Anh Ở Nơi Nào, Ảnh Ở Đây?
(Lý Lịch Một Tấm Hình)
Captovan (Tô Văn Cấp)
L-R: Tr/Uý Quang, Th/Tá Đễ, các Đ/Uý Cấp, Hợp, Dzoan, Tr/Úy Tiền).
Đầu năm 1/2025, mở xấp hình cũ để tìm kỷ niệm, tôi ngắm thật lâu tấm hình 6 người lính thuộc Tiểu Đoàn 2 Thuỷ Quân Lục Chiến. Hình do Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc chụp tại hậu cứ Lê Hằng Minh (Thủ Đức) khoảng tháng 9/1969, khi đó tôi mới 28 tuồi, độc thân, không vui tính, lính nghèo Trâu Điên. Tấm hình đã thọ được 56 năm, còn tôi bước sang tuổi 84. Mỗi năm ngắm lại tấm hình lại có cảm giác khác nhau, niềm vui tang theo tuổi thọ của tấm hình.
1/2025: Nhìn thật lâu những người trong hình, thương cho chính mình và nhớ đến các anh, lòng tôi bồi hồi xúc động, thầm hỏi: “Ảnh ở nơi này, còn 5 anh thì bây giờ ở đâu”?
***
Bị thương ở đâu, khi nào, tại sao?
Ngày 29/6/ 1969: Tiểu Đoàn 2 Thuỷ Quân Lục Chiến (TQLC) dừng quân bên hông chợ Hoả Lựu (Chương Thiện) để nhận tiếp tế rồi tiếp tục hành quân, trong khi chờ anh em phân phát thực phẩm, 3 đại đội trưởng chúng tôi gồm Vũ Đoàn Dzoan, Trần Văn Hợp, Tô Văn Cấp vào chợ uống café, bất ngờ gặp Phạm Hiệp Sỹ đang ăn sang. Sỹ vẫy tay gọi, thế là chúng tôi ngồi cùng bạn bè vui. Sỹ là bạn cùng Khoá 19 Võ Bị, nhưng ra trường sớm, không ngờ bạn ta về TĐ.4/TQLC và cũng dừng quân tại đây để nhận tiếp tế.
Sỹ nổi tiếng là “dân chơi”, mở nắp bi-đông rót chất cay, chúng tôi ực mỗi thằng một hớp, thấy thế Sỹ mời tiếp nắp thứ hai. Vì tửu lượng kém, lại sắp nhảy trực thăng nên tôi ngần ngừ. Hợp sợ Sỹ mời nắp thứ ba nên nói với tôi như cố ý cho Sỹ cùng nghe:
-Cấp, mày cần tình táo, lát nữa nhảy trực thăng đấy.
Tôi ngớ ra, chưa hiểu hết ý thì Hợp nháy mắt nói tiếp:
-Hôm nay là ngày “sát khí”, ngày này 3 năm trước TĐ.2 bị phục kích tại Phong Điền (Huế) Trung Tá Lê Hằng Minh tử trận, anh Phúc, mày và tao đều bị thương. Hôm nay cũng lại Anh Phúc, mày và tao nhảy vào mục tiêu, mày phải cẩn thận.
À ra thế, Hợp tế nhị nhắc khéo Sỹ: “Tửu bất khả ép” khi đang hành quân.
Ba năm trước, ngày 29/6/1966, TĐ.2 bị Việt Cộng phục kích tại cây số 17, Quốc Lộ 1, Phong Điền (Huế) khiến Trung tá Tiểu Đoàn Trưởng Lê hằng Minh cùng 41 quân nhân tử trận, 95 bị thương, trong đó có Anh Phúc bị đạn xuyên từ ngực ra sau lưng, Hợp bị thương bắp vế, Cấp bị bắn vào khuỷu tay.
Ba năm sau, ngày 29/6/1969, TĐ.2 chia làm 2 cánh để nhảy trực thăng hành quân vào mục tiêu, vùng kinh Cán Gáo, tỉnh Chương Thiện.
Cánh A: do Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc cùng với Đại Đội 1 của Lâm Tài Thạnh, Đội Đội 2 của Trần Văn Hợp và Đại Đội Chỉ Chỉ Huy.
Cánh B: gồm ĐĐ.4 của Vũ Đoàn Dzoan và ĐĐ.3 của tôi. Vì không có Tiểu Đoàn Phó đi theo nên anh Phúc giao cho tôi chỉ huy Cánh B.
Trực thăng đổ quân từ ngoài đồng trống ngập nước, quân ta dàn hàng ngang đạp sình tiến vào sau khi “phi pháo” đã dọn mục tiêu. Khi thấy địch từ trong bắn ra, tôi nghĩ ngay tới trường hợp tương tự khi Đại Đội tôi tấn công vào kinh Cái Thia (quận Cai Lậy) sáng 31/12/1967: Sau khi phi cơ, pháo binh đã dọn mục tiêu, chúng tôi từ ngoài đồng trống tiến vào, địch từ trong bắn ra, Trung Uý Nguyễn Quốc Chính, đại đội phó của tôi đã bị đạn xuyên màng tang, tử thương, nên lần này tôi vội cho lệnh Ban Chỉ Huy Cánh B (có cố vấn Mỹ đi theo) tản bớt ra, nương theo bờ mương, rặng dừa nước tiến tới, nhưng…
…Nhưng chưa kịp thì hành thì một tiếng nổ lớn hất tung tôi lên!
Khi tỉnh lại, tôi thấy mình nằm dưới bùn nước, ngộp thở, không cử động được! Tôi biết mình bị thương nặng, nhưng chưa “đi” vì còn cảm thấy lạnh buốt xương.
Nửa tỉnh nửa mê, loáng thoáng tôi nghe tiếng Đại Uý Dzoan gọi tản thương, cố vấn Mỹ bị cụt tay được chở thẳng ra “bệnh viện” Hạm Đội, tôi và vài bị thương, tử thương được chở về bệnh viện Phan Thanh Giản Cần Thơ để “sơ cứu”.
Tôi không biết đích xác 5 chúng tôi bị thương vì vũ khí gì của VC? Mìn, pháo kích, hay B40? Có lẽ mấy cái cần ăng-ten của máy truyền tin là mục tiêu ưa thích của B40.
Toán quân y và Bác Sĩ Hạnh TQLC trực tại bệnh viện Phan Thanh Giản đã nhanh chóng lo cho thương binh của mình nên tôi được chuyển về bệnh viện Lê Hữu Sanh.
Bệnh viện Lê Hữu Sanh* (Thị Nghè, Saigon) là bệnh viện TQLC điều trị cho các thương bệnh binh Binh Chủng, thay vì phải đưa vào bệnh viện Cồng Hoà (Gò Vấp).
(*Bác Sĩ Lê Hữu Sanh là Y Sĩ trưởng Tiểu Đoàn 5/TQLC, đã tử trận cùng với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng, cố vấn Mỹ và hẳng trăm quân sĩ vào ngày 12/5/1966 tại Mộ Đức Quảng Ngãi)
Khi tôi về điều trị tại Lê Hữu Sanh thì đã có Đ/Uý Nguyễn Kim Tiền TĐ.3, anh bị bắn gãy xương ống quyển ở trận núi Mây Tàu, Long Khánh. Vài ngày sau thì đến Đ/Uý Đoàn Đức Nghi TĐ.5, anh bị bắn vào đùi (sau này Thiếu Tá Nghi tử trận), tiếp đến là Đ/Uý Lê Bá Bình TĐ.3. Trong số mấy thương binh này tôi là người bị nặng nhất, gãy chân phải, gãy tay trái, đứt gân tay phải, máu chui ra từ miệng và lỗ tai, nhưng nhờ tải thương kịp thời và tài “mổ xẻ khâu vá” của các Bác Sĩ TQLC nên tôi không bị cưa, nhưng phải bó bột chân phải, tay trái, bao quanh ngực nên trông giống như robot!
Xin gửi lời cám ơn muộn màng đến các “thần y” áo trắng TQLC Trần Công Hiệp, Trương Minh Cường, Nguyễn Văn Dõng, Nguyễn Văn Hạnh, nhất là hai vị y tá săn sóc tôi hằng ngày khiến tôi chảy nước mắt vì cảm động, chảy nước mắt vì đau, đó là Y Tá Thượng Sĩ Nguyễn Văn Kha và Hạ Sĩ Bùi Văn Thành.
Mỗi buổi sáng khi Y Tá Thành xuất hiện với y cụ để săn sóc vết thương là tôi sợ run. Vì xương ống chân tay bị bể nên Hạ Sĩ Thành phải săn sóc kỹ, mỗi lần anh dùng que nhét miếng băng vào sâu trong vết thương để thấm hết máu mủ rồi kéo ra, đôi lúc miếng băng chạm vào những đầu miếng xương vỡ là bệnh nhân tôi điếng hồn, tê-lê-mê đi.
Còn Thượng Sĩ Kha, mỗi khi thay bột, anh dùng lưỡi cưa máy tròn, quay như xé gió cắt lớp bột cũ bó chân tay khiến thương binh tôi hồi hộp, cắn răng, nín thở, chỉ sợ lưỡi cưa phập xuống là tiêu đời trai! Y Tá Kha cười thương hại giải thích:
-Trước khi bó bột thì phải quấn nhiều lớp bông gòn để bảo vệ lớp da thịt, nhờ đó mỗi khi lưỡi cưa vừa chạm tới lớp bông gòn thì lưỡi cưa bị bông quấn dừng lại.
Nghe và hiểu, nhưng mỗi lần thay bột là tôi đổ mồ hôi ướt áo, ướt quần…
Hôm ấy, sau khi Bác Sĩ Trần Công Hiệp khám các vết thương xong là Y Tá Kha thay bột, thường 3 tháng thay một lần, vậy là tôi đã nằm bệnh viện được 3 tháng.
Sau hơn hai tiếng Y Tá Kha bó bột mới xong, tôi mệt nhoài, thêm nỗi khổ là ngứa chân tay, ngứa ghê gớm mà cứ gãi bên ngoài lớp bột, không đúng chỗ ngứa thì thật khổ! Chịu không nổi, tôi phải dùng que sắt đầu quấn bông gòn nhúng alcool, thọc vào dưới lớp bột và bông gòn, kéo lui đẩy tới, gãi bên trong, mắt lơ mơ như say thuốc lào, thế mới biết: “gãi đúng chỗ ngứa” thì sướng kể gì, gãi đúng chỗ ngứa choVIP thì hưởng phú quý.
Thương binh tự gãi thì sau cơn “đã ngứa” là những xót xa do alcool thấm vào da thit trầy xước, những nỗi lo âu là có thể tôi bị loại khỏi chiến trường!
Đã bốn lần “đạn đi qua người tôi”, nhưng chỉ sau vài tuấn, đôi ba tháng, nghỉ phép chờ tái khám là tôi được trở lại đơn vị tác chiến, nhưng lần này, theo lời bác sĩ Trần Công Hiệp thì giá chót tôi cũng bị phân loại 2 vĩnh viễn, bị thuyên chuyển về Đơn Vị 3 Quản Trị Trung Ương (tại Đường Tô Hiến Thành) để chờ giải ngũ!
-Không bao giờ rời Binh Chủng, không bao giờ giải ngũ, tôi còn chân đứng mà, trừ khi bác sĩ cưa. Tôi sẽ ở lại và tôi đã ở lại tới giờ thứ 25 của ngày 30/4/1975.
Còn đang mơ màng với cái thú “đau thương” thì tôi nghe ồn ào ngoài hành lang rồi họ ào vào phòng tôi như cơn gió lốc, họ là Th/Tá Nguyễn Xuân Phúc TĐT/TĐ.2, Th/Tá Nguyễn Kim Đễ TĐP, Đ/Uý Trần Văn Hợp, Đ/Uý Vũ Đoàn Dzoan, Tr/Uý Nguyễn Văn Quang* Đại Đội phó của tôi. Sau hơn 3 tháng hành quân vùng U Minh, Chương Thiện, họ mới về hậu cứ để tái trang bị, bổ xung quân số, nghỉ đôi ba tuần rồi lại đi hành quân tiếp khắp các chiến trường. Anh Phúc bảo tôi:
-Thay quần áo đi rồi về hậu cứ chơi, kỳ tới tụi tao đi xa và lâu hơn.
Mấy tháng nay rồi, tôi “lái” xe lăn quanh quẩn trong căn phòng bao trùm mùi alcool, thuốc đỏ, tôi thèm không khí “tự đo”, nay được về hậu cứ vui cùng cấp chỉ huy, đồng đội thì còn gì bằng. Tôi xin phép BS Hiệp, ông đồng ý ngay, thay quân phục xong, anh em khiêng tôi ra xe chạy về hậu cứ- Trại Lê Hằng Minh, Thủ Đức.
Niềm hạnh phúc nhất đời lính chiến là sau khi bị thương mà còn được trở về thăm đơn vị cũ trong vòng tay ấm áp và nụ cười của cấp chỉ huy, đồng đội, đàn em. Tôi đã được hưởng diễm phúc đó, càng vui hơn khi chính Tiểu Đoàn Trưởng chụp cho những tấm hình để làm kỷ niệm. Những tấm hình quý giá theo thời gian và cũng đầy thương tiếc đau buồn khi nhìn tấm hình đã thiếu đi một vài người, họ đã không trở về sau chuyến hành quân!
Tấm hình nhỏ bé này tôi bất ngờ tìm thấy trong một cuốn sách khi tôi dọn nhà từ Lawndale LAX về Little Saigon năm 2000. Tôi không thể nhớ vì sao, bằng cách nào tôi còn giữ được tấm hình này sau nhiều năm tháng chiến tranh, tù đày, rồi tị nạn CS. Ngược lại tôi nhớ từng chi tiết “lý lịch”, dù tấm hình đã chụp hơn 56 năm (9/69).
Rồi tình cờ, một người bạn trẻ thấy tấm hình, anh đề nghị phóng to ra treo tường
-Tôi cũng muốn lắm, nhưng chưa biết làm cách nào?
-Để em lo, “lệ phí” là một bài viết về “lý lịch” tấm hình này.
Vui biết bao khi tôi đã có tấm hình thật lớn treo tường.
Cháu ngoại nhìn tấm hình thấy chân tay tôi bó bột, cháu hỏi:
– “Ông ngoại bị đụng xe hả?”
Tôi cười, làm sao giải thích cho tuổi thơ, tuổi trẻ hải ngoại hiểu được đó là những ông thương phế binh của Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà, không phải ông bị đụng xe, mà là đạn “hit” ông khi ông chống lại bọn VC giống như… như IS. Đó niềm hãnh diện của những người lính già, tôi dùng hình này để làm bìa cuốn sách viết về “Huynh Đệ Chi Binh TQLC” với hy vọng các cháu khi lớn lên, biết đọc tiếng Việt, biết đọc “Huynh Đệ Chi Binh TQLC” thì sẽ hiểu vì sao các cháu có mặt trên dất nước tự do USA này và thương mến các ông già Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hoà.
Tôi ngắm 5 đồng đội ngoài bìa sách, còn nội dung là Huynh Đệ TQLC, thương nhớ các anh: “Anh ở nơi nào, ảnh ở đây”
Tấm hình này do Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc- Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2/TQLC, chụp tại hậu cứ-trại Lê Hằng Minh (Thủ Đức) nhân dịp Tiểu Đoàn về nghỉ ở hậu cứ để bổ sung quân số, tái trang bị vũ khi sau hơn 3 tháng hành quân Chương Thiện, U Minh, để rồi anh em lại lên đường hành quân từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, vượt biên diệt trừ Pôn-Pốt, thấm máu Hạ Lào.
Tấm hình giống như bao tấm hình khác ghi lại cảnh “đồng đội cũ, chiến trường xưa”, nhưng với tôi, khi đứng ngắm tấm hình xưa thì lòng dâng lên niềm cảm xúc nghẹn ngào, nhớ thương của người lính già tuổi 84:
-“Người lính già đôi môi mấp máy như muốn nói điều gì. Người lính già bật khóc…! Người lính già khóc thấy mình bất lực”.
(Trích thơ: Người Lính Già của tác giả Nguyễn Đình Hiếu)
Tôi bất lực không thể nói hết tất cả bi hùng tráng thời trai của những người trong tấm hình, các anh và tôi có những liên quan sống chết mật thiết với nhau. Các anh là những “tay sung xuất sắc” thuộc TĐ.2/TQLC, tục danh “Trâu Điên”, đó là:
-Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu Đoàn Trưởng (người chụp, không có trong hình)
-Thiếu Tá Nguyễn Kim Đễ, Tiểu Đoán Phó
-Đ/Uý Trần Văn Hợp, Đại Đội Trưởng Đại Đội 4
-Đ/Uý Vũ Đoàn Dzoan, Dại Đội Trưởng Đại Đội 2
-Trung Uý Phạm Văn Tiền, Đại Đội Phó Đại Đội 2
-Trung Uý Nguyễn Văn Quang Đại Đội Phó Đại Đội 3.
-Đại Uý Tô Văn Cấp Đại Đội Trưởng Đại Đội 3.
-Trung Uý Lâm Tài Thạnh, Đại Đội Trưởng Đại Đội 1 (không có trong hình)
Trung Uý Nguyễn Văn Quang.
Anh sinh năm 1943, tốt nghiệp Khoá 19 Thủ Đức ngày 27/8/1965, tình nguyện về Binh Chủng TQLC. Ngắm hình Trung Uý Quang cười làm tôi nhớ lại đoạn đường chiến binh mà anh là Trung Đội Trưởng và tôi là Đại Đội Trưởng ĐĐ.1/TĐ.2 cùng nhau bò dưới hoả lực địch quân suốt mấy năm trời, nhất là giai đoạn chiến trường gay cấn, từ trận kinh Cái Thia 31/12/1967 đến Mậu Thân tại Sài Gòn, trận Cầu Khởi, Bời Lời ngày 14-16/9/1968. Chỉ trong vòng một năm, TĐ.2/TQLC đã 3 lần được tuyên dương công trang trước Quân Đội, trong đó có sự đóng góp máu và nước mắt của Trung Uý Quang
Công trạng như thế, thâm niên như thế, nhưng khi ngồi chụp tấm hình này (9/1969), anh mới chỉ là Tr/Uý Đại Đội Phó, trong khi đồng Khoá 19 Thủ Đức của anh ở binh chủng khác đã là đại đội trưởng, tiểu đoàn phó hoặc cao hơn. Nhưng anh không hề so bì, than vãn, mà vẫn hãnh diện là một TQLC, dù con dường tiến bước đầy chông gai.
Đây là tình trạng chung của Binh Chủng TQLC, “đất chật người đông”, trong khi các đại đội trưởng là đại uý thì làm sao có chỗ cho các anh vươn lên, trừ khi đại đội trưởng bị loại khỏi vòng chiến, trọng thương hay tử thương. Đó là trường hợp của tôi và Quang. Trung Uý Nguyễn Văn Quang là Đại Đội Phó của tôi, sau khi tôi bị loại khỏi vòng chiến (6/69) thì Tr/Uý Quang mới được “xử lý” đại đội trưởng. Nhưng…
Tôi không muốn viết những chữ “nhưng”, nhưng Tr/Uý Quang-ĐĐP của tôi, mới vừa chạm tay tới mục tiêu hằng mong ước: “Đại Đội Trưởng TQLC” thì gãy gánh nửa đường, Tr/Uý Quang đã tiến nhanh, quá nhanh như viên đạn xuyên qua người Anh trên chiến trường Campuchia, Tr/Uý Nguyễn Văn Quang được truy thăng Cố Đại Uý!
Bạn tôi, Văn Quang- cố Đại Uý ở tuổi 27, chưa vương thê nhi.
Tôi quý anh, nhớ anh, ảnh ở đây, giờ này anh ở đâu!
Thiếu Tá Nguyễn Kim Đễ:
Anh tốt nghiệp Khoá 16 Võ Bị Đà Lạt ngày 22/12/1962, trong khi tôi mới chỉ là Tân Khoá Sinh Khoá 19 vừa mới nhập trường Võ Bị ngày 23/11/1962.
Năm 1965, sau trận Ấp Bắc, anh từ Sư Đoàn 7BB tuyên chuyển về TQLC, anh làm Đại Đội Trưởng ĐĐ.4/TĐ.5/TQLC thì tôi làm Đại Đội Phó cho anh. Sang năm 1966, anh và tôi cùng được thuyên chuyển về TĐ.2/TQLC. Sau một thời gian làm trung đội trưởng cho Anh Nguyễn Xuân Phúc thì tôi lại đựợc chuyển sang làm ĐĐP/ĐĐ.1 cho Anh Kim Đễ. Khi Anh Đễ lên làm Tiểu Đoàn Phó TĐ.2 thì tôi thay anh, làm ĐĐT/ĐĐ.1. Khi anh đi làm TĐT/TĐ.9 Mãnh Hổ thì tôi vẫn ở lại TĐ.2. Những tưởng rằng “đường ai nấy đi”, nhưng không, khi anh là Tr/Tá Trưởng Phòng Ba Sư Đoàn thì tôi lại thuyên chuyển về làm Trưởng Ban Hành Quân thuộc Phòng Ba.
Trong số 10 anh Khoá 16/Võ Bị về TQLC thì tôi là thuộc cấp trực tiếp của 6 anh, theo thứ tự thời gian đó là các anh: Nguyễn Kim Đễ, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Ngọc Toàn, Phạm Văn Sắt và Trần Văn Hiển. Các anh là những cấp chỉ huy giỏi, là thày của tôi. Các anh đã là Tiểu Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn Phó, Lữ Đoàn Trưởng và Trưởng Phòng Ba Sư Đoàn.
Thày giỏi thì không có trò tồi, tôi đã học được nơi các anh những điều cần thiết của một quân nhân TQLC.Tôi có quá nhiều kỷ niệm vui buồn với các anh.
Với anh Nguyễn Kim Đễ, kỷ niệm đầu đời của tôi với anh là “khói lửa” trận Đức Cơ 1965. Trên đường tiến quân cứu đồn Đức Cơ đang bị địch bao vây, anh là ĐĐT/ĐĐ.4/TĐ.5 ra lệnh cho tôi và Phạm Thanh Quang (cùng Khoá 19VB) tiến quân thật nhanh, khi ta và địch gần nhau thì “thần hỏa” AD6 mang bom napalm đội xuống giao thông hào thiêu địch thì anh em tôi cũng bị sức nóng làm quăn tóc, tay tôi bị phỏng vì miểng săng đặc văng vào tay. Năm 2015, từ Oregon, anh gửi tặng tôi bộ quân phục TQLC với lời ghi chú:
-“Sau trận Ấp Bắc, anh từ SĐ.7 BB thuyên chuyển về TĐ.5/TQLC, chú đã tặng anh bộ quân phục nylon TQLC, nay nhớ kỷ niệm xưa, anh tặng lại chú”.
Một kỷ niệm tình huynh đệ hơn nửa thế kỷ mà anh còn nhắc lại khiến tôi mủi lòng và rồi, tin anh đột ngột ra đi, tôi chỉ kịp ghi vài dòng để tưởng nhớ đến một người anh đáng kính phục: “Trâu Già, Mãnh Hổ Nguyễn Kim Đễ”
***
-“Trâu Già, Mãnh Hổ, Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ.
Khóa 16 Trường Võ Bị Quốc Gia,
Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 9, Trưởng Phòng Ba SĐ/TQLC.
Một Cọp Biển can trường,
Một cấp chỉ huy lý tưởng,
Một con chiên ngoan đạo,
Một người chồng người cha gương mẫu
Đã sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa.
Nhưng gia đình, đồng đội, đồng môn, đồng khóa thương tiếc Anh”.
Đại Uý Trần Văn Hợp.
Hợp và tôi tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị, cùng được chọn về TQLC nhưng khác tiểu đoàn nên chúng tôi chỉ thỉnh thoảng gặp nhau. Ngày tôi bị kỷ luật, bị thuyên chuyển từ TĐ5 về TĐ2, thấy Hợp mang xe GMC đến đón khiến tôi mừng thầm:
-“Về đơn vị mới mà có bạn cùng khóa thì cũng đỡ bơ vơ”.
Nghĩ vậy nên tôi đến chào Trung Úy Hợp đúng theo quân kỷ, Hợp hững hờ đưa tay ra cho tôi cầm rồi hắn chỉ tôi leo lên phía sau xe GMC ngồi chung với anh em binh sĩ, trong khi hắn ung dung lên “cabin” ngồi một mình!
Đắm tàu tưởng gặp phao, hóa ra đụng bọt biển! Có một cái gì đó gần giống nhau của anh Phúc và Hợp đối xử lạnh nhạt với tôi. Không hiểu sao lúc đó tôi lại không đi uống rượu, chửi thề, hoặc bỏ về Saigon chơi cho bõ ghét. Sau vài lần “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, nhất là sau trận Bích La Thôn, cả hai anh Phúc và Hợp đã cho tôi một nụ cười.
Khi Hợp lên làm Đại Đội Trưởng ĐĐ4 thay anh Phúc, tôi cũng được đôn lên làm Đại Đội Phó cho Hợp, cùng nhau vui chơi và làm việc cho đơn vị mà không phân biệt trưởng phó, chính vì vậy mà đã có lần Hợp chửi tôi “ngu”.
Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Định) vào thời điểm 1967 du kích nhiều như cát, ẩn hiện như ma, ngày thì lặn, đêm đêm chui ra vác loa kêu gọi “Lính Thủy Đánh Bộ” đầu hàng! Nghe mãi nhức đầu, sôi máu, nên một đêm tôi lựa mấy tay “đen-đen” cùng tôi đi phục kích để bịt miệng mấy tên này mà không báo cho Hợp biết. Toán phục kích tóm được một tổ tam-tam, một AK, một mã tấu, và một chị thổi loa. Hí hửng mang loa về khoe, Hợp khen toán phục kích giỏi rồi ghé tai tôi nói nhỏ:
– Mày ngu bỏ mẹ, du kích vùng này đông như cỏ dại. Nhiệm vụ này đâu phải của đại đội phó, lỡ xảy ra chuyện gì thì liệu có đáng không?
Lần đầu gặp nhau, hắn đưa tay cho tôi cầm khiến tôi ghét hắn bao nhiêu thì lần Hợp chửi tôi “ngu”, thì tôi lại quý hắn bấy nhiêu. Tôi hiểu tấm long và sự lo lắng của cấp chỉ huy xen lẫn tình bạn bè trong lời hắn sỉ vả tôi: “Mày ngu”.
Một thời gian ngắn sau, tôi lên coi ĐĐ.1, Hợp vẫn coi ĐĐ.4, tuy không còn chung một đại đội, nhưng chung Tiểu Đoàn 2, dù hành quân hay về hậu cứ thì 3 tên độc thân Hợp, Chính (ĐĐP của tôi), và tôi đều buồn vui có nhau như anh em một nhà.
Rồi Nguyễn Quốc Chính tử trận bên kinh Cái Thia, Cai Lậy (31/12/1967).
Tháng 6/1969 tôi bị loại khỏi vòng chiến bên kinh Cán Gáo, Chương Thiện.
Hợp tiếp tục cầm súng, làm Tiểu Đoàn Phó TĐ.2 theo anh Nguyễn Xuân Phúc vượt biên qua Campuchia tìm Pon-Pốt, sau Hạ Lào 719, Hợp thay thế anh Phúc để trở thành Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/TQLC cho tới giờ thứ 25 ngày 30/4/1975.
Trong số hơn 30 Thiếu Úy Khoá 19 Võ Bị tình nguyện về TQLC từ 28/11/1964, sau một thời gian dài chinh chiến thì đa số bị tử thương và bị thương, bị loại khỏi vòng chiến, Hợp tiếp tục chiến đấu và là tiểu đoàn trưởng duy nhất trong số hơn 30 đồng khóa
Không thể kể hết những trận đánh và chiến công của Hợp, vả lại nếu có thì đó cũng là công trạng chung của Tiểu Đoàn mà không của riêng ai. Vì thế trong bài này, tôi sẽ không đề cập tới “tiếng súng chiến trường” mà chỉ là tâm tình riêng.
Sau hơn 1 năm nằm bệnh viện Lê Hữu Sanh, rồi về căn cứ Sóng Thần Thủ Đức, đầu năm 1973, tôi về làm việc tại Trung Tâm Hành Quân và Phòng Ba Sư Đoàn tại Hương Điền Quảng Trị. Tại đây mỗi khi các Tiểu Đoàn Trưởng TQLC về họp tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn thì Hợp đều ghé qua Phòng Ba tìm tôi, hắn im lặng đưa tay cho tôi bắt. Tôi nắm trong đó được một ít tiền lẻ đủ vài chầu cơm hàng cháo chợ của quán mụ Luyến bên bờ Phá Tam Giang. Có lúc tôi giả bộ chê: “Sao mày rách thế?” Thì hắn chỉ mỉm cười.
Ít nói là bản tính của Hợp, kín tiếng ngậm miệng ngay cả khi “mở rộng bàn tay”. Những đàn em như Lê, như Trần đều không hay biết gì về việc Tiểu Đoàn Trưởng Trần Văn Hợp đề nghị thăng cấp thiếu tá cho họ. Họ tâm sự:
– Tụi tôi không hay gì cả, chỉ khi được gọi lên Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn gắn lon thiếu tá mới biết do anh Hợp đề nghị.
Sống chết với nhau nhưng chúng tôi không hề biết tôn giáo của nhau, không chùa mà nhà Chúa cũng không. Đời lính tráng chỉ biết theo đạo nhà binh, nhưng “cách cho” của Hợp có vẻ như làm theo lời khuyên của thánh kinh:
“Khi tay phải làm việc thiện đừng cho tay trái biết.”
Sáng 29/3/1975, Hợp và tôi gặp nhau tại bờ biển Non Nước, Đà Nẵng, rồi lênh đênh xuôi Nam, chia nhau gói mì tại vịnh Cam Ranh, về tới bãi biển Vũng Tàu vào những ngày giữa tháng 4/75. Chỗ nào thì cũng chỉ nhìn nhau lắc đầu, mong sao không còn phải lui nữa.
Những ngày cuối tháng 4/1975, trong khi “hậu phương” Sài Gòn tìm mọi phương tiện để ra biển thì tất cả quan lính TQLC lại từ bờ biển Vũng Tàu tiếp tục chiến đấu từ Biên Hoà, Long Bình rồi cố thủ tại căn cứ Sóng Thần tới giờ thứ 26 ngày 30/4/1975.
Sáng 30/4/1975, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh buông súng, các Tiểu Đoàn Trưởng họp cùng Đại Tá Tư Lệnh Phó TQLC tại Bộ Chỉ Huy căn cứ Sóng Thần (Thủ Đức) rồi nhận lệnh “giã từ vũ khí”!
Trời bỗng đổ một cơn mưa rào, trời cũng phải khóc vì chúng tôi khóc. Hợp và tôi dựa lưng nhau chùi nước mắt, vất xe jeep, lội bộ từ Thủ Đức về Thị Nghè (vì gia đình chúng tôi cùng ở trong trại gia binh Cửu Long). Khi đi ngang ngã ba Giồng Ông Tố, thấy súng nổ, mấy tên VC BK vác AK chạy tới chạy lui trên xa lộ miệng chửi tục:
– ĐM. tụi Trâu Điên còn ngoan cố chống cự.
Đang khóc trong lòng mà tôi cũng phải mím môi cười, nói thầm bên tai Hợp:
– Đàn em mày còn tiếp tục chiến đấu mà mình… chúng mình thua đàn em rồi!
Sau vài tuần ngơ ngáo, ngày 15/6/1975 chúng tôi cùng “rủ nhau” vào tù, gặp đủ mặt “anh hào” cùng chung một trại Long Giao, không sót một ai, cùng chia nhau trái đắng.
Trong buổi “lên lớp” đầu tiên tại trại tù Long Giao về đề tài “Ngụy Quân, Ngụy Quyền”, tên “giáo viên” VC kết tội cả các vị tuyên úy, bác sĩ, rồi bọn nó cao giọng nạt nộ, dõng dạc và dứt khoát tuyên bố:
– Những cái gọi là Trâu Điên, Cọp Đầu Rằn thì sẽ bị trừng trị đích đáng!
Tôi lại có dịp thúc cùi chỏ vào ba sườn Trâu Điên Hợp nói nhỏ: “Nó hù mày.”
Mặt Trâu Điên Hợp vẫn tỉnh bơ, quả thật điếc không sợ súng.
Rồi tôi trước, Hợp sau, lưu đày đất Bắc. Tôi và Hợp bắt tay từ giã nhau tại trại tù Suối Máu (Biên Hòa) năm 1976 mà không biết đó là lần chia tay sau cùng!
Trâu Điên Trần Văn Hợp đã bị “trừng trị đích đáng” trong rừng núi vùng Thượng Du Bắc Việt như lời tuyên bố của “giáo viên” tại trại tù long Giao!
Trâu Điên Hợp tung hoành khắp mọi miển đất nước, nhưng sau cùng bị gãy sừng và Trâu Điên tử nạn trong tù bởi vũng “chân trâu”!
Đời binh nghiệp của Hợp gắn liền với Tiểu Đoàn Trâu Điên, từ những ngày đầu tiên 11/1964 là Trung Đội Trưởng, Đại Đội Trưởng cho những ngày cuối cùng 29/3/75, Hợp vẫn là Tiểu Đoàn Trưởng thuộc quyền Lữ Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Vì thế, những đức tính cần có và đủ của một cấp chỉ huy tác chiến lý tưởng thì Trần Văn Hợp là “bản sao” của anh Nguyễn Xuân Phúc:
“Cấp chỉ huy giỏi thì không có thuộc cấp tồi.”
Trần Văn Hợp là Tiểu Đoàn Trưởng Trâu Điên cuối cùng và không còn nữa nhưng vẫn còn mọi sự mến mộ của thượng cấp, bạn bè và lòng kính trọng của thuộc cấp.
Một thượng cấp trong Binh Chủng đã nói về Hợp như thế này:
– Ai đó có thể ghét, nhưng không ai có thể khinh thường Hợp được.
Dù đã về Thiên Quốc như các Trâu Điền Trưởng Lê Hằng Minh, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Văn Hợp, hay còn nặng nợ với trần gian như Đồ Sơn Ngô Văn Định, tôi xin nghiêng mình kính phục các TRÂU ĐIÊN TRƯỞNG, những cấp chỉ huy lý tưởng của Binh Chủng TQLC, những người con yêu quý của Quân Lực VNCH.
Các anh đã cùng quân nhân các cấp chiến đấu khắp mọi miền đất nước, từ Bến Hải đến Cà Mau, Kampuchea, Hạ Lào, tái chiếm Cổ thành Quảng Trị, làm đẹp màu cờ sắc áo rằn ri với dây biểu chương màu Tam Hợp, Quân Kỳ TĐ2/TQLC Trâu Điên đã 8 lần được tuyên dương công trạng trước Quân Đội, trong đó công trạng của Hợp không phải là ít.
Khi ngồi chụp tấm hình này, Hợp cười nhạo tôi:
-Mày tiêu rồi, hết nhảy dù rồi nhá, thế là thọ rồi.
Bị loại khỏi vòng chiến là “thọ” ư? Tôi làm bộ giận, đáp:
-Coi chừng, tao cho cái cùi chõ bây giờ.
Trần Văn Hợp, một đồng đội, một cấp chỉ huy thân thiết và lý tưởng của tôi.
Đại Úy Vũ Đoàn Dzoan.
Vào thời gian 1969-70, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2/TQLC là anh Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu Đoàn Phó (TĐP) là anh Nguyễn Kim Đễ, còn các Đại Đội Trưởng là Hợp, Dzoan, Thương và tôi. Trong các cuộc hành quân, thông thường cánh B của TĐP Nguyễn Kim Đễ gồm có ĐĐ.1 của tôi và ĐĐ.2 của Dzoan nên chúng tôi có nhiều kỷ niệm ngọt bùi cay đắng với nhau. Ngày tôi bị trọng thương, cánh B Tiểu Đoàn Phó đi phép nên chính Dzoan là người điều động trực thăng tải thương cho tôi kịp thời.
Nhưng trong khi tôi đang nằm bệnh viện thì Dozan lại bị trọng thương rồi Dzoan giải ngũ năm 1973.
Hiện nay gia đình Vũ Đoàn Dzoan đang định cư tại Florida.
Trung Úy Phạm Văn Tiền.
Thời gian chụp tấm hình này, Tr/Úy Phạm Văn Tiền là ĐĐP/ĐĐ.2 của Đ/Úy Vũ Đoàn Dzoan. Anh Tiền tốt nghiệp Khóa 20 VB.
Cuối năm 1969, khi TQLC thành lập TĐ.7 thì TĐ.2 chuyển cả ĐĐ.3 sang TĐ.7 và TĐ.2 thành lập đại đội mới lấy tên là ĐĐ.5 do Trung Úy Tiền làm ĐĐT.
Đường binh nghiệp của anh Tiền đầy gian nan nhưng cũng không kém phần vinh quang. Cấp bậc và chức vụ sau cùng là Thiếu Tá TĐT/TĐ.5/TQLC.
Hiện anh định cư cùng gia đình tại Dallas TX./.
Đà Lạt Nguyễn Kim Đễ Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.9/TQLC


