Thầy Phạm Ngọc Đảnh

Viên Ngọc của Nền Giáo Dục, Đóa Sen trong Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Đức và Linh Hồn của Hội Ái Hữu Petrus Ký Âu Châu

Vương Hồng Hải (12B7, 65- 72)

(Nguồn: Diễn đàn Petrus Ký – http://diendanpetrusky.com)

PhamNgocDanh_photo Trong tiếng Việt, có nhiều ngôn từ lạ.
Học trò học các môn Anh văn hay Pháp văn hay Hán văn hay Việt văn, nhưng khi học tiếng Đức thì học Đức ngữ. Tại sao không học Đức văn, tôi cũng chả biết?
Nói về chuyện lạ thì lớp 12B7 của tôi tại Petrus Ký cũng hơi lạ so với các lớp 12B khác của Petrus Ký.
Theo sự xếp lớp khi lên Đệ Nhị Cấp tại Petrus Ký, học sinh thuộc các lớp 12B1 cho đến 12B4, đa số chọn sinh ngữ chính là Pháp văn và sinh ngữ phụ là Anh văn. Học sinh thuộc các lớp 12B5 cho đến12B8 thì ngược lại, đa số chọn Anh văn là sinh ngữ chính và Pháp văn là sinh ngữ phụ.

Riêng lớp 12B7 của chúng tôi thì hơi khác, sinh ngữ chính của bọn tôi có thể là Pháp văn hay Anh văn nhưng sinh ngữ phụ lại là Đức ngữ. Trong số học trò 12B7, chỉ có 12 đứa học Đức ngữ vì thế đến giờ Đức ngữ, một số học sinh thuộc các lớp 12 khác vào học chung Đức ngữ với chúng tôi như Nguyễn Nhất Trung, Lâm Đình Hướng, Trần Hữu Đạm, Nguyễn văn Bình, Lưu Minh Mẫn, Nguyễn Quang Phước, Võ Duy Quang, v.v.
Ngày xưa bạn bè trong lớp hỏi vì sao tôi chọn học Đức ngữ, tôi không dám nói thật là tôi nuôi ước mộng sau này xin đi du học ngành Kỹ Sư Công Chánh tại Tây Đức vì sợ bọn nó cười nếu mộng tôi không thành… nhưng vì lý do thầm kín này tôi đã may mắn được theo học Đức ngữ trong ba năm Đệ Nhị Cấp (1969 – 1972) tại Petrus Ký với thầy Phạm Ngọc Đảnh, người thầy mà tôi ngưởng mộ cho đến ngày hôm nay.
Thầy Đảnh là một người rất cấp tiến trong việc giảng dạy sinh ngữ. Tôi còn nhớ trong buổi học Đức ngữ đầu tiên, thầy Đãnh nói với cả lớp: “Hôm nay là ngày đầu tiên và cũng là ngày cuối cùng thầy nói tiếng Việt với các em.” Lúc ấy đứa nào cũng sợ điếng hồn vì những ngày tới, thầy nói tiếng Đức làm sao mà bọn tôi hiểu. Nhưng sau đó những giờ học với thầy trở thành rất hứng thú vì thầy muốn chúng tôi khi dùng ngoại ngữ, phải suy nghĩ và hiểu ngoại ngữ, chứ không tốn thì giờ dịch trong trí óc từ ngoại ngữ ra tiếng Việt vì đôi khi hai ngôn ngữ không có danh từ tương đương. Sau này khi tôi đi dạy học tại Việt Nam và định cư trên đất người, dùng ngoại ngữ hằng ngày, tôi mới thấm bài học mà thầy đã dạy.
Ngoài tinh thần dạy học cấp tiến, thầy rất yêu thương và công bằng với học trò. Tôi biết nhiều thầy cô Petrus Ký đã áp dụng kỷ luật khá nghiêm khắc với học trò và đôi khi thiên vị hay thương học trò giỏi hơn, nhưng thầy Đãnh là một người thầy có lương tâm, thương học trò đồng đều và khuyến khích tất cả học trò của mình tiến học: ai yếu kém, thầy quan tâm giúp đở cho kịp bạn bè; ai giỏi thì thầy trợ giúp trong việc xin hồ sơ du học. Bọn tôi trước khi vào lớp của thầy đều chuẩn bị bài vở kỷ càng vì sợ thầy kêu khảo bài bất tử và vì thế việc học của đứa nào cũng khá ra.
Dầu ở bất cứ hoàn cảnh nào, thầy luôn giữ lương tâm của một nhà giáo. Tôi còn nhớ vào mùa Hè đỏ lửa 1972, bọn tôi với viển tượng bị gọi đi quân dịch nên đứa nào cũng lơ là việc học. Thầy Đãnh thấy vậy và đã khuyên: “Còn một, hai tháng nữa thôi, các con cố gắng cho xong cái Tú Tài II đi”. Tôi biết thầy lo cho chúng tôi, nếu thi rớt phải tòng quân cũng như thầy lo cho tương lai của bọn tôi nếu có dịp trở về từ quân ngũ.
senMột kỷ niệm nữa vẫn còn sống mãi trong tôi như mới vừa xãy ra dù là đã 36 năm qua, thầy đang dạy chúng tôi thì người nhà vào cho biết mẹ thầy đang hấp hối, hình ảnh thầy rơm rớm nước mắt thu xếp ra về làm lòng chúng tôi se lại – mẹ thầy bệnh nặng như thế mà thầy vẫn lo cho học trò đến dường ấy. Lòng tôi vẫn xúc động khi nhớ lại chuyện này.
Sau khi ra trường, từ 1972 cho đến 1978, tôi vừa theo học Thủy Lâm vừa đi dạy kèm thi Đại học để kiếm sống và giúp cho gia đình (lý do vì ba tôi bị stroke nên bán thân bất toại và gia đình lâm cảnh túng thiếu) nên tôi không có dịp ghé thăm thầy. Mãi cho đến năm 1979 khi ba tôi qua đời thì tôi mới có thì giờ nên một hôm tôi rũ Phạm Tuấn Kiệt (học Đức Ngữ với thầy vào các năm 1970- 1973), lúc ấy đang học tại Đại Học Dược Khoa, ghé thăm thầy và hai đứa muốn xin học thêm tiếng Đức với thầy. Thầy Đãnh lúc ấy đang dạy tại gia tiếng Đức cho những người sắp đi Đức. Ngày đi học đầu tiên, Tuấn Kiệt và tôi đưa phong bì học phí cho thầy thì thầy trả lại và bảo rằng: “Nếu mà còn như vậy thì đừng tới đây học nữa”. Lòng thầy lúc nào cũng quan tâm đến học trò mình nhất là những đứa nghèo khó. Những lúc bọn tôi ngồi chờ thầy trước giờ học, tôi hay hầu chuyện cùng cô Thu Hà (vợ thầy) và biết thầy gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt,mặc dù vậy tôi thấy thầy vẫn còn giữ vẻ ung dung, chính khí và lòng nhiệt tình của một nhà mô phạm.
Ngoài việc dạy bọn tôi Đức ngữ, trong những bài đọc, thầy gián tiếp dạy thêm cho chúng tôi về Xã Hội học (Sociology) và nghệ thuật. Thí dụ, thầy dạy bài đọc Kleide machen Leute (Quần áo làm nên con người) cho chúng tôi hiểu cách đánh giá con người của xã hội, cũng như bài đọc về sự sáng tác bản nhạc Sonata của nhạc sĩ Beethoven sau một buổi dạo mát dưới ánh trăng nói lên rằng tuyệt tác phẩm Sonata là sự giao cảm bất chợt giữa thiên tài âm nhạc này và cảnh vật thiên nhiên.
Tuấn Kiệt đã kiên trì theo đuổi việc học với thầy, trong khi tôi thì học ngày đực, ngày cái nên chẳng đi tới đâu. Tôi đã phụ lòng thầy vì đã không đạt được kết quả tốt như là Tuấn Kiệt. Sau này, nhờ khả năng Đức ngữ mà Tuấn Kiệt đã xin được đi Đức vào năm 1987.
Năm 1982, tôi vừa đi dạy tại Đại Học Nông Lâm vừa xin đi làm gổ thuê tại Nha Trang để kiếm sống. Trong một dịp may mắn về thăm gia đình tại Sài gòn, tôi nhận được tin chỉ còn vài ngày thì gia đình thầy sẽ đi định cư tại Đức. Tuấn Kiệt và tôi hai đứa ghé thăm thầy. Thầy nhắn nhủ chúng tôi vài lời tâm niệm. Trước khi bọn tôi về, thầy nói một câu gây nhiều xốn xang nhất trong lòng bọn tôi là: “Thầy rất là Cộng Sản mà cuối cùng cũng không sống được với Cộng Sản”. Tôi hiểu nghĩa bóng của câu nói này, thầy là một con người thích phục vụ trong phương diện giáo dục, văn hóa và xã hội, nhưng lúc ấy hoàn cảnh không cho phép và vì gia đình, thầy phải ly hương.
Trong chuyến đi dự Đại Hội Petrus Ký kỳ 13 (6 – 8 tháng 7, năm 2007) tại Ronneburg, Đức quốc vào vài tháng trước, tôi có gặp lại Tuấn Kiệt trong kỳ Đại Hội này. Sau đó, tôi có ở lại chơi nhà thầy một đêm và đêm hôm ấy thầy trò có dịp tâm sự.
Thầy cũng không biết vì sao thiên hạ nghĩ là thầy “thiên hữu” hay “thiên tả”, vì thực ra mỗi ngày thầy chỉ tập Thiền (thiên huyền) và cố gắng có chút lòng Thiện (thiên nặng). Thầy nghĩ kiều bào tại Đức có thể đã có ý niệm sai lầm về thầy. Vì vài năm trước khi bức tường Bá Linh (Berlin) bị đập bỏ, thầy và một số Phật Tử đã giúp gầy dựng ngôi chùa Linh Thứu tại Tây Bá Linh. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, một số người Việt Nam lao động tại Đông Đức bỏ chạy sang Tây Đức để tỵ nạn. Khi họ đến Tây Bá Linh, trong giai đoạn đầu họ chưa có sự giúp đở của hội Hồng Thập Tự Quốc Tế và chùa Linh Thứu mở rộng cửa tiếp nhận và giúp đở những người Việt Nam này. Chùa Linh Thứu (cũng như thầy Đãnh) đã giúp đở các người Việt Nam tỵ nạn, không phân biệt rằng họ từ miền Nam Quốc Gia hay miền Bắc Cộng Sản và cũng có thể vì lý do này mà thầy và Linh Thứu Tự bị gán cái mủ thiên tả và gia đình thầy bị hăm dọa. Nhưng với một sức mạnh tinh thần cũng như lòng độ lượng, bao dung, vô vụ lợi, thầy Đãnh, cô Thu Hà và gia đình đã tiếp tục công việc thiện nguyện này cho đến khi hoàn tất. Thầy Đãnh nói – Mình lập chùa để giúp đở những ai yếu kém, cần cứu giúp, hơn nữa tụi nó miền nào thì miền, nhìn kỹ lại thì vẫn là con, là em, là cháu mình, mình không thương, không giúp nó thì còn giúp ai được nữa. Câu nói của thầy tuy đơn giản nhưng bao hàm lòng độ lượng của một người đạo hạnh. (Phụ chú: Tuấn Kiệt là một trong những người tỵ nạn từ Đông Đức qua Tây Đức. Lúc đầu chánh phủ Đức không cho phép Tuấn Kiệt tỵ nạn, nhưng nhờ có trình độ giáo dục, Tuấn Kiệt sau đó đã trở thành công dân Đức và hiện hành nghề Dược Sĩ tại Đức).

Đối với tôi, thầy Đảnh là viên ngọc của nền giáo dục, đóa sen trong gia đình Phật Tử Việt Nam tại Đức và linh hồn của Hội Ái Hữu Petrus Ký Âu Châu.
Tôi biết thầy Đảnh không cần ai biện hộ cho mình. Tôi cũng không có một ý chính trị gì cho bài viết, tôi chỉ muốn nói lên những xúc cảm, những kính yêu của tôi và bạn bè khi ngồi chung lại hay nhắc cho nhau nghe những kỷ niệm thân yêu về thầy và cô Thu Hà.

Vương Hồng Hải