Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Lâm Vĩnh-Thế
Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) là cơ quan đầu não, chịu trách nhiệm về tất cả mọi vấn đề liên quan đến việc chỉ huy và tham mưu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) trong suốt cuộc chiến tranh dài 20 năm giữa hai miền Nam Bắc của Việt Nam (1955-1975). Bài viết này cố gắng ghi lại những nét chính về lịch sử, tổ chức, nhiệm vụ và điều hành của BTTMQLVNCH trong khoảng thời gian đó.
Huy Hiệu của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH
Lịch Sử
Cổng Chính của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH
Chiến Tranh Việt-Pháp (1946-1954) chính thức bắt đầu từ đêm 19-12-1946 sau lời kêu gọi Toàn Quốc Kháng Chiến của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Đến đầu năm 1949, Pháp đã thấy rõ là họ đã bị sa lầy, không thể nào thắng được, và cách tốt nhứt để rút ra khỏi cuộc chiến tranh sa lầy đó là phải tìm một giải pháp chính trị cho Việt Nam. Ngày 8-3-1949, Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Đại đã ký Thỏa Ước Élysée thành lập Quốc Gia Việt Nam với Cựu Hoàng Bảo Đại là Quốc Trưởng. [1]Ngày 8-12-1950 Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được chính thức thành lập nhưng lúc đó phần lớn các đơn vị vẫn còn đặt dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp. Ngày 15-7-1951, Đức Quốc Trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh tổng động viên: tất cả thanh niên trong tuổi từ 18 đến 28 đều phải nhập ngũ, với những người có bằng từ Cao Đẳng Tiểu Học trở lên sẽ được theo học các khóa đào tạo sĩ quan tại Trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định (ngoài Bắc) hoặc Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức (trong Nam). [2] Ngày 1-5-1952, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam được thành lập, đặt trụ sở tại đường Galliéni (về sau đổi tên thành đường Trần Hưng Đạo), thuộc Quận 5, Sài Gòn. Sau ngày 26-10-1955, ngày chính thể Cộng Hòa được chính thức thành lập, [3] cơ quan này đổi tên thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa và trụ sở được dời về Trại Trần Hưng Đạo nằm trên đường Võ Tánh, gần Phi trường Tân Sơn Nhứt. Ngày 19-6-1965, do sự bất hòa đưa đến tranh chấp giữa các chính trị gia dân sự ở Miền Nam, đại diện là Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu (1905-1970) [4] và Thủ Tướng Phan Huy Quát (1908-1979), [5] chính quyền VNCH rơi vào tay các tướng lãnh và ngày 19-6 Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) [6] thành lập Nội Các Chiến Tranh, đặt tên cho ngày 19-6 là Ngày Quân Lực, và từ đó quân đội VNCH chính thức mang tên là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH). Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tiếp tục sử dụng trụ sở trên đường Võ Tánh, gần Phi trường Tân Sơn Nhứt, mãi cho đến ngày 30-4-1975. [7]
Tổ Chức
BTTMQLVNCH được tổ chức theo sơ đồ sau đây:
Sơ đồ tổ chức Bộ Tổng Tham Mưu (1952)
(Ghi Chú: Tác giả chưa tìm được hình sơ đồ tổ chức mới hơn; về sau cả 2 Quân Chủng Không Quân và Hải Quân đều phát triển lớn mạnh và có Bộ Tư Lệnh riêng, BTTMQLVNCH không còn các Ban Không Quân và Ban Hải Quân nữa)
Sau khi quân đội nắm quyền vào năm 1965, như đã trình bày bên trên, Bộ TTMQLVNCH được hoàn thiện, và cơ cấu tổ chức gồm các bộ phận cho từng loại công tác với các cấp chỉ huy vào tháng 4-1975 như sau:
• Các Tổng Cục:
° Tổng Cục Tiếp Vận: Tổng Cục Trưởng là Trung Tướng Đồng Văn Khuyên (kiêm nhiệm Phó Tổng Tham Mưu Trưởng), tốt nghiệp Khóa 1 Thủ Đức (1952)
° Tổng Cục Quân Huấn: Tổng Cục Trưởng là Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)
° Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị: Tổng Cục Trưởng là Trung Tướng Trần Văn Trung, tốt nghiệp Khóa 1 Võ Bị Huế (1949)
• Các Phòng:
° Phòng 1: phụ trách về Nhân Sự, với Trưởng Phòng là Đại Tá Lại Đức Chuẩn, tốt nghiệp Khóa 5 Đà Lạt (tháng 4-1952)
° Phòng 2: phụ trách về Tình Báo, với Trưởng Phòng là Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, [8] tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)
° Phòng 3: phụ trách về Hành Quân, với Trưởng phòng là Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, tốt nghiệp Khóa 6 Đà Lạt (tháng 10-1952), và với đơn vị chính yếu là Trung Tâm Hành Quân
° Phòng 4: phụ trách về Tiếp Vận; từ ngày 16-11-1964, Phòng 4 đã được nâng lên thành Tổng Cục Tiếp Vận (đã trình bày bên trên)
° Phòng 5: phụ trách về Tâm Lý Chiến, với Trưởng Phòng là Đại Tá Lê Ngọc Định, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)
° Phòng 6: phụ trách về Phản Gián, với Trưởng Phòng là Đại Tá Lê Hữu Tiến, tốt nghiệp Khóa 1 Thủ Đức (1952)
° Phòng 7: phụ trách về Trinh Sát Kỹ Thuật, với Trưởng Phòng là Đại Tá Phạm Hữu Nhơn, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952)
° Phòng Tổng Quản Trị: tách ra từ Phòng 1, phụ trách về Quản Trị Nhân Viên, với Trưởng Phòng là Đại Tá Trần Văn Thân, tốt nghiệp Khóa 2 Thủ Đức (1953)
• Các Đơn Vị khác:
° Tổng Hành Dinh: Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Thăng, tốt nghiệp Khóa 3 Thủ Đức (1953)
° Nha Tổng Thanh Tra Quân Lực: với Tổng Thanh Tra là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tốt nghiệp Khóa 4 Đà Lạt (1951)
° Nha Kỹ Thuật: phụ trách Tình Báo Chiến Lược, công tác chính là gởi người xâm nhập Miền Bắc, phát thanh với 2 đài Tiếng Nói Tự Do và Gươm Thiêng Ái Quốc, với Giám Đốc là Đại Tá Đoàn Văn Nu, tốt nghiệp Khóa 9 Đà Lạt (1953)
° Trung Tâm Hành Quân: có nhiệm vụ “điều khiển và theo dõi mọi cuộc hành quân trên toàn quốc. Trung tâm Hành quân BTTM là một Bộ Tổng Tham mưu thu hẹp, có đủ các đại diện thẩm quyền từ các Phòng của Bộ Tổng Tham mưu, các Bộ Tư lệnh Không quân, Hải quân, các binh chủng yểm trợ hành quân và tiếp vận.” [9]
° Trung Tâm Truyền Tin: gồm có 2 đơn vị: 1) Trung Tâm Truyền Tin Diện Địa cố định do Tiểu Đoàn 650 thuộc Liên Đoàn 65 Khai Thác Truyền Tin Diện Địa quản trị, với những phương tiện viễn liên cố định; và, 2) Trung Tâm Truyền Tin Chiến Thuật lưu động do Tiểu Đoàn Truyền Tin BTTM điều khiển và quản trị
° Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh: Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Nguyễn Văn Kinh, tốt nghiệp Khóa 5 Thủ Đức (1955); ngành Quân Cảnh có các nhiệm vụ như sau:
– Duy trì quân phong, quân kỷ
– Hộ tống, hướng dẫn các đoàn quân xa
– Điều hành các đồn quân cảnh, các trại quân kỷ, các trại giam tù binh, áp giải quân phạm, tù binh, và bảo vệ các cơ sở của quân đội
° Bộ Tư Lệnh Địa Phương Quân và Nghĩa Quân: với Tư Lệnh là Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh, tốt nghiệp Khóa 1 Võ Bị Huế (1949)
° Đoàn Nữ Quân Nhân: với Chỉ Huy Trưởng là Trung Tá Hồ Thị Vẻ
Đứng đầu Bộ TTM là một vị tướng lãnh cao cấp mang danh hiệu là Tổng Tham Mưu Trưởng, lần lượt do các tướng lãnh cao cấp sau đây đảm nhận:
- Thống Tướng Lê Văn Tỵ (1904-1964): [10]
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Fréjus, Pháp (1933), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 1-12-1954 và nhậm chức Tổng Tham Mưu Trưởng vào ngày 11-12-1954 cho đến tháng 7-1963. Thống Tướng Lê Vân Tỵ là vị Anh Cả của Quân Đội, và là vị Tướng 5 sao duy nhứt của QLVNCH.
- Đại Tướng Trần Thiện Khiêm (1925-2021) [11]
Tốt nghiệp Khóa 1 Đà Lạt (1947), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 6-12-1962, nhậm chức Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng thay thế Đại Tướng Lê Văn Tỵ đi Hoa Kỳ chữa bệnh ngày 27-7-1963 cho đến ngày 20-8-1963 khi ông bàn giao cho Trung Tướng Trần Văn Đôn.
- Trung Tướng Trần Văn Đôn (1917-1998) [12]
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Tông, Sơn Tây, Bắc Việt (1942), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 10-4-1955, nhậm chức Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng ngày 20-8-1963 cho đến ngày 5-1-1964 khi ông bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn Kim
- Trung Tướng Lê Văn Kim (1918-1987) [13]
Tốt nghiệp Trường Pháo Binh Poitiers, Pháp (1940), vinh thăng Thiếu Tướng ngày 10-2-1956, giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng trong một thời gian rất ngắn: từ ngày 5-1 đến ngày 30-1-1964 khi ông cùng các Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, và Mai Hữu Xuân bị Trung Tướng Nguyễn Khánh đảo chánh, giam giữ tại Đà Lạt một thời gian
- Đại Tướng Nguyễn Khánh (1927-2013) [14]
Tốt nghiệp Thiếu Úy ngày 1-7-1947 từ Trường Võ Bị Liên Quân Viễn Đông (thành lập tháng 7-1946 tại Đà Lạt, chỉ đào tạo có 1 khóa duy nhứt, bế giảng tháng 7-1947, rồi dọn về Nước Ngọt, Vũng Tàu), [15] vinh thăng Thiếu Tướng ngày 21-1-1960, và ngày 8-10-1964 tự phong làm Tổng Tư Lệnh (không có một thông tin chính thức nào cả gì về chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng). Chiều ngày 20-2-1965, Tướng Khánh rời chức Tổng Tư Lệnh, bàn giao cho Trung Tường Trần Văn Minh, và ngày 25-2-1965 ông bị các tướng trẻ buộc phải ra khỏi Việt Nam đi làm Đại Sứ Lưu Động.
- Trung Tướng Trần Văn Minh (1923-2009) [16]
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Tông, Sơn Tây, Bắc Việt với cấp bậc Chuẩn Úy (1942); vinh thăng Thiếu Tướng ngày 30-4-1955; đảm nhận chức vụ Tổng Tư Lệnh thay cho Tướng Khánh ngày 21-2-1965; ngày 14-5-1965 trở lại mang danh hiệu Tổng Tham Mưu Trưởng, và ngày 15-7-1965 bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có (Tướng Có sau đó thăng Trung Tướng vào ngày 1-11-1965).
- Trung Tướng Nguyễn Hữu Có (1925-2012) [17]
Tốt nghiệp Thủ Khoa Khóa 1 Trường Võ Bị Huế với cấp bậc Thiếu Úy (1949); vinh thăng Thiếu Tướng ngày 2-11-1963 sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, và ngày 15-7-1965 đảm nhận chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng do Trung Tướng Trần Văn Minh bàn giao; ngày 15-10-1965, bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên.
- Đại Tướng Cao Văn Viên (1921-2008) [18]
Tốt nghiệp Thủ Khoa Trường Võ Bị Cap Saint-Jacques (Vũng Tàu) với cấp bậc Thiếu Úy (1949); vinh thăng Thiếu Tướng đặc cách tại mặt trận ngày 3-3-1964; đảm nhận chức vụ Tổng Tham Mưu Tưởng do Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có bàn giao vào ngày 15-10-1965 và giữ chức vụ này mãi cho đến ngày 28-4-1975 khi ông được Phòng Tùy Viên Quân Sự Hoa Kỳ (Defense Attaché Office = DAO) di tản ra khỏi Việt Nam để qua Mỹ.
- Trung Tướng Vĩnh Lộc (1923-2009) [19]
Tốt nghiệp Thiếu Úy Trường Võ Bị Địa Phương tại Huế (1950); vinh thăng Chuẩn Tướng ngày 11-8-1964; được Tổng Thống Dương Văn Minh cử nhiệm Tổng Tham Mưu Trưởng ngày 29-4 và là vị Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của QLVNCH, chỉ giữ chức vụ có một ngày; sáng ngày 30-4-1975 ông di tản khỏi Việt Nam trên Tuần Dương Hạm Tây Sa HQ-615 do Hải Quân Thiếu Tá Phạm Văn Diên (tốt nghiệp Khóa 14, Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang, tháng 12-1965) làm Hạm Trưởng.
Nhiệm Vụ
Theo Hiến Pháp 1967 của VNCH, Điều 60 ghi rõ là: “Tổng Thống là Tổng Tư lệnh Tối cao của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.” [20] Bộ TTMQLVNCH được “đặt trực tiếp dưới quyền chỉ huy của Nguyên thủ quốc gia Việt Nam Cộng hòa, chịu trách nhiệm xây dựng những kế hoạch về chiến lược và chiến thuật, nhận định tình hình chiến sự, tổ chức và phối trí những cuộc hành quân đủ mọi tầm mức để đối phó và tiêu diệt đối phương, đồng thời điều hành tất cả mọi việc liên quan đến quân đội với mục đích giữ gìn an ninh và bảo vệ lãnh thổ.” [21]
Như vậy,các nhiệm vụ chính của Bộ TTMQLVNCH bao gồm:
• cố vấn Tổng Thống VNCH trong tất cả các vấn đề thuộc về lãnh vực quân sự
• phân tích, đánh giá, và nhận định tình hình quân sự chung cho cả nước
• nghiên cứu, soạn thảo, đề nghị, và thực hiện các kế hoạch về chiến lược và chiến thuật
• tổ chức, phối trí, điều hợp, và theo dõi tất cả các cuộc hành quân ở cấp quân đoàn và sư đoàn
• điều động các Lực Lượng Tổng Trừ Bì: Sư Đoàn Nhảy Đù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), các Liên Đoàn Biệt Động Quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù
• điều hành tất cả mọi việc liên quan đến vấn đề nhân sự: quân số, thăng cấp, thưởng phạt, huy chương
Trong các nhiệm vụ chính vừa kể trên, quan trọng nhứt, trong suốt thời gian 20 năm của Chiến Tranh Việt Nam (1954-1975), là việc BTTM có quyền điều động các Lực Lượng Tổng Trừ Bị.
Lực Lượng Tổng Trừ Bị gồm toàn các đơn vị thiện chiến nhứt của QLVNCH: đó là Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn TQLC, 3 Liên Đoàn 5, 6, 7 của Biệt Động Quân, và Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù. Dựa trên tình hình của các mặt trận đang diễn ra, Bô TTM sẽ điều động các đơn vị của Lực Lượng Tổng Trừ Bi đến tiếp viện, giải vây cho các đơn vị bạn tại các trận đánh lớn, thì dụ như cuộc Tổng Tấn Công của Cộng quân trong thời gian Tết Mậu Thân (1968), như các trận An Lộc và Quảng Trị trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Điều Hành
Như trên đã trình bày, nhiệm vụ và công tác của Bộ TTM rất là phức tạp. Vì vậy, để phụ giúp Tổng Tham Mưu Trưởng, ngoài các vị Tổng Cục Trưởng và các vị Trưởng Phòng như đã trình bày trong phần Tổ Chức, trực tiếp dưới quyền Tổng Tham Mưu Trưởng còn có một số tướng lãnh cao cấp đảm nhận các mảng công tác, với các chức vụ như sau:
• Tổng Tham Mưu Phó: Trung Tướng Nguyễn Văn Mạnh kiêm Tư Lệnh Địa Phương Quân và Nghĩa Quân
• Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng Đặc Trách Hành Quân: Trung Tướng Lê Nguyên Khang, tốt nghiệp Khóa 1 Nam Định (1952), cựu Tư Lệnh TQLC và Quân Đoàn 3
• Tham Mưu Trưởng: Trung Tướng Đồng Văn Khuyên kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận
• Phụ Tá Tham Mưu Trưởng: Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Pháp tại Việt Nam (1945), cựu Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt
• Tham Mưu Phó Đặc Trách Nhân Viên: Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang, tốt nghiệp Trường Võ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu (1948), cựu Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Pháo Binh
Khác với Bộ Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff = JCS) của Quân Đội Mỹ, mà quyền hành của vị Chủ Tịch Bộ Tham Mưu (Chairman of the JCS, tương đương với vị Tổng Tham Mưu Trưởng của QLVNCH) đã được xác định rất rõ ràng trong một Đạo Luật do Quốc Hội Mỹ thông qua và ban hành năm 1968, [22] Bộ TTM QLVNCH không được một đạo luật nào của VNCH xác định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn cả. Tất cả đều tùy theo ý đồ và quyết định của vị “Nguyên thủ quốc gia Việt Nam Cộng hòa” tức là Tổng Thống VNCH. Dựa vào Điều 60 của Hiến Pháp VNCH Năm 1967, như đã ghi rõ bên trên, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã cho thiết lập một hệ thống viễn liên ngay trong Dinh Độc Lập để ông có thể trực tiếp liên lạc, làm việc và ra lệnh cho các vị Tư Lệnh Quân Đoàn không thông qua Bộ TTM gì nữa hết, khiến cho cái chức vụ cao nhứt của QLVNCH, Tổng Tham Mưu Trưởng, trở thành một chức vụ “ngồi chơi xơi nước.” Đại Tướng Cao Văn Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng giữ chức vụ lâu nhứt trong lịch sử của QLVNCH, tất cả gần 10 năm, từ ngày 15-10-1965 cho đến ngày 28-4-1975, rất bất mãn với cách làm việc đó của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên đã nhiều lần xin từ chức nhưng không được Tổng Thống chấp thuận. Vì vậy, ông không thực sự làm việc nữa, không tham gia đóng góp ý kiến gì cả về quân sự cho Tổng Thống Thiệu nữa, mà chỉ làm 2 việc không dính líu gì đến chức vụ của ông: 1) đi học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, và, 2) Tập Yoga. [23] Xin kể ra một vài chuyện cực kỳ quan trọng về quân sự mà Đại Tướng Cao,Văn Viên, với tư cách là Tổng Tham Mưu Trưởng, đã hoàn toàn bị bất ngờ trước những quyết định độc đoán và tai hại của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào những tháng cuối cùng của cuộc chiến.
• Triệt Thoái Vùng 2: Sau khi mất Ban Mê Thuột, ngày 11-3-1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu tập một buổi họp tại Dinh Độc Lập với sự tham gia của các vị tướng lãnh cao cấp sau đây: 1) Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng; 2) Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, và 3) Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống (cựu Tư Lệnh Quân Đoàn 4). Sau khi nói qua về tình hình chiến sự, Tổng Thống Thiệu nói ra ngay quyết định của ông như sau: “Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chắc chắn chúng ta không thể bảo vệ được tất cả lãnh thổ mà chúng ta muốn bảo vệ. Như vậy, chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những vùng đông dân, trù phú, vì những vùng đất đó mới thật sự quan trọng.” [24] Như vậy, rõ ràng là buổi họp không phải để các vị tướng lãnh cao cấp đó, trong đó có vị Tổng Tham Mưu Trưởng, thảo luận và cho ý kiến, mà chỉ là để thông báo và để có được sự đồng ý của họ mà thôi. Ba ngày sau, ngày 14-3-1975, Tổng Thống Thiệu triệu tập một cuộc họp tại Cam Ranh, với thành phần tham dự giống như cuộc họp ngày 11-3-1975 tại Dinh Độc Lập cộng thêm Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Vùng II. Tại cuộc họp này, Tổng Thống Thiệu trực tiếp ra lệnh cho Tướng Phú “triệt thoái toàn bộ lực lượng của Quân đoàn 2/Quân khu 2 khỏi Cao nguyên, di chuyển về các tỉnh duyên hải miền Trung thuộc lãnh thổ Quân khu 2. “ [25] Kết quả là cuộc triệt thoái tai hại của Quân Đoàn 2, và là khởi điểm cho sự sụp dỗ quá sức nhanh chóng của VNCH
• Bỏ Huế: Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng, Tổng Trưởng Kế Hoạch tại thời điểm tháng 3-1975, đã kể lại chuyện bỏ ngõ Thành phố Huế như sau:
“ngày 25 tháng Ba 1975, một cuộc họp tại Dinh Độc Lập dưới quyền chủ tọa của Tổng thống Thiệu lúc 9 giờ 30 sáng. Hiện diện: ngoài Phó Tổng thống Trần Văn Hương và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm còn có Đại tướng Cao Văn Viên, Trung tướng Đặng Văn Quang, Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc, Tổng trưởng Kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng.
Các tin xấu liên tục của chiến trường khiến tất cả im lặng và cùng nghiên cứu bản đồ. Sau khi Tướng Khuyên trình bày về tình hình QK I và II, Tổng thống Thiệu nhấc máy điện thoại gọi Tướng Trưởng hỏi xem có giữ được Huế hay không. Rồi ông nhắc lại câu trả lời từ đầu giây bên kia:
Trung tướng Trưởng: “Nếu có lệnh, thì giữ.“
Tổng thống Thiệu: “Liệu giữ được bao lâu?“
Trung tướng Trưởng: “Ngày một ngày hai.“
Tổng thống Thiệu: “Vậy nếu không giữ được, phải quyết định ngay, và nếu quyết định (bỏ Huế) thì phải làm cho lẹ.“
Xoay qua mọi người, tổng thống Thiệu thở dài: “Mình trông cậy vào ba ‘enclaves’ (cứ điểm), mà bây giờ chỉ còn một ở Đà Nẵng.” Nghe vậy, ông Bắc và tôi bàng hoàng nhìn nhau. Như vậy là đã có lệnh rút khỏi Huế của Nguyễn Văn Thiệu.” [26]
Qua lời kể của Tiến Sĩ Hưng bên trên, chúng ta thấy rõ là, một lần nữa, Tổng Thống Thiệu đã đơn phương quyết định bỏ Huế, hoàn toàn không có thảo luận gì cả với các vị được mời tham dự buổi họp ngày 25-3-1975 này, trong đó có cả Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH.
Thay Lời Kết
Trong hoàn cảnh bị xâm lược từ Miền Bắc Cộng sản, quốc gia ở phía Nam vĩ tuyến 17 là VNCH bắt buộc phải tự vệ, và phải xây dựng một quân đội để chống lại các cuộc tấn công của Cộng quân. QLVNCH ra đời để làm nhiệm vụ thiêng liêng đó, và, trên thực tế, đã chiến thắng tất cả các cuộc tổng tấn công của kẻ địch trong suốt cuộc chiến. Và cơ quan đầu não của quân đôi, BộTTM QLVNCH, đã đóng một vai trò quan trọng trong các chiến thắng đó. Bộ TTMQLVNCH đã được tổ chức thật hoàn bị với đầy đủ các đơn vị chức năng do các cấp chỉ huy có đầy đủ khả năng và kinh nghiệm lãnh đao. Thật đáng tiếc, vào những ngày tháng cuối của cuộc tranh tự vệ này, Bộ TTMQLVNCH đã bị vô hiệu hóa bởi những quyết định đơn phương, độc đoán, và cũng hết sức sai lầm của vị nguyên thủ quốc gia, mà trên nguyên tắc, theo đúng Hiến Pháp, là Tổng Tư Lệnh của QLVNCH, đưa đến sự sụp đổ quá sức nhanh chóng của Miền Nam.
GHI CHÚ:
1. Chiến tranh Đông Dương, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Chiến tranh Đông Dương – Wikipedia tiếng Việt
2. Trường Bộ Binh Thủ Đức, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Trường Bộ binh Thủ Đức – Wikipedia tiếng Việt
3. Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua: việc từng ngày (1945-1964); tựa của Lãnh Nhân. Los Alamitos, Calif.: Xuân Thu, [1986], tr. 184.
4. Phan Khắc Sửu, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Phan Khắc Sửu – Wikipedia tiếng Việt
5. Phan Huy Quát, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Phan Huy Quát – Wikipedia tiếng Việt
6. Nguyễn Cao Kỳ, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Nguyễn Cao Kỳ – Wikipedia tiếng Việt
7. Bộ Tổng tham mưu Quân lực Viêt Nam Cộng Hòa, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa – Wikipedia tiếng Việt
8. Đại Tá Hoàng Ngọc Lung, sinh tháng 3 năm 1932 tại Thái Bình (Bắc Việt), tốt nghiệp Khóa Sĩ Quan Nam Định (1952), tác giả tác phẩm nổi tiếng Intelligence (tình báo) do Trung Tâm Quân Sử của Lục Quân Hoa Kỳ (US Army Center of Military History) xuất bản năm 1981.
9. Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH (vào những ngày cuối tháng 4/1975), tài liệu trực tuyến của Blog Một Thời Để Nhớ, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Một Thời Để Nhớ: Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH (Vào những ngày cuối tháng 4/1975). (hoangnhattho.blogspot.com)
10. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. California: Hương Quê, 2011, tr. 95-98.
11. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 104-107.
12. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 136-139.
13. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 155-157.
14. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 99-103.
15. Nguyễn Kỳ Phong. Một tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan tốt nghiệp, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Một tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan tốt nghiệp – Nguoi Viet Online (nguoi-viet.com)
16. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 177-178.
17. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 129-130.
18. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 117-119.
19. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy. Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sđd, tr. 170-172.
20. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 – Wikisource tiếng Việt
21. Bộ Tổng tham mưu Quân lực Viêt Nam Cộng Hòa, tài liệu đã dẫn.
22. Goldwater-Nichols Act, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Goldwater–Nichols Act – Wikipedia. Đao luật quan trọng này, ban hành vào ngày 4-10-1968, đã được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua với một đa số phiếu tuyệt đối như sau: tại Hạ Viện với tỷ số phiếu là 383-27, và tại Thượng Viện với tỷ số phiếu là 95-0.
23. Cao Văn Viên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Cao Văn Viên – Wikipedia tiếng Việt
24. Cao Văn Viên. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa; bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong từ Nguyên tác tiếng Anh The Final collapse. Centreville, Va.: VietnamBibliography, 2003, tr. 129.
25. 14-3-1975: Họp ở Cam Ranh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Thời Chinh Chiến: 14-3-1975: Họp Ở Cam Ranh (thoichinhchien.blogspot.com)
26. Trận đánh Huế và quyết định rút khỏi Huế của Nguyễn Văn Thiệu năm 1975, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Trận đánh Huế và lệnh rút khỏi Huế của Nguyễn Văn Thiệu năm 1975 – Chiến tranh việt Nam, Viet Nam War, hình ảnh, phim cuộc chiến chống Mỹ, Pháp (chientruongvietnam.com)











