Ba Năm Dạy Học Tại Kiến Hòa: Những Chuyện Vui Buồn
Giáo sư Lâm Vĩnh-Thế, M.L.S.
Cựu Học Sinh Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, 1953-1960
Cựu Giáo Sư Trưởng Ban – Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn
Viện Đại Học Vạn Hạnh, 1974-1975
Librarian Emeritus
Đại Học Saskatchewan, 1997 – 2006
CANADAtchewan, 1997-2006
CANADA
Tôi tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa, Khóa 3 (1960-1963) vào tháng 4-1963 với Hạng Bình Thứ như ghi rõ trong Chứng Chỉ Tốt Nghiệp do Giáo Sư Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký ngày 24-4-1963 như sau:
Sau khi tốt nghiệp, tôi được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm vào ngạch Giáo Sư Trung Học Đệ Nhị Cấp, Hạng 4, và nhiệm sở đầu tiên là Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre), và tôi đã dạy học tại đây trong 3 năm, 1963-1966. Bài viết này cố gắng ghi lại những chuyện vui buồn trong 3 năm đó mà, bây giờ ở tuổi 84 này, tôi vẫn còn nhớ được khá rõ ràng và đầy đủ.
Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa
Cổng Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa
Khi tôi đến trình diện nhận việc tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa (sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa) vào ngày 7- 10-1963, tôi bị Ông Hiệu Trưởng Bùi Văn Mạnh cằn nhằn như sau: “Sao ông trình diện trễ quá vậy? Trường đã khai giảng cả tháng nay rồi!” Tôi trả lời ông ngay: “Dạ xin ông Hiệu Trưởng thông cảm, tôi mới làm đám cưới hôm qua, bữa nay đi trình diện ngay; chúng tôi còn chưa đi hưởng tuấn trăng mật nữa. Tôi còn chưa có chỗ ở, xin ông Hiệu Trưởng cho tôi nghỉ phép 1 tuần để kiếm mướn nhà và dọn nhà từ Sài Gòn về đây.” Ông Hiệu Trưởng cũng đành phải cười trừ và đồng ý cho phép tôi thôi.
Năm học 1963-1964, lần đầu tiên từ ngày được thành lập, Trường Kiến Hòa nhận được cùng một lúc 7 Giáo Sư Đệ Nhị Cấp vừa tốt nghiệp ĐHSPSG cho đủ tất cả các môn học như sau:
• Môn Quốc Văn: Giáo Sư Nguyễn Văn Y
• Môn Pháp Văn: Giáo Sư Phan Thị Bạch Điểu
• Môn Anh Văn: Giáo Sư Nghiêm Văn Minh
• Môn Toán: Giáo Sư Đoàn Văn Phi Long
• Môn Lý-Hóa: Giáo Sư Nguyễn Cao Kiêm
• Môn Vạn Vật: Giáo Sư Hà Thị Ánh Hoa
• Môn Sử Địa: Giáo Sư Lâm Vĩnh-Thế
Lúc đó Trường Kiến Hòa có tất cả 15 lớp đệ nhị cấp gồm 6 lớp đệ tam, 6 lớp đệ nhị (đi thi Tú Tài 1), và 3 lớp đệ nhứt (đi thi Tú Tài 2). Trường cũng đã có được một Giáo Sư Sử Địa rồi. Đó là anh Lê Như Dực, một đàn anh của tôi, tốt nghiệp ĐHSPSG, Ban Sử Địa, Khóa 1 (1959-1961). Anh Dực và tôi quyết định chia nhau trách nhiệm như sau: anh Dực dạy 15 giờ Sử, và tôi dạy 15 giờ Địa để chúng tôi đở phải soạn bài quá nhiều. Tại thời điểm này, Bộ Giáo Dục có quy định là giáo sư đệ nhị cấp phải dạy 16 giờ một tuần, nhưng nếu có dạy các lớp đi thi thì được giảm 1 giờ, còn 15 giờ thôi. Nhờ vậy, anh Dực và tôi hoàn toàn đáp ứng được quy định về số giờ dạy mỗi tuần của Bộ.
Hình Lớp Đệ Nhứt A Trường Kiến Hòa – Niên Khóa 1965-1966
Hàng ngồi, từ trái qua phải: các giáo sư Huỳnh Thành Công (Pháp Văn), Nghiêm Văn Minh (Anh Văn), Lâm Vĩnh Thế (Sử Địa), Huỳnh Chiếu Đẳng (Lý-Hóa), Bùi Văn Mạnh (Hiệu Trưởng), Nguyễn Văn On (Anh Văn), Vũ Đình Lưu (Toán), và Đỗ Quan Triêm (Anh Văn, không có dạy lớp này)
Dạy Học Tai Trường Kiến Hòa
Lần đầu tiên đi dạy học, lại phải dạy gần cả chục lớp đi thi Tú Tài, mặc dù được đào tạo chính quy tại Trường ĐHSPSG, tôi vẫn không khỏi có phần lo lắng. Vì vậy tôi đã soạn bài rất kỷ, và đọc thêm rất nhiều tài liệu, trong đó có rất nhều sách bằng tiếng Pháp mà tôi đã mua ở các nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí và Xuân Thu, và trao đổi, thảo luận thường xuyên với anh Dực để học hỏi kinh nghiêm của Anh.
Với sự phân chia trách nhiệm giảng dạy giữa tôi và anh Dực như đã trình bày bên trên, tôi nghiểm nhiên trở thành “Ông Địa” của Trường Kiến Hòa. Và chẳng bao lâu, tôi đã tạo được một thành tích đáng kể tại trường: đó là lần đầu tiên học sinh Trường Kiến Hòa không còn “cúp cua,” bỏ học giờ Sử Địa nữa.
Khi dạy các lớp đệ tam về môn Địa Lý Đại Cương (Géographie Générale), phần Khí Hậu Học (Climatologie), tôi đã gây được sự thích thú cho tất cả học sinh khi tôi giảng rõ ràng tường tận về khí hậu của từng vùng trên thế giới nói chung và nói riệng về một hiện tượng khí hậu rất quen thuộc của tỉnh Kiến Hòa là Gió Chướng.
Khi dạy các lớp đệ nhị về Địa Lý Việt Nam, tôi cũng đã giải được nhiều thắc mắc của học sinh về hiện tượng Gió Mùa, tại sao sông Hồng ở Miên Bắc thì cần phải đắp đê, còn sông Cửu Long ở Miền Nam thì không cần đắp đê, và tại sao chỉ có vùng Phan Rang mới có các côn cát như vậy.
Khi dạy các lớp đệ nhứt về Địa Lý Kinh Tế của các cường quốc Anh-Mỹ, tôi đã giảng rõ cho các em sự hình thành, cũng như các đặc tính quan trọng, và tốc độ phát triển của các nền kinh tế đứng hàng trên đầu trên thế giới đó.
Những Chuyện Vui
Ngoài chuyện được gọi là “Ông Địa” của Trường Kiến Hòa, tôi cũng đã được chứng kiến một số chuyên vui vui, xin kể ra đây.
Chuyện thứ nhứt là như sau: trong kỳ thi tuyển vào các lớp đệ thất của trường hè 1964, lúc chấm thi, một giáo sư phát hiện được một câu trả lời quá độc đáo của một thí sinh và đã đọc lớn lên cho mọi người cùng nghe cho vui. Câu hỏi về Sử như sau: “Ai là người đã nói câu Ta thà làm quỷ nước Nam,” và học sinh đó đã trả lời như sau: “Vua Quang Trung bị quân Pháp bắt, Pháp dụ Vua Quang Trung về hàng, Vua Quang Trung đã khẳng khái trả lời rằng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chớ không thèm làm vua nước Pháp.”
Chuyện thứ hai là như sau: Cũng trong kỳ thi tuyển đó, bài thi về môn Cách Trí có một câu hỏi như sau; “Khi bị chó cắn em phải làm sao?” và một thí sinh đã trả lời như sau: “Ngoại em có nói là khi bị chó cắn thì phải mau mau chạy xuống bếp, lấy con dao yếm, mài mài qua mài lại chỗ vết thương, nam bảy lần, nữ chin lần.”
Chuyện thứ ba là như sau: Trong một kỳ thi tuyển khác, đề thi là: Các em hảy bình luận câu: “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ.” Một thí sinh đã trả lời như sau: “Loài thú vật như ngựa mà còn biết phép vệ sinh, không ăn cỏ để khỏi bị truyền nhiểm, vậy chúng ta là loài người thì cũng phải biết giữ vệ sinh.”
Những Chuyện Buồn
Chuyện buồn duy nhứt là như sau: Hôm đó tôi có giờ dạy ở Lớp Đệ Tam C, tôi ra đề cho các em làm bài, và bắt được một em ngồi ở cuối lớp “đánh phép.” Tôi tịch thu bài làm, phát cho em đó một tờ giây mới và ký tên vào đó để sau này khi chấm bài tôi sẽ trừ điểm. Vừa quay lưng đi trở lên bàn viết, tôi nghe tiếng xé giấy, quay lại thì ra em đó đã xé tờ giấy tôi vừa phát ra. Tôi tức giận hết sức nhưng cố giữ bình tỉnh và hỏi em đó tại sao xé tờ giấy tôi vừa phát đó. Em đó trả lời một cách hết sức xấc láo như sau: “Em đâu có xin chữ ký của thầy.” Không còn có thể nhịn được nữa, tôi lập tức làm biên bản, đưa học sinh đó ra Hội Đồng Kỷ Luật của Trường, và em đó bị đuổi học 3 ngày. Sau 3 ngày, không thấy em đó trở lại trường nữa, và theo lời của vài học sinh của lớp thì em đó đã bỏ nhà đi theo Viêt Cộng luôn. Tôi không còn nhớ tên của em học sinh đó, nhưng vẫn còn nhớ hình dáng như sau: người thấp, chắc cao chỉ độ trên dưới 1,6 mét, ốm yếu, mặt xanh xao, chân phải có tật, đi khập khiểng. Trong cuộc đời đi dạy hoc mấy chục năm của tôi, đây là trường hợp duy nhứt về học sinh quá sức vô kỷ luật mà tôi gặp phải.
Thay Lời Kết:
Trường Kiến Hòa là nhiệm sở đầu tiên trong cuốc đời đi dạy học gần 40 năm của tôi, tuy chỉ có 3 năm (1963-1966), nhưng đã để lại trong lòng tôi nhiều kỷ niệm, và thật rất may mắn, là buồn thì ít mà vui thì được nhiều, Trừ trường hợp duy nhứt của em học sinh vô kỷ luật đó, tất cả học sinh của Trường Kiến Hòa của tôi đều là những học sinh tốt, và có một số khá đông học rất giỏi, về sau đã tốt nghiệp các trường đại học danh tiếng tại Sài Gòn, và trở thành những chuyên viên cao cấp của Việt Nam Cộng Hòa, như bác sĩ, dược sĩ, kỷ sư và giáo sư, làm rạng danh Trường Kiến Hòa, và làm cho tôi cảm thấy thật ấm lòng và vô cùng hãnh diện.


