ngày 30-4-1975

Vì nhiều lý do khác nhau, cả nhóm 9 người bọn tôi đều đã bị kẹt lại tại Việt Nam sau ngày 30-4-1975.  Trước khi phải đi trình diện học tập cải tạo theo lệnh của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn – Gia Định, bọn tôi, lúc đó chỉ có 5 người có mặt tại Sài Gòn là “Phục, Lãm, Hải, Minh và tôi, kéo nhau đi nhậu một trận để chia tay tại quán Thanh Tuyền trên đường Nguyễn Cư Trình, gần bến xe đò Miền Đông.  Cứ tưởng là xa nhau vài tháng thôi, đâu ngờ đến 17 năm sau mới được gặp lại nhau tại Hoa Kỳ vào Mùa Thu của năm 1992.” [6]

Một thời gian ngắn sau đó, Trần Phục mang gia đình đi vượt biên thành công, được Mỹ nhận, và định cư tại thành phố Anaheim, Nam Cali.

Tháng 9-1981, tôi mang gia đình rời Việt Nam đi định cư tại Canada do Anh Tư của tôi bảo lãnh.  Nửa năm đầu, vì chưa tìm được việc làm đúng với nghề chuyên môn thư viện, tôi phải làm lao động chân tay nặng nhọc trong một kho hàng.  Từ tháng 4-1982, sau khi tìm được việc làm đầu tiên, tuy chỉ là hợp đồng, nhưng đúng ngành chuyên môn thư viện, tại Thư Viện Trung Ương của Bộ Canh Nông của Chính phủ liên bang Canada tại thủ đô Ottawa, đời sống của gia đình tôi dần dà được ổn định. 

Đầu năm 1985, tôi rất vui mừng được tin Thế Huỳnh đã vượt biên thành công với đứa con trai và đã định cư tại thành phố Newport, tiểu bang Connecticut, Hoa Kỳ.   Hè năm đó, tôi lái xe đưa bà xã tôi và Trung, đứa con trai nhỏ của tụi tôi, sang Newport thăm hai cha con Thế.  Trước khi trở về Canada, chúng tôi đi thăm Trường MIT (Massachusetts Institute of Technology) tại Boston và chụp chung với nhau tâm ảnh sau đây:

Đại Học MIT, Boston, Hè 1985 – Từ trái qua: một người bạn của Thế, Trung, vợ chồng tôi, và hai cha con Thế

Năm sau tôi càng mừng hơn vì Thế báo cho hay tin là bà xã Thế cũng đã vượt biên thành công và đã sang đến Hoa Kỳ đoàn tụ với hai cha con Thế.  Sau đó chúng tôi tiếp tục giữ liên lạc chặt chẽ với nhau.

Đến đầu thập niên 1990, các cựu sĩ quan cấp tá của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) đã học tập cải tạo trên 10 năm ở ngoài Bắc lần lượt được thả về.  Võ Văn Minh đã tổ chức một buổi nhậu tại nhà quy tụ được một số bạn Lớp Đệ Tứ F cũ như trong tấm ảnh sau đây do Minh gởi qua Canada cho tôi:

Buổi nhậu ở nhà Võ Văn Minh – Từ trái qua: Nguyễn Văn Phơi, Hà Kim Phước, Nguyễn Thanh Hải, Vỏ Văn Minh, Phan Văn Long, Phan Văn Quang, và Đinh Xuân Lãm.

Tháng 5-1990, Chính phủ Mỹ bắt đầu chương trình HO (Humanitarian Operation) để giúp các cựu sĩ quan QLVNCH có thể được đi định cư tại Hoa Kỳ.  Các bạn Hải (Trung Tá Không Quân), Lãm (Thiếu Tá TQLC) và Quang (Thiếu Tá Biệt Động Quân), với ưu tiên cao vì là sĩ quan cấp tá của QLVNCH đã bị chính quyền Cộng sản giam giữ hơn 10 năm trong các trại cải tạo ở Miền Bắc, đã lần lượt được Chương Trình HO này chấp thuận và cho phép đi định cư tại Hoa Kỳ.

Đầu năm 1992, tôi rất vui được tin Đinh Xuân Lãm đã rời Việt Nam đi định cư tại San Jose, Bắc California. Tôi báo tin vui này cho Thế Huỳnh và Trần Phục.  Sau đó, bốn đứa chúng tôi giữ liên lạc rất chặt chẽ với nhau.  Hè 1992, Phục báo tin và mời bọn tôi đến dự đám cưới.đứa con gái lớn vừa tốt nghiệp bác sĩ.  Đúng là “song hỉ lâm môn” cho gia đình Phục.  Ba đứa bọn tôi, Lãm, Thế Huỳnh và Thế Lâm, bàn với nhau và quyết định cùng nhau đi xuống Anaheim để mừng cho Phục và gia đình.

Thế Huỳnh sẽ bay thẳng từ Newport, Connecticut xuống Anaheim, Nam Cali.  Phần tôi, tôi sẽ bay từ Toronto xuống San Jose, Bắc Cali, rồi mướn một xe hơi, đến nhà Lãm để chở vợ chồng Lãm và đứa con trai nhỏ đi xuống Anaheim.

Gặp lại nhau sau 17 năm, Lãm và tôi đã nói chuyện suốt trong chuyến đi từ San Jose xuống Anaheim.  Đến nhà Phục vào khoảng gần 2 giờ sáng, bốn đứa bọn tôi, Lãm, Phục, Thế Huỳnh và Thế Lâm lại tiếp tục nói chuyện đến gần 5 giờ sáng.  Bà xã Phục phải giục bọn tôi ngưng câu chuyện, cố gắng ngủ một vài tiếng đồng hồ để 9 giờ còn phải dậy lo sắp xếp nhà cửa vì bên đàng trai sẽ đến rước dâu vào khoảng 11 giờ.   Sau khi sắp xếp xong, bọn tôi ra trước nhà Phục chụp chung một tấm ảnh làm kỷ niệm:

Ảnh chụp trước nhà Phục Hè 1992 – Từ phải qua: Lãm, Thế Huỳnh, Phục, và Thế Lâm

Hè năm sau, vợ chồng Phục và vợ chồng Thế Huỳnh sang Hamilton, Ontario, Canada để thăm và ở chơi với vợ chồng tôi mấy ngày, và nhờ vậy chúng tôi đã có được tấm ảnh chụp chung cả 6 người tại phòng khách nhà tôi:

Hình chụp ở phòng khách nhà tôi Hè 1993 – từ trái qua: vợ chồng Thế, vọ chồng Phục và vợ chồng tôi

Trong thời gian ở Hamilton, vợ chồng tôi đã đưa vợ chồng Thế Huỳnh và vợ chồng Trần Phục đi thăm vườn hoa nổi tiếng của Canada là Royal Botanical Garden tại thành phố Burlington, kế bên Hamilton, và, nhờ vậy, tôi đã có được hai tấm ảnh chụp chung với Thế và Phục:

Thế Huỳnh và Thế Lâm – Royal Botanical Garden, Hè 1993

Phục và tôi — Royal Botanical Garden, Hè 1993

Bây giờ, mỗi lần xem lại tấm ảnh ở trang 8, chụp trước nhà Phục Hè 1992, tôi đều không cầm được nước mắt.  Cả 3 bạn Thế Huỳnh, Lãm và Phục đều đã vĩnh viễn rời bỏ bạn bè: Thế Huỳnh mất ngày 29-10-2006; Lãm mất ngày 21-06-2011; và Phục mất ngày 21-12-2018.

Về phần Hải, cũng trong năm 1992, Hải và gia đình cũng được đi Mỹ theo diện HO, và định cư tại Lansing, tiểu bang Michigan.  Được tin này, tôi rất mừng cho Hải vì tại Lansing lúc đó đã có gia đình Huỳnh Hữu Hân định cư từ 1975.  Hân có vợ là Judy, người Mỹ; Hân và Judy gặp nhau, yêu nhau và lấy nhau lúc cùng du học tai Tân Tây Lan.  Hân, Hải và tôi là bạn thân lúc còn học ở bậc đệ nhị cấp tại Petrus Ký.  Như vậy gia đình Hải sẽ có được sự giúp đỡ của Hân ngay từ đầu tại nơi định cư.  Hè năm đó, tôi lái xe đưa bà xã tôi cùng sang Lansing để thăm vợ chồng Hải.   Mấy năm sau, nghe tin vợ chồng Hải đã mua được nhà, vợ chồng tôi lại sang Lansing để mừng nhà mới của vợ chồng Hải.  “Năm sau nữa, Nguyễn Trung Hiếu cũng sang được Mỹ theo diện HO và, may mắn thay, cũng lại định cư tại Lansing.  Tôi lái xe sang thăm Hải và Hiếu và có được một buổi nhậu tay ba tại nhà Hải như trong tấm ảnh sau đây:” [7]

Buổi nhậu với Hải và Hiếu tại nhà Hải ở Lansing.

Hè 1997, vợ chồng tôi làm đám cưới cho Trung, đứa con trai nhỏ của vợ chồng tôi, tôi gởi thiệp báo tin và mời vợ chồng Hải qua Hamilton để dự đám cưới, và bọn tôi lại có được tấm hình chụp chung tại đám cưới của vợ chồng Trung-Quân như sau:

Đám cưới Trung-Quân – Vợ chồng Hải, số 2 và 3 hàng ngồi, từ trái qua

Sau đám cưới, vợ chồng Hải còn ở lại chơi mấy ngày, và tôi đã đưa Hải đi viếng vườn hoa Royal Botanical Garden, và tôi và Hải đã có được tấm ảnh chụp chung sau đây:

Hải và tôi tại vườn hoa Royal Botanical Garden – Hè 1997

“Năm năm sau, 2012, được tin gia đình Hải sắp dọn nhà sang California, vợ chồng tôi đã lái xe sang thăm vợ chồng Hải.  Chúng tôi ở chơi với vợ chồng Hải 3 ngày.  Đêm cuối, trước khi vợ chồng tôi trở về Canada, vợ chồng Hải đã đải vợ chồng tôi món cá nướng cuốn bánh tráng rau sống ngon quá xá, và chúng tôi đã có được một bữa cơm tối ngon lành, đậm đà hương vị quê hương, và đậm tình bạn thân thiết, nhưng thật không ngờ đó là những giờ phút cuối cùng Hải và tôi còn được ngồi bên nhau như trong tấm ảnh bên dưới đây:    

Vợ chồng Hải và vợ chồng tôi tại bàn ăn ở nhà Hải.

Sau khi vợ chồng Hải dọn nhà sang Modesto, Bắc California, tụi tôi không còn có dịp gặp nhau nữa, chỉ thỉnh thoảng gọi điện thoại thăm nhau thôi.  Cả 2 đứa tụi tôi đều đã bước vào tuổi “thất thập cổ lai hy” hết rồi, và sức khỏe mỗi năm một yếu thêm nhiều.  Tháng 3-2018, tôi nghĩ đã đến lúc phải ghi lại những kỷ niệm của thời niên thiếu của bọn tôi nên đã viết bài “Nhớ về nhóm bạn thân các năm Đệ Nhứt Cấp tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký.”  “Sau khi viết xong bài viết này tôi đã in ra và gởi đến 4 người bạn còn tại thế và đang sống tại Hoa Kỳ: Hải, Hiếu, Phục và Quang.  Hiếu và Quang đã điện thoại báo tin cho hay nhận được bài viết và tụi tôi lại được dịp cùng nhau nhắc lại các kỷ niệm ngày trước.  Chờ mãi không thấy Hải và Phục báo tin gì cả, tôi đâm nghi và lo.  Tôi gọi điện thoại thì mới hay cả Hải và Phục đều có vấn đề sức khỏe và ra vô nhà thương mấy lần rồi.  Đầu tháng 12-2018, tôi lại gọi điện thoại thăm Phục và được bà xã Phục cho biết không còn hy vọng nữa, và gia đình đã chuẩn bị mọi việc, kể cả tinh thần.  Ngày 21-12-2018, Phục vĩnh viễn ra đi.  Tôi lại mất thêm một người bạn thân nữa.” 

Trong thời gian 5 năm vừa qua, Hải đã bị tai biến mạch máu não vài lần, cùng với căn bệnh ung thư phổi, sức khỏe Hải ngày càng kém.  Giữa tháng 9-2023, bà xã Hải gọi cho tôi để báo tin là Hải đã nằm một chỗ rồi.  Với tuổi 82, và đôi chân rất yếu, tôi đã lâm vào cảnh “lực bất tòng tâm,” muốn đi thăm Hải lắm mà đành chịu không thể đi được. [8] Sáng sớm ngày 22-09-2023, cựu Trung Tá phi công trực thăng Nguyễn Thanh Hải của Không Quân VNCH đã cất cánh bay phi vụ cuối cùng về Cõi Vĩnh Hằng.   

Về phần Võ Văn Minh, khi mang gia đình rời Việt Nam đi định cư tại Canada vào tháng 9-1981, tôi cứ nghĩ rằng sẽ không bao giờ còn gặp lại Minh nữa.  Tôi đã lầm.  Từ đầu thập niên 1990 trở đi, để thoát cảnh có thể bị sụp đổ về kinh tế, chính quyền Công sản của Việt Nam đã thay đổi chính sách và mở rộng cửa cho phép Việt Kiều về thăm quê hương.  Tấm ảnh bên dưới đây là lần đầu tiên tôi về Việt Nam vào tháng 3-1998 để dự Hội Nghị Quốc Tế về Công Nghệ Thông Tin (NIT’ 98: 10th International Conference on New Information Technology, 24-26 March 1998, Hanoi, Vietnam).  Sau khi xong hội nghị, tôi đã vào Sài Gòn, và đã gặp lại Minh sau 17 năm xa cách:

Minh và tôi tại nhà Minh ở Sài Gòn – Cuối Tháng 3-1998

Sau đó, vợ chồng tôi đã về Việt Nam nhiều lần để thăm gia đình.  Đầu năm 2018, được tin Minh bệnh nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để về Việt Nam, nhưng vẫn không kịp.  Minh đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 3-2-2018.  Chúng tôi chỉ về kịp để cúng cho Minh 2 cái Thất tại Chùa Già Lam trong Gia Định.

Thay Lời Kết

Nhóm bạn thân của tôi gồm 9 người của thời Trung Học Đệ Nhứt Cấp tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký (1953-1957) đã mất đi 6 người rồi: 1) Dương Xã Tắt ra đi năm 1965; 2) Huỳnh Hữu Thế ra đi ngày 29-10-2006; 3) Đinh Xuân Lãm ra đi ngày 21-06-2011; 4) Võ Văn Minh ra đi ngày 3-02-2018; 5) Trần Phục ra đi ngày 21-12-2018, và 6) Nguyễn Thanh Hải ra đi ngày 22-09-2023.  Bây giờ chỉ còn lại 3 người: 1) Phan Văn Quang hiện sống tại Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ; 2) Nguyễn Trung Hiếu, sống tại San Diego, tiểu bang California, Hoa Kỳ; và, 3) Lâm Vĩnh Thế sống tại Hamilton, tỉnh bang Ontario, Canada.  Một ngày nào đó, tất cả bọn 9 người chúng tôi cũng sẽ gặp lại nhau như những năm đầu của thập niên 1950 dưới mái trường Petrus Ký thân yêu.

GHI CHÚ

1. Nhớ Về Nhóm Bạn Thân Các Năm Đệ Nhứt Cấp Tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế: Nhớ Về Nhóm Bạn Thân Các Năm Đệ Nhứt Cấp Tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký (tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com)

2. Ngô Văn ĐịnhChiến thắng Đầm Dơi (10/9/1963) trong sách Tuyển tập 2: Hai mươi mốt năm chiến trận của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam (1954-1975).  Santa Ana, Calif.: Tổng Hội TQLCVN Tại Hoa Kỳ, 2005.  Tr. 46-55.

3. Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa điểm Internet sau đây: Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế: Tình Bạn Giữa Hải và Tôi (tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com)

4. Duyên nợ của tôi với Đại Học Vạn Hạnh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa điểm Internet sau đây: Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế: Duyên Nợ Của Tôi Với Đại Học Vạn Hạnh (tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com)

5. Tôn Thất Soạn.  Trận phản phục kích Phò Trạch (29/6/1966) trong sách Tuyển tập 2: Hai mươi mốt năm chiến trận của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam (1954-1975). Tài liệu đã dẫn bên trân, tr. 118-134.

6. Nhớ Về Nhóm Bạn Thân Các Năm Đệ Nhứt Cấp Tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, tài liệu đã dẫn bên trên.

7. Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu đã dẫn bên trên.

8. Tình bạn giữa Hải và tôi, tài liệu đã dẫn bên trên.