Năm 2025 đánh dấu 50 năm ngày ra trường của khoá 68-75. Trong cuộc hội ngộ khoá 68-75 ngày 7 tháng 12 năm 2024 Ysa có nói khoá mình là một khoá rất đặc biệt phải kể cho mọi người biết.  Bài viết này được hoàn thành từ đề nghị đó.  Viết về một khoá học sau một thời gian dài thì không thể tránh được các thiếu sót, sai lầm   Rất mong được sự thông cảm và tha thứ.  Chân thành cám ơn các bạn Trần Thạnh, Dương Thiện Thuật, Nguyễn Cao Cường và Phạm Kim Luân đã cung cấp hình ảnh, tài liệu cho bài viết này. Thân tặng các đồng môn 68-75

A/ Sơ lược về khoá 68-75

Khóa 68-75 là khóa sau cùng được học đủ 7 năm trung học tại trường Petrus Ký nhưng không được thi tú tài.

Những năm học của khóa này đều có liên quan đến tình hình chiến cuộc tại Việt Nam.

1968 – Bắt đầu bậc trung học đệ nhất cấp lớp đệ thất: Biến cố Tết Mậu Thân.

1972 – Hoàn tất bậc trung học đệ nhất cấp lớp 9 (đệ tứ): Mùa hè đỏ lửa.

1973 – Bắt đầu bậc trung học đệ nhị cấp lớp 10: Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

1975 – Chuẩn bị hoàn tất bậc trung học đệ nhị cấp lớp 12: Biến cố 30 tháng 4.

B/ Ngày xưa tháng cũ

15 tháng 7 năm 1968: Thi tuyển vào đệ thất trường Petrus Ký

30 tháng 4 năm 1975: Chấm dứt năm học lớp 12 niên khoá 74-75

15 tháng 5 năm 1975: Thành tích biểu lớp 12 được ký bởi thầy hiệu trưởng Nguyễn Minh Đức

20 tháng 9 năm 1975: Thi tốt nghiệp phổ thông

C/ Các vị hiệu trưởng trong khoá 68-75

Ông Trần Văn Thử (1966-1969)

Ông Trần Ngọc Thái (1969-1971)

Ông Trần Văn Nhơn (1971)

Ông Bùi Vĩnh Lập (1971-1973)

Ông Nguyễn Minh Đức (1973-1975)

D/ Các vị giáo sư khoá 68-75

Phương châm giáo dục của trường Petrus Ký được thể hiện qua 2 câu đối trước cổng trường:

“Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt,
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm”.

Trong tinh thần đó các thầy cô trường Petrus Ký đã đào tạo ra nhiều thế hệ học sinh trở thành những người hữu dụng cho xã hội. Xin được mượn bài viết này để ghi ơn các thầy cô trường Petrus Ký đã dạy dỗ chúng tôi nên người. Xin được đốt nén nhang lòng dâng lên các thầy cô đã mất, một lời chúc sức khoẻ và bình an đến các thầy cô còn tại thế.

Dưới đây là danh sách các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy cho khoá 68-75.  Danh sách này có thể không đầy đủ, xin các thầy cô tha lỗi cho.

Âm Nhạc: Nguyễn Hữu Ba.

Hội Họa: Trần Tứ Hải, Đặng Công Hầu.

Thể Dục: Nguyễn Văn Tần, Tạ ngọc Qúi.

Công Dân Giáo Dục: Nguyễn Bá Kim, Nguyễn Thu Hà, Châu Thành Tích, Bùi Trọng Chương, Đỗ Văn Dzĩnh, Mạch Tứ Hải.

Sử Địa: Phạm Thị Thiên Hương, Nguyễn Trí Minh, Quách Thanh Trung, Nguyễn Minh Nhựt, Lê Trọng Phỏng, Dương Ngọc Sum, Vũ Trọng Thu, Lâm Thị Dung,

Vạn Vật: Tạ Khắc Khoa, Nguyễn Ngọc Nam, Lê Đình Hạnh, Nguyễn Thị Sâm, Nguyễn Thị Đoan Trang, Nguyễn Thị Nhung.

Anh Văn: Liêng Khắc Văn, Đinh Văn Triển, Huỳnh Hữu Thọ, Nguyễn Thị Thục, Nguyễn Thị Liên, Trần Hữu Tắc, Trần Châu Hồ, Phạm Văn Ngôn, Nguyễn Hoàng Sang, Vũ Văn Khác, Trương Ngọc Liên, Trương Văn Cao, Trần Thuần.

Pháp Văn: Thẩm Túc, Phạm Xuân Ái, Phan Ngọc Loan, Nguyễn Minh Đức, Đặng Thị Thiên Chi, Trương Văn Ngọc, Hồ Văn Thái.

Đức Ngữ: Phạm Ngọc Đảnh, Nguyễn Ngọc Sương.

Quốc Văn: Tạ Ký, Vũ Ký, Quách Phong Thuận, Lê Đại Tường, Lâm Tài, Nguyễn Văn Hiệp, Khiếu Đức Long, Trần Thị Ngọc Dung, Đinh Văn Vĩnh, Ngô Văn Lắm, Phan Văn Khánh, Đỗ Quang Vinh, Lê Văn Chương.

Triết: Nguyễn Xuân Hoàng, Lê Thanh Liêm, Trần Xuân Tiên, Phạm Duy Khiêm.

Toán: Hoàng Ngọc Qùi, Đặng Quốc Khánh, Trần Văn Thưởng, Võ Văn Vạn, Trần Thành Minh, Lê Văn Đặng, Vũ Đình Lưu, Phan Lưu Biên, Nguyễn Minh Dân, Huỳnh Văn Lắm, Lưu Trọng Lễ, Ngô Thanh Nhàn, Phạm Hoài Nam, Trần An, Lê Ngọc Trác, Cam Duy Lễ.

Lý Hoá: Lâm Thị Cúc, Nguyễn Ngọc Diễm, Nguyễn Sỹ Thân, Nguyễn Văn Quảng, Lưu Chấn Thành, Lê Hồng Đức, Nguyễn Thị Đoan Trang, Lê Minh Thức, Đặng Văn Hiền, Trần Văn Ngữ.

E/ Học sinh khoá 68-75

1/ Trung học đệ nhất cấp

Vì không có danh sách học sinh học tại trường niên khoá 68-69 nên không có con số chính xác về số học sinh trúng tuyển kỳ thi đệ thất vào trường năm 1968. Tất cả con số trong bài viết này đều dựa vào kỷ yếu 72-73 của trường và danh sách học sinh học tại trường niên khoá 73-74 và 74-75.

Theo giáo sư Nguyễn Thanh Liêm trong sách trường trung học Petrus Ký và nền giáo dục phổ thông Việt Nam thì hàng năm với 10 lớp đệ thất trường chỉ có thể nhận được khoảng từ 550 – 580 học sinh. Dựa vào danh sách học sinh niên khoá 73-74, lúc bấy giờ khoá 68-75 đang học lớp 11 (6 năm sau khi thi tuyển) thì bạn Hồ Đình Khanh có số danh bộ cao nhất dưới 580 là 534/68. Sau đó có 7 bạn có số danh bộ cao hơn 580 là 754/68, 889/68, 897/68, 909/68, 919/68, 960/68 và 1121/68 như vậy có thể nói đã có ít nhất là 541 học sinh đã trúng tuyển vào đệ thất niên khoá 68-69.

Thủ khoa kỳ thi tuyển đệ thất năm 1968 là Lê Chí Tình học ở lớp đệ thất 4. Học hết lớp 9 thì Tình phải nhảy ra ngoài học vì lệnh tổng động viên.

Năm 1968, trường Petrus Ký có 10 lớp đệ thất trong đó có 3 lớp Pháp Văn (đệ thất 1- đệ thất 3) và 7 lớp Anh Văn (đệ thất 4 – đệ thất 10).

Năm 1972, theo lệnh tổng động viên một số học sinh sinh năm 1956 trở lên phải ra ngoài học nhảy lớp hay đi lính và cũng có một số ít vào bưng theo phía bên kia.

2/ Trung học đệ nhị cấp

Từ niên khoá 72-73 trở đi bỏ thi tú tài I, chỉ thi tú tài II thôi.

Mùa khai trường năm 1972, trường Petrus Ký có 8 lớp 10 ban B (Toán), 2 lớp 10 ban A (Khoa Học), 1 lớp ban C (Sinh Ngữ)

* 8 lớp ban B chia ra:

   a/ 2 lớp ban B (B1-B2) có sinh ngữ chính là Pháp, sinh ngữ phụ Anh.

   b/ 5 lớp còn lại (B3-B6 và B8) có sinh ngữ chính là Anh, sinh ngữ phụ Pháp.

   c/ lớp B7 có sinh ngữ chính là Anh, sinh ngữ phụ Đức

* 2 lớp ban A chia ra lớp A1 có sinh ngữ chính là Pháp sinh ngữ phụ Anh. Lớp A2 có sinh ngữ chính là Anh, sinh ngữ phụ Pháp.

   Có một số nhỏ học sinh hai lớp B2 và A2 chọn sinh ngữ phụ là Đức.

* 1 lớp ban C dành chung cho học sinh có sinh ngữ chính là Anh, sinh ngữ phụ là Pháp hay ngược lại.

Cũng trong năm này 1972 trường Petrus Ký đã thực hiện cuốn kỷ yếu đầu tiên và cũng là duy nhất của trường.

Theo kỷ yếu năm 72-73 có tất cả 396 học sinh theo học lớp 10 với đa số các học sinh từ lớp 9 lên và một số nhiều học sinh trường ngoài chuyển về theo học tại trường Petrus Ký.  Lệnh tổng động viên đã có ảnh hưởng lớn đến số học sinh theo học lớp 10 tại trường.  Đang từ khoảng 550-580 học sinh vào đệ thất đến năm lớp 10 chỉ còn khoảng hơn 400 học sinh (theo kỷ yếu 1972-1973) kể cả các học sinh ở ngoài chuyển về học tại trường.  Các học sinh đang đi học đúng lớp đều phải có thẻ động viên tại chỗ, được hoãn dịch vì lý do học vấn.

Niên khóa 73-74 có 351 học sinh theo học lớp 11 tại trường.

Niên khoá 74-75 có tổng cộng 429 học sinh theo học lớp 12 tại trường.

Bắt đầu từ niên khoá 74-75 môn quốc văn được giảng dạy ở lớp 12.  Trước đó môn quốc văn chỉ được giảng dạy tới lớp 11.

Trong niên khóa 74-75 kỳ thi tú tài dự trù sẽ thay đổi từ kiểu thi trắc nghiệm sang kiểu thi đỉền khuyết vì lý do kỳ thi tú tài IBM trước đó đã gây nhiều tranh cãi.

Năm 1975 chuẩn bị ra trường thi tú tài thì biến cố 30 tháng 4 xảy ra nên việc học tập khoá 68-75 “được” xem như chấm dứt.

Khoảng tháng 7/1975 các học sinh lớp 12 khóa 68-75 còn ở lại đuợc gọi về trường đi học lại. Thời gian học khoảng 8 tuần, đặc biệt học thêm môn Văn mới (chính trị) và đến tháng 9/1975 thì các học sinh “bị” thi “tốt nghiệp phổ thông” 3 môn của chính quyền mới. Các học sinh thi đậu kỳ thi này đều được cấp một bằng tốt nghiệp phổ thông với các thứ hạng A, B và C.

4/ Thành tích học tập

Nói đến học sinh Petrus Ký là phải nói tới việc học tập. Cũng như bao thế hệ đàn anh khác, khoá 68-75 trong kỷ yếu 72-73 (lúc bấy giờ khoá 68-75 đang học lớp 10), chúng ta cũng có các bạn học giỏi có tiếng như Trương Phước Trường Sơn A1, Nguyễn Văn Sơn A2, Pham Vĩnh Cường B1, Vương Tấn Dũng B2. Trần Thạnh B3, Võ Bá Hải, Nguyễn Cao Cường B4, Phan Tấn Bảng, Quách Phong Vinh B5, Nguyễn Thanh Liêm B6, Vũ Đình Liệu B7, Văn Hồng Khôi B8, Phùng Bá Dũng C.

Cuối năm 73-74: Võ Bá Hải (11B4) và Trần Thanh Sơn (11B8) được đi Mỹ học lớp 12 theo chương trình AFS (American Field Service Intercultural Program)

Trong niên khoá 74-75 Phan Tấn Bảng (B5) được chọn là đại diện của trường đi thi hùng biện Anh ngữ các trường trung học ở Sài Gòn.

Học sinh khoá 68-75 đã cố gắng dồi mài kinh sử chờ đến ngày thi tú tài, một số các bạn học Anh văn đã có trong tay TOEFL (Test of English as a Foreign Language) với số điểm cao và đã nộp đơn xin du học ở Mỹ. Các bạn bên Pháp văn và Đức ngữ cũng có các văn bằng của trung tâm văn hoá Pháp hay trung tâm văn hoá Đức. Tất cả đều chờ thi tú tài xong sẽ được đi du học hay tiếp tục lên học đại học như các bậc đàn anh.

Nhưng …

Vì không được thi tú tài nên không có các thành tích học tập của khoá 68-75. Hơn nữa các học sinh khoá này phải thi tốt nghiệp phổ thông của chính quyền mới và cũng chẳng có các con số thống kê cho biết tỉ lệ học sinh khoá 68-75 tốt nghiệp năm đó là bao nhiêu? Theo thầy Ngô ngọc Bửu, là một trong những người tổ chức kỳ thi này là “Đây là kỳ thi họ gieo mình gặt, tức là họ đào tạo còn mình tổ chức thi tốt nghiệp nhưng rất thành công” (https://vietnamnet.vn/thay-giao-ke-chuyen-lam-de-thi-tot-nghiep-sau-1975-234586.html)

5/ Thành tích thể thao

Nhắc tới thể thao thì phải nói đến Phùng Ngọc Quang. Quang đã là thần tượng của các bạn khoá 68-75. Trong đại hội thể thao sinh viên học sinh Saigon năm 73-74 Quang một mình đã dành được 3 huy chương vàng về bộ môn điền kinh cho trường (100m, 4x100m và nhảy xa). Cũng trong giải này Quang được vinh dự chạy rước đuốc và châm ngọn lửa khai mạc cho đại hội thể thao sinh viên học sinh Saigon năm 73-74.

Về bóng bàn: khoá 68-75 có các bạn Phùng Hữu Lễ (vô địch thiếu nhi 1970), Châu Hữu Ý, Châu Siếu, Mạch Thoại Khương.

Về bơi lội: khóa 68-75 có Hồng Phi Bằng (1 vàng, 1 bạc, 1 đồng trong đại hội sinh viên học sinh Saigon 73-74), Phan Việt Hùng

Về bóng tròn có Phạm Quốc Bình

6/ Sinh hoạt trong trường năm 74-75

Lễ ra mắt tân ban chấp hành học sinh niên khoá 74-75 được tổ chức vào ngày 25 tháng 11 năm 1974. Trong ban chấp hành này khóa 68-75 có 8 học sinh đảm nhận các chức vụ Tổng thư ký, 5 trưởng khối (Học tập, Thể thao, Văn nghệ, Báo chí và Kỷ luật) và 2 phó khối (Báo chí và Kỷ luật)

Ngày 6 tháng 12 năm 1974, Ngày truyền thống Petrus Ký với chủ đề Ghi Ơn Thầy Cũ đã được tổ chức long trọng tại trường dưới sự chủ toạ của giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, phụ tá đặc biệt tổng trưởng bộ văn hoá giáo dục và thanh niên. Sau buổi lễ có thi đấu bóng bàn giao hữu với trường Mạc đĩnh Chi và bóng chuyền giao hữu với Sư Đoàn 5 bộ binh. Đến chiều có phần văn nghệ liê trường với ban văn nghệ Petrus Ký và hơn 20 ban văn nghệ các trường bạn. Sau đó đến tối là phần lửa trại. Ngày truyền thống 6/12/1974 đã được tổ chức thành công mỹ mãn.

7/ Sau 30 tháng 4 năm 1975

a/ Thi đại học, kiếm việc làm

Sau khi tốt nghiệp phổ thông chúng tôi nộp đơn thi vào đại học. Bài học đầu tiên chúng tôi học được từ chính quyền mới là kỳ thi này thuộc loại “học tài thi lý lịch” hay “hồng hơn chuyên”, chỉ có một số rất ít được vào học. Số còn lại ráng thi vào năm sau nhưng chúng tôi càng lúc càng rõ là con “ngụy” thì đừng mong vào. Đơn cử hai thí dụ của 68-75 để thấy rõ. Phạm kim Luân học giỏi vẽ đẹp thi vào Kiến Trúc lần nào cũng rớt chỉ vì bố đang đi “học tập” ở ngoài bắc.  “Hiệu trưởng” Ngô Quang Hiển mở lớp dạy luyện thi đại học cho các lớp đàn em ở nhà Hiển.   Thầy trò đi thi Y Khoa chung, thầy phải tránh gặp trò trong ngày thi vì thầy và trò có tên cùng vần H, kết quả trò đậu còn thầy thì rớt. Hỏi ra mới biết bố của thầy vừa là “ngụy quân”, vừa là “ngụy quyền” cũng đang đi học “học tập” ở ngoài bắc.

(Gọi Hiển là hiệu trưởng vì ngày đó Hiển mở lớp dạy luyện thi đại học ở nhà.  Hiển gọi các bạn đến cùng dạy.   Hiển thu học phí rồi trả tiền công cho các bạn.  Đôi khi “hiệu trưởng” còn phải tạm ứng trước tiền lương để các thầy còn cà phê, thuốc lá)

Có lẽ chính quyền mới nghĩ rằng “họ trồng mình gặt”.  Và bởi vì không tốn sức, tốn công trồng vả lại không biết hạt giống có tốt không nên thôi gặt xong cứ vứt đi cho tiện.

Không vào trường lớn được thì chúng tôi thi vào các trường như tổng hợp, sư phạm, sư phạm thể dục thể thao. Chúng tôi chỉ muốn “nín thở qua sông”, giữ cho được “hộ khẩu” ở Sài Gòn, có vài chục đồng học bổng, vài ký gạo (sau này thiếu gạo thì thế bằng khoai sùng, bo bo, bột mì) để sống cho qua ngày.

Sau này chúng tôi được biết là:

• Thi đại học vào khoảng tháng 12 năm 1975 nhưng tới tháng 5 năm 1976 mới công bố kết quả. Nguyên nhân: ngày 25/4/1976 là ngày tổng tuyển cử bầu quốc hội chung cả nước, chính quyền lúc bấy giờ sợ kết quả thi đại học khi công bố ra sẽ làm xôn xao dư luận, vì quá nhiều học sinh giỏi bị rớt vì lý lịch. Vì sự trễ nải này mà ở nhiều trường khoá học đó được nhập chung với khoá học sau.

• Chính quyền lúc bấy giờ chia lý lịch ra thành 13 nhóm, học sinh thuộc vào nhóm 13 là chắc chắn rớt, dù đạt điểm 30/30.

Một số bạn ngày đó đã đi làm thợ trong các hãng xưởng, nhà máy, xí nghiệp. Một số đi nông trưòng, lâm trường.  Một số bị bắt đi lính (nghĩa vụ quân sự) trong lúc đất nước mới thống nhất hơn một năm.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các bạn 68-75 mỗi người có một nỗi khổ cả vật chất lẫn tinh thần và không nỗi khổ nào giống nỗi khổ nào.  Trong phạm vi bài viết này, xin được kể lại nỗi khổ của bạn Phạm Kim Luân qua thơ của mình.  Hỏi các bạn đi di tản trước 30/4 có khổ hay không? Nguyễn Cao Cường cho biết công việc đầu tiên ờ Mỹ của Cường là thợ đốn cây trong rừng. Từ bàn tay cầm bút đến bàn tay cầm máy cưa ở vùng mưa gió tiểu bang Washington thì rõ ràng là quá khổ rồi. Nửa vòng trái đất tại Việt Nam cũng có bàn tay cầm cưa của Phạm Kim Luân.  Hãy nghe Luân mô tả về mình”

Hèn chi!

Râu tóc anh bụi đỏ
Tay anh mười dấu chai
Chân anh gai xơ xác
Quần áo anh lem nhem
Mặt mày anh dơ dáy
Đã bảo mà anh không phải “nghề”” rừng
Anh cũng không chuyên “nghể” rẫy
Anh ốm yếu thư sinh
“Nghề” thơ thì mới tập
Tại cái số anh phải vậy
Hèn chi!

Rồi vào năm 1977 nhân ngày sinh nhật thứ 45 của ba mình, nơi một góc rừng Luân nhớ tới người cha thân yêu:

Thưa ba, hôm nay sinh nhật ba…
Con cứ sợ ba không còn nhớ nổi …
(Vì chỉ tiêu là những nhát cuốc
Không còn con số bốn-mươi-lăm
Vì tiêu chuẩn cơm là hai bát
Không còn con số bốn-mươi-lăm!)
Đêm nay rừng thượng du có tuyết
Có hạt nào vướng trên vai áo
Để mừng ba tuổi bốn-mươi-lăm

….

Và đây là tâm sự của Luân trong một buổi chiều thứ bảy

Bài cho những ngày thứ bảy thiếu bạn bè

Tặng Phùng Ngọc Quang “đáp lễ”

Ta biết chiều nay là thứ bảy
Xa trăm cây số đường chim bay
Từ chốn ta – nơi rừng sâu nước độc
Đến Sài gòn – trong một góc quán quen
Có bạn ta: dăm bảy thằng lang bạt
Có tiếng cười bên khói thuốc mang mang
Ta biết chiều nay là thứ bảy
Như trăm nghìn thứ bảy đã đi qua
Ngang đời ta – những ngày ngơ ngáo cũ
Như nước qua cầu – ra biển – chẳng quay lưng
Ta biết chiều nay các anh về chưa đủ
Vì có thằng còn bận trực ca đêm
Vì có thằng còn vất vả nhai cours
Hay kiên nhẫn ru con cho tròn giấc
Ta biết chiều nay các anh về chưa đủ
Vì chúng ta chẳng còn thời “Petrus Ký” xa xưa…
Những Hoàn, Quang, Hoà, Huy, Chiếu
Những Anh, Bảng, Hiển, Hùng, Luân …
Chúng mình bị vỡ tan như những tàn thuốc lá
(Khi đã qua cơn cháy đỏ mịt mù)
Thôi, đành vậy, không đông mà vẫn đủ
Đứa ở gần ngồi nhắc đứa ở xa
Quên hết đi những núi rừng xưởng thợ
Và những giờ chính trị ngô nghê
Lại đây chuyền cho nhau tí lửa
Trên que diêm leo lắt đêm tàn
Lại đây chuyền cho nhau chút lửa
Trong con tim nung nấu căm hờn …
Ta biết chiều nay là thứ bảy
(Từ độ lên đây ta vẫn đếm từng ngày
Ta vẫn đếm thời gian từng giọt nặng
Gõ mòn trên sợi tóc ta xanh)
Ta biết chiều nay là thứ bảy
Ta không về nên nhớ các anh
Như một đêm tháng tư ta đã nhớ Sài Gòn
Giữa núi rừng miền đông – bạt ngàn – heo hút

Cù Nhí 27-2-1978

b/ Vượt biển, vượt biên, đi chính thức

Vượt biển, vượt biên là một đề tài nóng bỏng sau 30/4. Cả triệu người đã vượt biển, vượt biên ra đi tìm tự do, và cũng đã có hằng trăm ngàn người đã nằm lại trong lòng đại dương. Bạn bè 68-75 không nằm ngoài vòng đó. Khi nhắc lại việc vượt biển của mình trong ngày họp mặt 7 tháng 12 năm 2024, Tôn Tường Văn đă không kiềm nổi giọt nước mắt khiến các bạn cũng mủi lòng theo. Bắt đầu từ năm 1978 thỉnh thoảng lại thấy vắng đi một người, hỏi ra mới biết đã vượt biên đi thoát.  Phùng Ngọc Quang trước khi đi đã để lại xe đạp dặn rằng một tháng không thấy về thì cứ bán đi mà cà phê, cà pháo. (Sau 30/4 chúng tôi hay tụ tập tại quán cafe Song Nhị đường Trần bình Trọng, sau lưng trường Petrus Ký, ngang với sân vận động Lam Sơn để uống cà phê, nhắc lại chuyện cũ)

Khoá 68-75 cũng có bạn Lê hoàng Hùng B5 đã vượt biên bằng đường bộ tới Thái Lan rồi mất ở trong trại tị nạn. Lúc còn sống, Hùng xử rất đẹp với anh em. Không biết Hùng học ở đâu mà là một thợ tiện giỏi. Thấy anh em lông bông, Hùng mướn máy tiện dạy anh em nghề tiện, anh em thì đứa nào cũng mang kính cận dầy cộm thì làm sao thấy rõ mà tiện được, chỉ có Ngô Quang Hoà (em Ngô Quang Hiển) theo được nghề tiện của Hùng thôi. Nghe tin Hùng mất, anh em đã xin một lễ cầu siêu cho Hùng ở chùa Phước Hoà gần trường Phan Đình Phùng cho Hùng.

Việc bị bắt đi tù khi vượt biên cũng có xảy ra cho anh em 68-75 nhưng rồi kẻ trước người sau hễ có dịp thì vượt biển, vượt biên, hay đi chính thức đã lần lượt ra đi tìm tự do.

c/ Trên vùng đất mới

Các bạn 68-75 đã nhanh chóng ổn định trên vùng đất mới. Với học lực sẵn có từ trường Petrus Ký các bạn đã đi học trở lại và sau đó đã có công ăn việc làm ổn định.

d/ Gặp mặt, hội ngộ

Tại Hoa Kỳ, ở California có 14 bạn thuộc khoá 68-75 chia ra bắc California 10, nam California 4. Các bạn khác sống rải rác ở Seatle, Texas, Colorado và Maryland. Ngoài Hoa Kỳ ra, các bạn 68-75 cũng có mặt ở Pháp, Đức, Hoà Lan và Úc. Sau khi ổn định về gia đình, công ăn việc làm các bạn Petrus Ký đều tìm về gặp nhau. Cuộc họp mặt đầu tiên vào năm 1999, rồi sau đó là 2005, 2011, 2015, 2019 và gần đây nhất là 2024 (12/6/2024 – 12/9/2024) với 24 bạn tham dự từ Âu châu, Úc châu, Việt Nam và Hoa Kỳ.

50 năm là một thời gian dài, các bạn khoá 68-75 dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đã vươn lên để sống. Sống cho xứng đáng là học sinh khoá sau cùng học đủ học trình7 năm của trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký.

F/ Hình ảnh, tư liệu 68-75

Hội ngộ 1999. Trái qua phải: Ngô Quang Hiển, Ysa Cosiem, Huỳnh Trọng Khải, Quách Đại, Dương Thiện Thuật, Nguyễn Đình Anh, Nguyễn Đại Anh Minh, Võ Thanh Sơn, Võ văn Chương, Vũ Duy Quang.  

Hội ngộ 2024. Trái qua phải: Nguyễn Đại Anh Minh, Vũ Hùng Đức, Trần Thanh Sơn, Nguyễn Cao Cường, Võ Văn Chương, , Tôn Tường Văn, Nguyễn Trung Quân, Nguyễn Đình Anh, Huỳnh Công Huấn (sau) Phùng Hữu Lễ, Ngô Quang Hiển, Quách Đại, Võ Bá Hải.