Dem bua chu – Ngo Nguyen Dung

Trong chuyến đi thu góp lương nông thường niên của giới tá điền sau vụ lúa cận Tết năm ấy, ông Lê giắt theo một khẩu súng lục, kín đáo lận trong lưng quần ka-ki. Sau khi tới nơi và được toàn thể tá điền hân hoan chào đón, một bữa tiệc được dọn ra trong ngôi nhà chung dành riêng cho những dịp lễ lạc quan trọng. Một con heo và vô số gà vịt bị xẻ thịt. Ngoài ra, để thết đãi những vị thượng khách nầy, một món đặc sản theo mùa được chế biến: Chuột đồng nướng ăn kèm mắm bò hóc, một loại nước chấm làm từ mắm cá đồng bằm nhuyễn với thật nhiều ớt. Rượu đế được đem ra. Ngấp nghé một trăm thành viên thuộc giới tá điền gần xa tới dự tiệc. Không khí bữa tiệc vui vẻ và trịnh trọng, nhưng khác thường. Ông Lê được đám đàn ông tửu lượng mạnh mời rượu không ngừng, thứ rượu làm tăng khẩu vị, nhuận trường và tráng dương, đúng tiêu chuẩn “nam vô tửu như kỳ vô phong”. Chỉ một lúc sau, ông Lê thấy người khó chịu. Người ông xuất hạn dầm dề. Đã vài lần ông lén nhổ ra những món ăn có mùi vị khó tả, như thể bị thiu, vô khăn mù-xoa, đặt xuống chiếu. Mặc dù cửa sổ mở bung, nhưng ông vẫn thấy bầu không khí ngột ngạt, bức bối. Bất chợt ông khó thở, da dẻ xanh dờn như xác chết và mửa thốc mửa tháo từng chặp. Sau một tiếng xin lỗi ngắn gọn, trước những tia mắt ái ngại của mọi người, ông được trạo phu dìu ra ghe. Trong lườn ghe có mái che đan lá chằm, lập tức ông được bà Từ Phụng thời xuân sắc thoa dầu nóng và thận trọng cạo gió, một phương pháp trị liệu cổ truyền cho những chứng bệnh cấp tính, bằng món nữ trang móc dây chuyền hình Phật. Trạo phu hối hả đi pha một ấm trà dưỡng sinh. Tiếng rên của ông Lê dịu xuống, cho tới khi ông chìm vào giấc ngủ. Trong cơn chập chờn lúc ngồi canh giấc khuya cho chủ, bất chợt người tớ gái bật thức bởi một chuỗi âm thanh đục ngầu, như thể có ai ném gạch đá xuống lòng sông. Cô cầm đèn dầu bước ra khoang thuyền. Trong luồng trăng mờ ảo, một dáng người nhỏ nhắn đứng trên bờ. Một đứa nhỏ.

“Cô, cô ơi…!”, đứa nhỏ gấp rút gọi nhỏ, âm giọng Khờ-me. “Cô cầm lấy thứ nầy chữa bệnh cho ông chủ, má tui biểu vậy.”

Cô vội vàng bước lên, đón lấy một gói nhỏ được quấn lá chuối. Thằng nhỏ bận mỗi cái quần xà lỏn cất giọng thều thào, hấp tấp giải thích: “Ông chủ bị đầu độc. Cô đem thứ nầy nấu với chút nước, cho ông uống. Cô đừng sợ, khi thấy ông ói mửa mật xanh mật vàng nghe!”

“Người ta đầu độc ông chủ chi vậy?”, cô thắc mắc.

“Á, ai biết đâu…”, cậu nhỏ mau mắn, vừa rắp tâm bỏ chạy như sợ bị ai bắt gặp, đoạn đứng lại. “Xém chút quên. Má tui còn dặn, đưa cho cô cái nầy. Cô đem đốt nó chung với miếng vải ra tro, để trừ tà. Má nói cô làm liền.”

Nói rồi, cậu nhỏ dúi lẹ vô tay cô một vật cứng, nhoẻn cười ngó cô. Trong vũng trăng lờ nhờ bạc thếch, hai chiếc răng nanh lớn lạ thường của cậu nhỏ lấp lánh sắc trắng vỏ sò và hai mắt cậu sáng rực lân tinh như hai mắt mèo rừng. Cô cúi nhìn một thoáng ngờ vực lòng tay xòe rộng run rẩy. Khi cô ngẩng đầu, thằng nhỏ biến đâu mất, như thể vừa bị bóng đêm hoang dã nuốt chửng từ lúc nào. Cô lạnh người ngó quanh. Một luồng gió thốc qua rặng cây soi bóng lòe nhòe đen đủi lên trời đêm. Tiếng lao xao thoảng qua như lời than van của những oan hồn vô tội chưa được đầu thai, dự báo thời tiết chuyển mình. Cô đảo nhìn quanh quất, không tin ở mắt mình, khi thấy hiện tượng thiên nhiên diễn ra trước mắt. Một vùng sáng nhen lửa tản mác muôn hướng theo cơn gió thốc, rồi chậm chạp rơi xuống và lụn tắt trong lùm cây âm u. Có phải đó là bầy đom đóm vừa bị thiên nhiên xua đuổi vào cõi chết? Hay đó là muôn vì tinh tú vừa bị bứt rời khỏi cõi trời quê hương?

“Tui khởi dầm được chưa, cô Phụng?”    

Cô gái vừa kịp ngăn tiếng hét thất thần, khi nhận ra giọng nói của trạo phu. “Khởi dầm đi chú, trước khi trời sáng.”

Trên đường về, trạo phu kể cho cô nghe chuyện, dạo gần đây, giới tá điền nơi nầy hung hăng thấy rõ. Có ai đó đã nói cho họ biết rằng, vài trăm năm trước đây vùng đất nầy thuộc về họ, cho tới khi bị bọn An-nam xâm lược từ phương bắc dùng vũ lực chiếm đoạt. Không phải chỉ riêng đàn ông, mà ngay cả người già, phụ nữ và trẻ con đều bị chúng băm vằm man rợ, nhằm mục đích tiêu diệt cả một dân tộc. Chỉ một nhóm người tránh khỏi cuộc tàn sát, nhờ kịp thời đào thoát ra một hòn yến nằm trong vịnh Ngàn Cá Mập. Mãi tới lúc hoàng đế nhà Nguyễn lên ngôi, họ mới được ân xá và được phép trở lại đất liền.

“Tội nghiệp lũ người bần cùng nầy quá! Không biết cảm giác mất quê hương ngay trên đất nước mình nó ra sao nữa”, trạo phu thở dài xót xa.

“Chú có biết món đồ của thằng nhỏ đưa tui khi nãy là thứ gì không?”, cô Từ Phụng hỏi và đưa cho trạo phu gói vải con.

Trạo phu cầm lấy, đưa tay vặn sáng tim đèn dầu và tháo bọc vải. Một thanh gỗ. Chú ngắm nghía một đỗi trong vũng sáng lòe nhòe. Khúc gỗ dài khoảng ngón tay, theo mùi hương thì nó được đẽo từ gỗ trầm, ngó tựa như xác ướp. Thanh gỗ được quấn cẩn thận trong một mảnh khăn dệt sợi bông vải. Bên trái thấy quệt một chấm đỏ. Với người tớ gái, chiếc khăn tay là một điều lạ lùng, bởi vì nó không phải là thứ được người dân xứ nầy sử dụng thường ngày, lẽ đó cô xem xét nó kỹ lưỡng. Giữa miếng vải là hai dòng chữ Khờ-me viết bằng mực đỏ. Ở một góc khăn là mấy chữ thêu chỉ đỏ, rõ ràng là chữ tắt tên họ ông Lê.

“Thanh gỗ nầy chắc là bùa hộ mạng hoặc là hình tượng trù ếm. Còn hai hàng chữ có lẽ là mấy câu thần chú”, trạo phu giải thích, sau khi chú thử đọc vấp váp dòng chữ. “Tui cũng không dám chắc, cô à!”, chú nói thêm.

“Nó có nghĩa gì vậy?”

“Tui chỉ hiểu được vài chữ thôi cô. Một chữ hình như là ‘vong hồn’ và chữ khác là ‘diệt trừ’ thì phải”, trạo phu lưỡng lự.

“Người ta dùng chiếc khăn đó để làm gì vậy chú?”

“Người Khờ-me đeo nó thường xuyên như bùa hộ mạng để trừ tà, hoặc để trù ếm người khác”, trạo phu giãi bày. Chú nhíu mày nghĩ ngợi, như thể vừa nhớ ra điều gì lạ lùng tưởng như bị quên lãng từ lâu theo dòng tiến hóa của loài người. “Tui đoán là người ta đã tìm cách, không phải chỉ đầu độc, mà còn sử dụng bùa chú để hãm hại ông chủ. Ông chủ không những phải chịu chết đau chết đớn, mà còn không được đầu thai”, giọng chú trầm ngâm.

Những mẩu chuyện trù ếm độc địa của dân tộc thiểu số Khờ-me kiểu nầy, cô Từ Phụng đã nghe kể nhiều lần. Họ tìm cách lấy một vật dụng thường ngày của nạn nhân, dùng câu thần chú cũng như những nghi thức cần thiết để trù ếm. Thường là, để chuốc bùa yêu hoặc để trả thù, khiến nạn nhân lâm bệnh, chết thảm. Mỗi ngày đi chợ, cô thường được nghe nhiều chuyện lạ lùng, có người nhờ thầy pháp ban bùa yêu để giành lại chồng bị gái tơ mê hoặc. Hoặc có thầy lang nọ tìm thấy một mảng lông da trâu mọc trên người nạn nhân, càng ngày càng lớn. Điềm báo trước nạn nhân sẽ tới ngày hóa thân làm súc vật.

Chiều hôm sau, khi cái nóng oi ả giảm xuống, trong lúc cắm sào nghỉ ngơi trong một cánh rừng tối ám, trạo phu lên bờ tìm củi. Sau khi được uống thang thuốc giải độc, ông Lê hồi tỉnh sau một giấc ngủ dài và được người tớ gái chăm sóc chu đáo. Ông vẫn chưa nói năng được gì. Diện mạo ông vẫn còn xanh xao như kẻ chết đuối. Người ông toát mùi gì tựa như mùi gỗ mục và cây lá mục rữa. Khi ông được người tớ gái nâng dậy để lau chùi, từ ô cửa hẹp mở toác, một luồng nắng chiều soi lạc, dọi sáng hai mắt ông trâng trâng, bất thần bừng lên sống động. Ngay khi người tớ gái nghe được âm thanh hổn hển nửa người nửa thú, cô ngừng tay. Trước khi nhận thức được mọi chuyện, chưa kịp phản ứng, trong nháy mắt cô đã bị người đàn ông dùng sức mạnh loài dã thú đói mồi vật nằm xuống chiếu. Cô không thể và cũng không muốn chống cự, cớ gì không rõ, mà câm nín tuân phục mọi đòi hỏi của ông Lê. Khi mặt ông áp sát mặt cô, cô sửng mắt ớn lạnh thấy ra tia mắt ngập ngụa dục vọng súc vật của người đàn ông. Hai mắt ông phún ra những tia sáng nhỏ, từ từ biến thành những lưỡi lửa hồng ngọc chói lọi. Tròng trắng đôi mắt ông dọc ngang chằng chịt những mạch máu li ti, chực vỡ ra trong cơn dục cảm. Để không phải chứng kiến hai lõm mắt hoen máu, người tớ gái nghiêng mặt sang bên. Cô nhắm chặt hai mắt, cảm nhận những động tác của ông chủ, lúc man dại thú tính lúc dịu dàng mơn trớn, như thể ông là ác thú bị quỷ ám đang liếm láp thêm lần nữa con bê vừa bắt được trước khi xé thịt. Trong cơn dục cảm, cổ họng ông bật ra chuỗi tiếng thở nặng nhọc, nghe như âm thanh một ngôn ngữ lạ tai. Người tớ gái rợn người nhận ra, đó chính là ngôn ngữ Khờ-me và con thú đang chủ động mọi tình huống vừa xảy ra, là hậu duệ của bè lũ xâm lược An-nam đã tàn sát dân tộc Khờ-me vài trăm năm trước.

Trong ký ức suy nhược của bà Từ Phụng hiện giờ, chỉ còn sót lại âm thanh va chạm vào thau nước trong cơn hành lạc không chờ không đợi chiều hôm ấy, nghe như tiếng chuông gióng, báo hiệu giờ mở màn một tuồng hát được những bàn tay ma quỷ viết kịch bản. Trong cảnh giới tăm tối của tâm hồn, bà nghĩ rằng mình đã sống qua một buổi diễn tuồng nhuốm máu theo cơn dục cảm thú vật cuồng bạo của điền chủ Lê. Bà đã bị câu chuyện diệt chủng của tiền nhân từ phương Bắc trong cuộc Nam tiến, cũng như hành động cưỡng dâm lần đó của ông Lê, khắc dấu trong tâm khảm, sâu xa đến nỗi mỗi khi bà ngắm nhìn cô trưởng nữ, với làn da nâu đỏ, bản lĩnh sắc sảo, lòng kiên trì trước mọi dự tính, đã phải tự hỏi: “Mình có nên cho nó biết, rằng nó là đứa con bùa chú của điền chủ Lê?”


(*) Trích đoạn tiểu thuyết “Ngàn Năm Trong Khoảnh Khắc”, phỏng dịch từ nguyên bản Đức ngữ “Tausend Jahre im Augenblick” – Ngo Nguyen Dung – Nhà xuất bản POP – Ludwigsburg (Germany) 2019 – ISBN 978-3-86356-247-2.