Hawaii có gì lạ không anh?

Hawaii là một quần đảo rất đẹp ở Thái Bình Dương, được coi là Thiên Đàng Hạ Giới, nơi nghỉ mát lý tưởng của những người Mỹ và của du khách trên thế giới (có nhiều người Mỹ nói rằng: phải đến Hawaii đi tắm biển trước khi xuôi tay, nhắm mắt), mỗi năm ước tính có 3-5 triệu du khách đến tham quan và nghỉ mát, khí hậu thật ôn hòa, mát dịu.

Hawaii trở thành tiểu bang thứ 50 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ vào ngày 21/8/1959. Hawaii có nhiều quần đảo, nhưng có 8 quần đảo chánh là Kauai 519.4 dặm vuông, Niihau 70 dặm vuông, Oahu 593.6 dặm vuông, Molokai 260.9 dặm vuông, Lanai 140.4 dặm vuông, Maui 728.6 dặm vuông, Kahoolawe 4.5 dặm vuông, Hawaii (Big Island) 4034.2 dặm vuông.

Tổng số dân số Hawaii khoảng 1.1 triệu, đa phần sinh sống trên đảo Oahu vì khí hậu và phong cảnh thuận lợi cho du khách. Đảo Hawaii là đảo lớn nhất và cũng có nhiều phong cảnh đẹp và núi lửa Kilauae, nhưng dân số chỉ độ trên 100,000 người thôi, còn các đảo khác như Kauai độ 50,000, đảo Maui độ 80,000 người.

Mặc dầu dân da trắng chiếm đa số, nhưng nếu đi du lịch tại bãi biển, hay đi tham quan các nơi ta thấy những người da vàng, dân bản xứ, dân Nhật Bản và Á Châu nhiều (có thể nói là một thành phố Á Châu tại đảo Oahu), Honolulu có thể nói như là một thành phố lớn nhất của đảo Hawaii và coi như là thủ đô của tiểu bang, đông dân nhất, là trung tâm tài chánh lớn của các đảo Thái Bình Dương. Tại Honolulu có một bãi biển danh tiếng là Waikiki, đó là một bãi biển đẹp và nhiều khách sạn, trung tâm mua sắm, ai từng là du khách cũng phải đi tham quan và tắm biển.

Khi tôi được định cư và sinh sống tại Hawaii, thì người Việt Nam ở tại đây chỉ có 6,000 hoặc 7,000 người. Tuy ít người, nhưng cộng đồng Việt Nam tại đây đã tạo một sức mạnh đáng kể vì có nhiều người Mỹ gốc Việt đã thành công tại Hawaii. Người Việt Nam tại đây đã làm hai nghề chính: lái taxi (lúc đó ở Hawaii có 1,500 taxi, thì Việt Nam có 367 chiếc do người Mỹ gốc Việt làm chủ, và một số người mướn xe để chạy), bán thức ăn trên các xe lunch (manapua), một số mở những gian hàng bán đồ kỷ niệm và thủ công nghệ, một số mở bán rượu, một số trồng rau và một số nghề khác như làm trong các hotel…

Với khí hậu thật ấm và tốt và những bãi biển đẹp nhất của nước Mỹ, một xã hội phóng khoáng, không thấy có kỳ thị màu da, khí hậu giống như Việt Nam, có nhiều trái cây… làm cho nhiều người Việt Nam đã tới nơi đó định cư luôn, không rời đi đâu cả.

Tuy nhiên, thành phố Honolulu không phải là nơi dễ sanh sống, mặc dầu nơi đây là một thành phố du lịch và một trung tâm thương mãi lớn nhất của Hoa Kỳ, lý do là vì không có kỹ nghệ, không có sản xuất máy móc… và vật giá cao và một số đồ ăn uống phải nhập cảng ở đất liền. Giá nhà cửa cũng cao vào bậc nhất nước Mỹ, lúc tôi ở đó, thì chỉ thua New York và California (SF, Los Angeles) mà thôi. Ở đất liền vì đời sống đắt đỏ, nên lương bổng rất cao, chẳng hạn ở San Francisco, San Jose, hoặc Los Angeles, nhưng lương bổng ở Hawaii thì kém đất liền độ 20%, do đó rất khó sống, không như ở California dễ sanh sống hơn.

Những người Việt Nam đã ở lâu năm (trước 75) là GS Nguyễn Đăng Liêm, giáo sư ngôn ngữ học tại đại học Hawaii, là phu quân chị Trần Huỳnh Điệp (học y khoa từ năm 1963-68 và năm 1968 định cư tại Hoa Kỳ). Do giới thiệu của GS Trần Văn Tấn, khoa trưởng đại học Sư Phạm Saigon, tôi có gặp anh Liêm, và có một thời gian làm việc với anh.

BS Nguyễn Thế Thanh, sang Hawaii du học từ năm 1973 để lấy PhD về Public Health.

BS Tôn Thất Viên (Y Khoa Huế 68), chuyên khoa Giải Phẫu Thần Kinh ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, tu nghiệp tại Tripler Hospital từ năm 1974, bị kẹt lại nơi đây. Sau ngày 30/4/75, họ không cấp học bổng nữa vì không còn là quân y sĩ của Việt Nam Cộng Hòa, bị chấm dứt chương trình huấn luyện và phải ra ngoài kiếm việc làm. Về sau, anh kiếm được một việc làm về phụ mổ cho bác sĩ giải phẫu ở bệnh viện St Francis. Anh phải học lại để thi ECFMG (Educational Commission for Foreign Medical Graduates) và qua Dallas làm residency về gây mê, rồi mới trở về Hawaii hành nghề năm 1981 (sau khi đậu Federation Licensing Examination, FLEX).

Một số bác sĩ tị nạn năm 1975: BS Trịnh Văn Hải (YK 52), BS Nguyễn Đức Thông (YK 68).

Ngày 30/4/1975 là ngày đen tối nhất của miền Nam Việt Nam. Miền Nam Việt Nam đã trải qua một cơn đại hồng thủy.  

BS Thanh cũng thế, cũng bị tạm ngưng chương trình học lấy PhD và phải thi lại ECFMG rồi đi training. Khi xong training về làm việc ở phòng khám bệnh viện Lanakila, Honolulu.

Bà xã tôi cũng hết được làm chuyên viên tại bệnh viện với tư cách Visiting Assistant Professor và phải ra bên ngoài, tạm thời phải làm phòng xét nghiệm để sinh sống.

Tình hình lúc đó rất căng thẳng và hoang mang vô cùng, không biết tương lai ra sao.

Và sau nầy mới có chương trình giúp đỡ người tị nạn kiếm việc làm, học hành và thi lại.

Sau một vài tháng để ổn định lại nơi ăn chốn ở, tôi bắt đầu học lại vào đầu năm 1984. Năm nầy đã có nhiều đổi thay. Hiệp Hội Y Sĩ Hoa Kỳ đã bỏ kỳ thi ECFMG cũ (thi 1 ngày) và thay bằng kỳ thi FMGEMS gồm hai ngày giống như thi National Boards, ngày đầu thi Basic Sciences (gồm những môn như anatomy, biochemistry, bacteriology, physi- ology…) và ngày thứ 2 thi Clinical Sciences và English. Kỳ thi FMGEMS rất khó nên nhiều bác sĩ ngoại quốc đã bị rớt. Trong các khóa 1984, 1985, 1986 tỉ lệ thi đậu rất thấp, nghĩa là thi rất khó, vì phải thi những bài thi giống như bài thi của sinh viên năm thứ 1, 2, 3, 4 của trường Đại Học Y Khoa Mỹ.

Đối với một số sinh viên ra trường khoảng năm 1974, 1975, có học một số sách Y Khoa Mỹ thì tương đối cũng đỡ, nhưng với đa số chúng tôi, thật là khó khăn. Chúng tôi coi như phải học lại từ đầu Y Khoa.

Mặc dầu không có tiền và không có trợ cấp, tôi cũng đã mua một số sách mới để học. Khi đó, tôi cũng đến Trung Tâm Kaplan, một trung tâm luyện thi, nơi đang có những bài luyện thi, những cuốn băng cassette giảng bài và phân tích các câu hỏi. Trung tâm nầy nghe nói trước đây có rất nhiều đề tủ, khi vào thi thì gặp những câu hỏi y chang, nhưng tới phiên tôi học, thì không trúng tủ nữa, phải học trong sách và đọc sách nhiều thì mới đậu được. Đồng thời, xin vào làm thường trú (residency) cũng rất khó khăn, ít có bác sĩ ngoại quốc được nhận trong những năm đó. Tôi biết có nhiều bạn đã đỗ ECFMG từ các năm 1982, 1983 mà mãi đến năm 1989 mới vào được chương trình residency. Tôi biết anh Phạm Quang Thùy (YK70) đã đậu ECFMG từ năm 1982, 1983, cũng không được vào chương trình residency mãi đến 1988 anh mới được nhận vào chương trình nầy. Anh đã hành nghề tại Nam California từ năm 1990. Trong Quân Y Hải Quân có BS Lê Thu Thanh cũng vậy, đậu năm 1983, mãi đến năm 1990 mới xin được làm residency về psychiatry. Trong thời gian chờ đợi, anh phải làm điện tử và làm thư ký văn phòng cho USCC (US Catholic Charities). Và anh đã hành nghề lại từ năm 1994 tại Stockton.

Hoàn cảnh gia đình tôi lúc đó gặp nhiều khó khăn. Các con tôi còn nhỏ, còn tôi, vì đi theo tiêu chuẩn đoàn tụ gia đình nên không có trợ cấp, đồng thời, vì nhận thấy tầm quan trọng của y khoa phòng ngừa (preventive medicine) nên tôi đã quyết định theo học ngành y tế công cộng. Tôi ghi danh học Public Health tại Đại Học Hawaii và đã thi đậu Master of Public Health năm 1987. Trong thời gian trên, Ban Giảng Huấn Đại Học Hawaii đã cho tôi được tham gia chương trình huấn luyện chung với các bác sĩ Thường Trú về Y Khoa Phòng Ngừa. Ngoài ra, trong thời gian nầy, tôi có làm việc tại bộ Y Tế Hawaii, trong chương trình Sức Khỏe Tâm Thần cho người Việt và làm việc cho Catholic Charities (Cơ Quan Bác Ái Công Giáo, để kiếm chút lợi tức chi phí trong gia đình.

Khi đi học, tôi gặp được nhiều bác sĩ y khoa trên khắp thế giới (trên 100 nước) từ các nước như Liên Xô, Pháp, Đức, Trung Cộng… Phải nói nơi đây là một nơi rất tốt để học về Medicine Tropicale (y học nhiệt đới). Ngoài ra lại có một trung tâm (East West Center) để giúp các bạn có hai nền văn hóa đông tây có thể học hỏi lẫn nhau. Tôi được biết các lãnh đạo trên thế giới đều dừng chân tại Honolulu, như TT Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Giang Trạch Dân và nhiều vị lãnh đạo khác khi đi công du đều ghé ngang qua Honolulu.

Nhờ có chuyên môn về y khoa, khi học về Public Health, tôi cũng đỡ vất vả, có nhiều môn tôi đã học rồi, nay học lại như microbiology, parasitology…

Tôi phải trau dồi Anh văn để thuyết trình mà thôi. Khi làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã chọn đề tài về bệnh Hansen, là một bệnh tủ của tôi trong bô môn da liễu. Ở Hawaii lúc đó rất ít người Việt, không có chương trình giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, như ở California.

Chưa vui sum họp đã sầu chia ly

Như tôi đã viết từ các bài trước, tôi đến Hawaii từ tháng 10 năm 1983 để định cư do sự bảo lãnh của bà xã tôi.

Khi ở Việt Nam bà xã tôi sức khỏe cũng bình thường, thỉnh thoảng làm việc nhiều quá hay bị mệt. Nhưng khi qua bên Hawaii, một hôm khám bệnh thì phát hiện bị bệnh Lupus (Systemic Lupus Erythematosus, SLE). Bệnh nầy thường bị bệnh đau nhức khớp xương, bị mệt và không làm việc nặng được. Bệnh nầy phải dùng thuốc Prednisone thường xuyên. Do hoàn cảnh khó khăn, bệnh hoạn, cô đơn, bà xã tôi gặp một đồng nghiệp, cũng là giáo sư Trường Dược Khoa, cũng đang định cư tại đây, và có việc làm vững chắc rồi, giúp đỡ, an ủi. Ông cũng có một hoàn cảnh là bà vợ đã lấy chồng khác và đang định cư tại Pháp. Ông đang định cư tại Mỹ với 2 con trai. Hai người đi đến và sống chung với nhau.

Khi gần đi Mỹ, tôi mới được biết tin nầy. Cho nên khi máy bay đáp xuống Honolulu, tôi cũng mừng, mà cũng hồi hộp.

Khi về nhà (khách sạn mà bà xã mướn cho tôi ở tạm), trong một đêm không ngủ, bà nói với tôi là không tiếp tục sống chung với tôi nữa vì đã có gia đình rồi, và hứa sẽ giúp tôi làm lại cuộc đời.

Tôi đâu biết làm sao, tôi cũng không oán trách ai, miền nam Việt Nam đã bị một cơn đại hồng thủy, nhiều gia đình đã bị ly tán, không phải lỗi tại ai cả. Còn tôi, vì “ngu dại”, không biết tình hình chính trị, tưởng là có chánh phủ ba thành phần, và mình là bác sĩ chắc cũng không sao đâu, và cuối cùng bị kẹt lại và không thấy hòa bình trở lại trên quê hương yêu dấu đâu cả, mà chỉ thấy Nước đã mất, Nhà đã tan.

Bà xã tôi, sau khi giúp tôi mướn nhà cửa và cho con cái đi học, đã nộp đơn ly dị tôi. Theo luật pháp ở Mỹ, nếu hai người đồng ý, không tranh chấp về tài sản, về nuôi dưỡng con cái, thì không cần phải ra tòa và chánh án sẽ ra một phán quyết sau khi hội ý với luật sư. Tôi là bị cáo, bà là nguyên đơn. Tôi có quyền giữ 3 đứa con. Tôi không đòi tiền cấp dưỡng gì cả, tôi cũng không xin phân chia tài sản. Theo luật Hoa Kỳ, nếu hai bên (vợ, chồng) xa cách nhau hơn 2 năm là có quyền xin ly dị (tôi đã xa vợ tôi gần 10 năm). Tôi không được lãnh trợ cấp welfare và không xin được medicaid.

Tôi phải tự túc, nhưng bà xã tôi cấp cho tôi môt số tiền nhỏ mỗi tháng để nuôi đứa con trai, còn hai cháu gái, sau nầy, tôi giao cho má cháu nuôi, và mỗi tuần, má cháu đưa 2 cháu về nhà tôi ở cuối tuần.

Người ta đi Mỹ thì vui
Tôi nay đi Mỹ chịu nhiều đắng cay.

Tôi đã gặp nhiều đắng cay của cuộc đời, và Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.

Bởi vậy, đang ở thiên đàng hạ giới mà lòng tôi có lúc cũng không vui, tôi vào nhà thờ cầu nguyện, và nhiều lần nước mắt tôi tuôn trào, khi nhìn lên bàn thờ Đức Mẹ.

Sau đó, tôi đã bị một căn bệnh, tôi đã bị sụt hết 36 pounds trong vòng mấy tháng, tôi ngủ không được, tim đập như hồi hộp, tôi tưởng bị trầm cảm và lo âu mà ra. Tôi không có Medicaid. Một hôm tôi đến Cơ Quan Bác Ái Công Giáo để học Anh văn, bà phước thấy tôi ốm quá nên nói với tôi “Tao thấy mầy chắc chết đến nơi rồi, đây tao cho mầy $100 để mầy đi khám bệnh”. May quá, mấy bác sĩ người Phi cùng học với tôi ở Kaplan giới thiệu cho một bác sĩ cũng học chung với họ ở Phi, nay đã đậu lại và đã mở phòng mạch. Bác sĩ nầy khám cho tôi và cho tôi đi xét nghiệm. Kết quả tôi bị chứng cường tuyến giáp trạng mà tôi không biết. Bác sĩ Phi chữa cho tôi khoảng độ một năm và tôi khỏi bệnh, nhưng tôi phải đi tái khám và theo dõi luôn. Bác sĩ Phi cũng không lấy tiền thù lao và cho tôi được làm test free. Tôi chỉ mua thuốc trị bệnh mà thôi. Sau đó, tôi đã lành hẳn. Tôi cũng ráng đi học thi ECFMG và Flex độ 2 lần nhưng không xong và chuyển hướng sang học Public Health.

Vào mùa thu năm 1986, tôi đã ghi danh học chương trình Master of Public Health tại đại học Hawaii, ở Manoa (Oahu). Điều kiện để theo học tại trường Public Health là phải có bằng bác sĩ, hoặc B.A., B.S. của Mỹ hoặc là bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ ở các đại học trên thế giới, tôi được nhận vào học vì có bằng bác sĩ ở Việt Nam. Tôi phải thi Anh văn TOEFL với số điểm 550 và phải có giấy giới thiệu (letter of recommendation), tôi có nhận được giấy giới thiệu của BS Đặng Tất Khiêm, cựu bác sĩ đại tá Hải Quân, chỉ huy trực tiếp của tôi, và GS Nguyễn Thanh Liêm, giáo sư ở đại học Hawaii.

Tôi ghi danh học full time và làm công việc cho sinh viên (work study) có tiền sinh sống, tôi làm 20 giờ một tuần, với mức lương tối thiểu khoảng 4.5 – 5$/1 giờ, mỗi tuần lễ được gần $100, và mỗi tháng được khoảng $400. Vì là single father và có con nhỏ, lương tháng hơi thấp, nên tôi nộp đơn và xin được food stamp, để mua thức ăn và sau đó, tôi xin được housing của chính phủ, mỗi tháng chi trả hơn $100 tiền nhà, nên tôi cũng đủ tiền sinh sống.

Trong thời gian làm việc (work study), trường đại học gởi tôi ra làm tại US Catholic Charities, và Catholic Charities lại gởi tôi đến làm việc tại Cộng Đồng Việt Nam Tự Do với anh Nguyễn Chương. Anh Chương là một giáo chức ở Việt Nam, tốt nghiệp đại học sư phạm Saigon ban Anh văn 1962, sau nầy anh bị nhập ngũ vào QL/VNCH, anh là những người đầu tiên đến Hawaii. Anh cùng các anh Nguyễn Đình Khang, LM Vũ Khánh Tường, lập ra Cộng Đồng Việt Nam Tự Do. CĐVNTD là một cơ quan bất vụ lợi, đã giúp cho đồng bào tị nạn mới qua. Anh thường phiên dịch các giấy tờ, bằng cấp, khai sanh từ Việt ngữ sang Anh ngữ. Anh cũng giúp anh em xin trợ cấp hoặc xin license để lái taxi bán Manapua. Tôi có giúp anh Nguyễn Chương trong việc phiên dịch giấy tờ, và giúp đỡ những người tị nạn mới qua. Tôi có hoạt động trong Cộng Đồng Việt Nam Tự Do và Hội Ái Hữu Quân Cán Cảnh tại đây. Ngoài ra, tôi có làm việc với GS Nguyễn Đăng Liêm để soạn ra cuốn Public Health, với cuốn sách gồm những câu hỏi để đi bệnh viện và đi phỏng vấn xin welfare. Tôi có ra tòa để thông dịch cho đồng bào Việt Nam tại đây.

Cuối năm 1987, tôi đã học xong và đậu bằng Master of Public Health, đồng thời tôi cũng xong chương trình huấn luyện y khoa phòng ngừa của đại học Hawaii.

Chương trình huấn luyện nầy dành cho các bác sĩ ngoại quốc với 3 năm học tập. Tôi coi như đã xong 2 năm, còn một năm nữa là học xong chương trình và có thể American Board of Preventive Medicine, nhưng vì tôi là di dân và sẽ là công dân Mỹ, nên họ bắt buộc tôi phải có ECFMG hoặc Flex mới được, nên tôi đành chấm dứt chương trình học tập.

Như tôi đã nói ở trên, ở Hawaii, hơi khó kiếm việc và lương bổng cũng không cao. Dù năm 1988, tôi mới xin được việc làm, tôi làm ở đại học Hawaii trong chương trình OPERATION MANONG là một chương trình giúp sinh viên Á Châu và gia đình tị nạn. Tôi cũng có làm trong chương trình Mental Health của bộ Y Tế.

Có một việc làm rất tốt cho tôi, đó là giám đốc chương trình sức khỏe của người tị nạn (trước đây do chị Linda Liêm (Trần Huỳnh Điệp) làm, nay chị thôi không làm, họ mướn người khác), tôi và một người nữa được vào chung kết, nhưng họ lại muốn một người Nhật (dân Nhật Bổn ở Hawaii là mạnh nhất ở đây). Ở Hawaii, họ không trả lương như ở California, hoặc các tiểu bang khác: thí dụ như có bằng master và làm việc như chuyên viên giáo dục y tế, hay chuyên viên dịch tễ, lương chỉ từ $20,000-$24,000, trong khi đó ở California thì khoảng $25,000-$30,000, hoặc từ $30,000 -$40,000. Lương bác sĩ lúc đó ở California từ $70,000 – $80,000, thì ở Hawaii chỉ độ $45,000 – $55,000. Giáo sư thực thụ đại học ở California $60,000 -$80,000 thì ở Hawaii $40,000 – $50,000. Sau khi ly dị vào đầu năm 1984, tôi và bà xã coi nhau như hai người bạn. Sau nầy, mỗi năm, tôi sang Hawaii để thăm con tôi, tôi có ghé thăm bà xã cũ và anh chồng mới. Ở đời, khi bị sa cơ thất thế, người ta mới thấm thía về cách đối xử của người đời. Khi ở Hawaii, tôi không buồn về hoàn cảnh, tôi không oán trách ai, tôi chỉ lo học bài và làm việc và lo tương lai cho con tôi. Nhưng điều làm tôi buồn là tiếng thị phi ở đời. Một vài người coi thường tôi, có người nói: “Chắc tôi ăn ở làm sao mà bị vợ bỏ”, “Làm sao mà học để trở lại bác sĩ được?” Nhưng, tôi cũng gặp được nhiều người tốt. Tôi có một y tá trước làm dưới quyền tôi, họ sẵn sàng giúp tôi, nhưng tôi không nhận. Qua đây, tôi phải học đánh máy, hoặc căn bản về computer. Tôi nhớ tôi có lấy hai lớp về đánh máy. Dĩ nhiên, tôi đánh máy rất dở, vì đâu có dùng 5 ngón tay lanh lẹ như người khác, và phải liếc vào bàn chữ (keyboard), nhưng ông thầy giáo tội nghiệp tôi, ông nói tôi làm sao đừng ngó vào keyboard và đường vào tờ giấy, chỉ gõ bình thường, thì cho tôi đậu ngay, chứng nhận cho tôi đánh máy một phút 45 chữ để tôi kiếm việc làm (khi kiếm việc làm, cần có giấy chứng nhận đánh máy 45 chữ/1 phút). Tôi cám ơn ông và cho ông biết là tôi học đánh máy để đánh bài vở khi đi học lại mà thôi. Khi tôi vào thư viện, phải có thẻ và phải mượn mỗi lần 1, 2 cuốn sách và phải trả lại đúng ngày. Người quản thủ thư viện thấy tôi thường vào thư viện, nên cho phép tôi muốn mượn sách gì thì mượn, không cần phải xuất trình thẻ và không cần phải trả đúng ngày. Khi tôi đi làm photocopy và có notary tại ngân hàng, thì cô đặc trách về notary lại cho tôi miễn phí (không lấy thù lao). Khi đi học đại học Public Health, theo nguyên tắc thì phải trả học phí, không xin học bổng được. Tôi vào gặp Bà Phó Khoa Trưởng Đặc Trách Học Vụ, tôi kể hoàn cảnh tôi cho bà nghe và được bà (cô độ 40 tuổi) cho tôi được học miễn phí. Khi học Anh văn, đi luyện giọng, tôi phải vào phòng lab, nên vào phòng thì phải có thẻ và chỉ được một số giờ mà thôi, nhưng bà xếp phòng lại cho tôi khi nào muốn vào thì vào, không sao cả. Rồi về vấn đề Anh văn, tất cả phải thi Anh văn lại, và phải học thêm vài lớp về nói và viết. Tôi chỉ phải học một lớp mà thôi, trong khi đó nhiều sinh viên các quốc gia khác, phải học 3, 4 lớp.

Tôi muốn xin học thêm, các giáo sư đều nói tôi học đã đủ rồi, không cần thêm nữa.

Một hôm, tôi vừa vào Bộ Y Tế Hawaii để làm việc thì có cô thư ký gặp tôi, nói tôi phải vào phòng gặp ông giám đốc, có chuyện cần. Tôi rất lo, vì tôi sợ có chuyện chẳng lành xảy ra cho tôi, chắc tôi bị đuổi việc. Nhưng khi tôi vào phòng, thì ông giám đốc nói với tôi: “Tôi có một tin vui cho anh, anh ngồi xuống đây. Có một job rất tốt ở California, San Francisco, và tôi nghĩ anh rất qualify cho job nầy”. Rồi ông đưa cho tôi một job đăng trên báo của American Public Health với nội dung: Trường đại học y khoa San Francisco, chương trình Sức Khỏe Là Vàng cần tuyển dụng một người Việt Nam có bằng Master of Public Health, có kinh nghiệm viết lách và sinh hoạt cộng đồng để phục vụ trong Chương Trình Sức Khỏe Là Vàng, mục đính là giao lưu và giúp đỡ người Việt Nam cai thuốc lá. Rồi ông lại nói: hôm nay, hãy đưa resume để tôi sửa lại cho. Anh nên qua California mới có tương lai khá đẹp… Tôi mừng quá, sửa chữa lại resume và gởi đơn ngay.

Sự thực, khi ra trường, tôi cũng muốn ở lại Hawaii, gần gũi các con tôi. Tôi cũng có nhiều bạn Việt, Phi, Mỹ… rất tốt với tôi. Nhưng đối với tôi, tôi thấy khó sống và khó kiếm vợ. Ở đây, ít người Việt Nam quá, rất nhiều đàn ông và thiếu vắng đàn bà. Có nhiều cô Mỹ, Phi, Nhật Bổn cùng học chung với lớp tôi, tôi có thăm dò, nhưng mấy cô chưa chịu.

Tôi nộp đơn để xin việc, độ một tháng sau, thì tôi nhận được thơ phúc đáp của ông Chris Jenkins, đặc trách chương trình nầy. Tôi mở thư ra xem, tôi tưởng ông trả lời bằng tiếng Mỹ, không ngờ ông trả lời lại bằng tiếng Việt và mở đầu bằng câu: “Anh Nam thân mến. Tôi đã nhận được thư anh và tôi biết anh có nhiều kinh nghiệm, mong được hợp tác với anh”.

Ông viết rõ ràng và hay quá, tôi rất sợ vì biết mình sẽ làm việc với ông, không phải dễ đâu vì ông quá rành Việt ngữ. Được biết, ông đã từng ở Việt Nam, dạy Anh văn ở đại học Đà Lạt và kết hôn với chị Tuyết (cháu ruột của GS Nguyễn Văn Út).

Tháng 8/1988 tôi đại diện cho Cộng Đồng Việt Nam Tự Do đi dự hội Toàn Quốc Người Việt ở Palo Alto, California. Tôi có gọi cho bác sĩ Stephen Mc. Phee, là GS Đại Học Y Khoa San Francisco, giám đốc đặc trách Sức Khỏe Là Vàng, là sếp của ông Chris Jenkin, lúc đó ông Chris Jenkin đi Việt Nam. Tôi đã xin gặp ông.

Tôi không ngờ ông phỏng vấn tôi luôn và cho tôi công việc làm. Tôi nhớ, ông đã phỏng vấn tôi chỉ 3, 4 câu về thân thế và quá trình làm việc của tôi. Tôi kể cho ông nghe sơ qua về cuộc đời tôi, khi đi học, khi vào quân đội và sau năm 1975, tôi ở về phe bại trận và bị đi tù cải tạo. Sau khi cải tạo về, tôi làm việc ở bệnh viện Da Liễu, và nay định cư tại Mỹ. Tôi cũng nói cho ông biết sơ qua về hoàn cảnh gia đình của tôi. Ông nghe có vẻ cảm động và phục tôi.

Ông hỏi tôi tại sao lại chọn Public Health mà không thi lại để trở lại hành nghề bác sĩ. Tôi nói, tôi muốn lắm, nhưng hoàn cảnh gia đình tôi và số tuổi của tôi không cho phép tôi nhiều thời gian đi học, tập sự để hành nghề trở lại. Hơn nữa bây giờ cánh cửa của ngành y khoa dành cho các bác sĩ ngoại quốc đã khép kín lại rồi. Bây giờ là lúc mà Public Health là quan trọng số một đối với cộng đồng Việt Nam. Người Việt Nam ở trong nước chỉ đi khám bác sĩ khi có bệnh và muốn bác sĩ cho thuốc, chích thuốc, để chữa bệnh mà thôi. Về phòng ngừa như khám sức khỏe, chích ngừa, dinh dưỡng… không ai quan tâm đến. Lại nữa, ở Việt Nam có quá nhiều người hút thuốc lá và uống rượu, khi qua Mỹ, họ vẫn tiếp tục hút thuốc và uống rượu, vì thế nguy cơ ung thư phổi, gan, bệnh tim mạch rất cao… Do đó, để phòng ngừa những bệnh nầy, phải có chương trình giáo dục y tế, như chương trình Sức Khỏe Là Vàng. Nghe nói, ông thích quá. Rồi ông lại hỏi, nếu tôi là giám đốc chương trình cai thuốc lá, tôi phải làm gì. Tôi nói: phải có chương trình giáo dục y tế, phải có những tài liệu bằng Việt ngữ, những video về tai hại của thuốc lá, và những thông tin tuyên truyền trên đài tivi tiếng Việt, rồi sau đó, mình phải mở những lớp học cai thuốc lá miễn phí và phải có phần thưởng để dụ họ đến học, thì chương trình mới hữu hiệu và họ sẽ từ từ bỏ hút thuốc. Ông lại hỏi tôi có sinh hoạt với cộng đồng Việt Nam và có viết sách không. Tôi nói có và cho ông xem những tài liệu đã soạn thảo với giáo sư Nguyễn Thanh Liêm về danh từ Public Health và cuốn sách khi đi khám bác sĩ, hay xin welfare.

Khi tôi nói xong, ông liền đứng dậy và nói với tôi: Job nầy là của anh rồi.

Sau khi đi Việt Nam về, anh Chris Jenkins có gọi tôi sang California để phỏng vấn. Anh là giám đốc Chương Trình Sức Khỏe Là Vàng. Tôi phải bay sang California một lần để phỏng vấn. Tôi đã gặp Chris Jenkins và hai anh nữa trong ban phỏng vấn, đó là: BS Hoàng Tuấn Anh (YK70) và ông Vũ Đức Vượng, giám đốc Trung Tâm Tị Nạn Đông Nam Á. Các anh đều hỏi tôi về khả năng chuyên môn, và sinh hoạt cộng đồng Việt Nam tại Hawaii, điều quan trọng là đã có kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng và thứ hai là có viết sách gì không? Rất may cho tôi là ở Hawaii, tôi có làm việc với GS Liêm, cùng ông viết 2 cuốn sách: tự điển Anh Việt (Public Health) và 1 cuốn sách về câu hỏi khi đi bệnh viện và xin welfare.

Khi đưa ra những tài liệu, tôi viết cùng GS Liêm, thì các anh ấy rất là vui.

Trong số 3 người được vào final để phỏng vấn job nầy thì có 2 người cũng nặng ký lắm. Đó là BS Nguyễn Tuấn Phong, y sĩ Trung Tá Việt Nam Cộng Hòa, Giám đốc Chương Trình Bảo Trợ Mẫu Nhi Bộ Y Tế trước năm 1975 và cũng đã làm việc cho WHO (Y Tế Quốc Tế) ở Philippines năm 1975. Anh đã từng du học tại Tulane (Florida) và có bằng Master of Public Health năm 1958. Anh cũng đã đậu ECFMG và Flex, nhưng chưa xin được Training.

BS Phạm Quý Giao (YK70), cũng đậu Master of Public Health, cũng đã làm việc tại Bộ Y Tế tiểu bang Kansas, và cũng có nhiều kinh nghiệm về Public Health và có một người bà con quen biết Chris Jenkins.

Ông Jenkins muốn chọn BS Phong, nhưng bác sĩ Mc Phee chê ông nầy già quá, còn tôi (Nam), trẻ hơn và nói chuyện có duyên, tuy rằng Anh văn không được hay lắm.

Do đó, đến tháng 10/1988, tôi đã rời bỏ Hawaii, nơi tôi đến học hỏi và sinh sống tại đó trong 5 năm trời với nhiều nỗi buồn vui, tôi khóc nhiều vì tôi xa hai đứa con gái…

Như đã nói ở trên, cuộc sống ở Hawaii, khó khăn hơn đất liền vì không được giúp đỡ như ở California.

Trong khi ở California, ở Oklahoma vào năm 1975, có những chương trình giúp đỡ để tái huấn luyện các bác sĩ Việt Nam, như ở Oklahoma, họ cho tiền để đi học và có những bác sĩ đã đi trước giúp đỡ người đi sau như BS Nông Thế Anh, Đào Thế Xương thì tại Hawaii, không có chương trình đó, nên nhiều bác sĩ, trí thức phải làm nhiều công việc nặng nhọc. Tôi biết BS Trịnh Văn Hải (YK52), (cùng lớp với BS Nguyễn Hoài Đức, chủ tịch Y Sĩ Đoàn Việt Nam), cựu Phụ Tá Tổng Trưởng Bộ Lao Động Việt Nam, khi qua Mỹ phải làm nurse aide (tá viên điều dưỡng) và phải làm việc ban đêm, vì anh muốn dùng thì giờ ban ngày để đi học. Anh không chơi với ai và anh chỉ thân với hai anh Viên và Thanh mà thôi. 

Ngành dược sĩ cũng vậy, cũng không có chương trình giúp đỡ hoặc tái huấn luyện. Dược sĩ chỉ có thể làm xét nghiệm viên mà thôi. Có anh Đại Tá Hải Quân lúc mới qua phải làm security guard.

Đa số người Việt tại đây đều ra chạy taxi, và lái xe lunch… hoặc bán những đồ kỷ vật. BS Thiều Lợi (YK72), do gia đình bảo lãnh đã đến trước độ 1, 2 năm, cũng phải lỡ dở việc học và ra bán đồ kỷ niệm, anh đã mất cách đây mấy năm. Sau nầy, tôi có khuyến khích anh học lại, anh chỉ thi 1, 2 kỳ rồi bỏ luôn và hành nghề buôn bán.

Có 3 người làm vẻ vang người Việt là GS Nguyễn Đăng Liêm, giáo sư thực thụ về Ngôn Ngữ Học ở Hawaii, anh là cựu học sinh Petrus Ký (PK56) trên tôi độ 5, 6 lớp, có bằng cử nhân Văn Khoa ở Saigon, Master ở Michigan, Ph.D. Australia.

GS Nguyễn Văn Huệ, PhD, nguyên kỹ sư canh nông ở Saigon, được đi du học PhD tại Hoa Kỳ trước 1975 và đã đậu tiến sĩ năm 1981. Anh là giáo sư thực thụ về môn Chemistry of Soil ở đại học Hawaii. Hai anh nầy rất hiền lành và tốt, tôi được quen biết và thân với hai anh nầy.

Còn một ông nữa là GS Trương Bửu Lâm, nguyên giáo sư đại học Văn Khoa Saigon, có dạy History ở đại học Hawaii (có khuynh hướng thiên Cộng), nên tôi không giao thiệp. Khi tôi ở đó, có GSTrần Văn Khê, giáo sư thỉnh giảng về âm nhạc, tôi cũng không giao thiệp với ông.

Ngoài ra có BS Huỳnh Văn Thanh (YK73), giảng sư về Oncology tại đại học Y Khoa Hawaii rất nổi tiếng. Ngoài vấn đề y khoa, anh còn nghiên cứu về Thiền và đã đi giảng thuyết về Thiền trên thế giới.

Một người khác nữa rất thành công là ông Ba Lẹ đã mở cơ xưởng về bánh mì đầu tiên tại Hawaii, sau nầy phát triển nhiều nơi trên Hoa Kỳ.

Về tôn giáo, phía công giáo có một nhà thờ Mỹ có thánh lễ Việt ngữ vào chúa nhật cho Cộng Đồng Việt Nam với số giáo dân tham dự khoảng 200 người. Người công giáo ở rải rác, tổng cộng chỉ độ 1,000 người. Vị linh mục đầu tiên là Linh Mục Vũ Đình Trác, rất nổi tiếng, tiến sĩ về Triết học Việt Nam đã là cha quản nhiệm ở đây. Rồi đến một linh mục cũng nổi tiếng là Linh Mục Cao Phương Kỷ, là cha quản nhiệm Cộng Đồng Việt Nam tại Hawaii. Khi tôi tới Hawaii thì cha vừa về California, sau khi tôi về California, cha có trở lại làm việc một thời gian, rồi về Dòng Đồng Công ở Missouri.

Về Phật giáo, có hai chùa: Một tu viện Huyền Không do Thượng Tọa Thích Thông Hải và một chùa do Thượng Tọa Thích Trí Hai (chùa Linh Sơn). Hai chùa nhỏ nhưng rất đẹp và có một số khá đông Phật tử thường đến hai chùa nầy.

Tại đây lại có ba vị mục sư Tin Lành, quản nhiệm Cộng Đồng Việt Nam. Mục sư tôi gặp là Mục sư Huỳnh Ngọc Thạch. Mục sư Thạch trước đây là Thiếu Tá Quân Vận. Lúc đầu, khi mới tới Hawaii, ông làm phục vụ dọn dẹp trong một bệnh viện. Một hôm, ông gặp một mục sư người Mỹ, thấy ông có vẻ hiền lành, đã giúp ông tu thành mục sư đầu tiên của Việt Nam tại đây. Ngoài ra, tôi biết thêm hai mục sư nữa là Mục sư Phan Văn Lục, Mục sư Bùi Văn Minh (hai vị nầy đều là sĩ quan QL/VNCH).

Tại đây lại có ba vị mục sư Tin Lành, quản nhiệm Cộng Đồng Việt Nam. Mục sư tôi gặp là Mục sư Huỳnh Ngọc Thạch. Mục sư Thạch trước đây là Thiếu Tá Quân Vận. Lúc đầu, khi mới tới Hawaii, ông làm phục vụ dọn dẹp trong một bệnh viện. Một hôm, ông gặp một mục sư người Mỹ, thấy ông có vẻ hiền lành, đã giúp ông tu thành mục sư đầu tiên của Việt Nam tại đây. Ngoài ra, tôi biết thêm hai mục sư nữa là Mục sư Phan Văn Lục, Mục sư Bùi Văn Minh (hai vị nầy đều là sĩ quan QL/VNCH).

Bởi vậy, nhiều lúc buồn chán ở Hawaii, có lúc tôi định ra chạy taxi (part time) để kiếm tiền, thì các bạn bè khuyên tôi không nên, vì nếu chạy taxi, khó mà học trở lại lắm.

Và có lúc, tôi muốn trở thành mục sư, vì mục sư có lương bổng, có bảo hiểm sức khỏe. Tôi đã học một năm về thánh kinh ở đại học Hawaii, vì nếu tôi muốn, tôi cũng có thể trở thành mục sư rồi. Nhưng sau đó, tôi bỏ ý định vì chán, chỉ học Public Health.

Năm 75 là một năm có sự đổi đời. Đổi đời ở trong nước, mà ra ngoại quốc cũng vậy. Có những anh trong nước, chỉ là lính tráng, trình độ văn hóa kém, mà sang đây may mắn thành công, có tiền nên hiu hiu tự đắc, không coi ai ra gì. Cũng có những trí thức khoa bảng, sĩ quan cấp tá, tướng, qua đây bị thất thế, có việc làm khiêm nhượng, cũng phải ngậm đắng nuốt cay, và có những lúc buồn chán.

Rồi qua đây, do sự xung đột văn hóa, hay do nếp sống văn hóa khác mà xảy ra những vụ xung đột trong gia đình, hay vì ghen tuông, nghi ngờ hiểu lầm mà xảy có việc đáng tiếc.

Về chánh trị, thì tại Hawaii, Mặt Trận của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh hoạt động mạnh ở đây trong năm 1984… Sinh hoạt của Mặt Trận rất rầm rộ, có đảng bộ, gây quỹ, treo cờ VNCH trong f những ngày lễ. Lúc đầu có sự thân thiện giữa Cộng Đồng Việt Nam Tự Do và Mặt Trận, nhưng sau đó, có sự rạn nứt.

Về chánh trị, thì tại Hawaii, Mặt Trận của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh hoạt động mạnh ở đây trong năm 1984… Sinh hoạt của Mặt Trận rất rầm rộ, có đảng bộ, gây quỹ, treo cờ VNCH trong f những ngày lễ. Lúc đầu có sự thân thiện giữa Cộng Đồng Việt Nam Tự Do và Mặt Trận, nhưng sau đó, có sự rạn nứt.

Một số sinh viên Việt Nam tốt nghiệp cũng qua đất liền tìm việc làm. Số dược sĩ mở dược phòng tư, chỉ độ 1, 2 người. Bác sĩ y khoa cũng vậy, chỉ độ vài người mở phòng tư. Đa số bác sĩ làm cho bệnh viện, hoặc làm cho chánh phủ (tổng số không quá 10 người).

Tuy nhiên, nói về khí hậu thì Hawaii là một nơi dưỡng bệnh tốt nhất trên thế giới (Oahu, Maui…). BS Liễu Thanh Tâm, có lúc sang Hawaii gặp tôi nhưng thấy đắt đỏ quá nên bỏ ý định. BS Nguyễn Nhất Thống, có lần qua Hawaii (năm 1987) có gặp tôi và BS Huỳnh Văn Thanh cũng muốn sinh sống tại đây, nhưng sau khi thấy đắt đỏ quá, nên thôi không qua nữa.

Tôi đã ở Hawaii 5 năm, 5 năm đó tôi phải học lại, phải sắp xếp lại cuộc sống, giải quyết vấn đề gia đình và tham gia sinh hoạt cộng đồng. Chính điều đó giúp cho tôi có một cái vốn học vấn, và một số kinh nghiệm sinh hoạt cộng đồng, nên khi qua California, tôi có thể lập lại cuộc đời.

Hawaii là một nơi mà phong cảnh rất đẹp mà tôi may mắn đã được dừng chân và sống tại nơi đây.

Con đường sự nghiệp vì đã không dừng chân tại đây, tôi mang những kinh nghiệm quý báu qua California, một mảnh đất mới gọi là thiên đàng và chặng dừng chân đầu tiên là San Francisco.

Đã có câu nói: Nếu đi Mỹ (Hoa Kỳ) mà chưa dừng chân tại San Francisco, thì coi như chưa tới Mỹ. Tôi đã tới San Francisco và San Francisco có gì lạ không anh?