Sỹ Tải Trương Vĩnh Ký

Trên địa hạt “Nhà văn hóa” tiên phong làm báo bằng chữ quốc ngữ viết bằng văn xuôi

Minh Hiền

petrus-ky02Trương Vĩnh Ký sinh ngày 6 tháng 12 – 1837 (Đinh dậu – Minh Mạng năm thứ 18) và mất ngày 1 tháng 9 – 1898 (Mậu Tuất – Thành Thái năm thứ 10)
Theo phong tục tập quán dân tộc ta, ngành nghề nào cũng có “sư Tổ”, chẳng hạn: nghề thợ mộc, thờ Tổ Lỗ Ban, (người nước Lỗ bên Tàu), gánh hát nào cũng có trang đặt trên cao, thờ Tổ để đào kép trước khi ra sân khấu đến trước bàn thờ nghi ngút đèn nhang, chắp tay cúi đầu khấn Tổ, về võ nghệ, trước khi hoa quyền phải vòng tay cung kính bái Tổ.
Chỉ riêng nghề làm báo, chẳng hề có nhà viết báo nào lưu ý biết Tổ nghề mình là ai.
Nay, ta thử tìm đến nhà Tiên Phong viết báo bằng chữ “quốc ngữ” và bằng văn xuôi.

1. Tờ Gia Định báo, tờ Công báo
Đây là tờ báo đầu tiên bằng chữ “quốc ngữ”, số 1 ra mắt tại Sài Gòn (Nam Kỳ) ngày 16-4-1865.
Phó đề đốc La Gradière, liền sau khi nhậm chức Thống Soái Nam Kỳ (từ 1-5-1863 đến 5-4-1868) chủ trương ra tờ báo bằng tiếng Pháp “Le Courier de Saigon” năm 1863, và 2 năm sau, năm 1865, ra tiếp tờ báo bằng chữ “quốc ngữ”, tức là tờ Gia Định báo.
Cũng chính La Gradièrechủ trương đánh chiếm ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên) tháng 6-1867 làm cho khâm sai đại thần Phan Thanh Giản tuẫn tiết.
Ernest Poteau được chỉ định đứng ra trông nom tờ báo, Paulus Huỳnh Tịnh Của đảm trách dịch các nghị định, thông báo của Thống Soái phủ Nam Kỳ từ chữ Pháp ra chữ “quốc ngữ”
Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) đạo gốc, rất giỏi chữ Hán và chữ Pháp. Ông giúp việc nhiều năm cho Gia Định báo. Ông là tác giả quyển “Đại Nam Quốc âm Tự Vị” xuất bản năm 1895.
Gia Định báo in bằng chữ “quốc ngữ”, 4 trang khổ nhỏ, xuất bản định kỳ, mỗi tháng một số vào ngày 15 giữa tháng.
Tờ báo chỉ là một tờ công báo của nhà cầm quyền thực dân Pháp với chủ yếu phổ biến những nghị định và thông báo của Thống Soái phủ.
Mọi phí tổn liên quan đến tờ báo đều do ngân sách của nhà cai trị thực dân Pháp đài thọ. Báo được phát không cho các viên chức tổng và làng xã. Vả lại sự phổ biến tờ báo rất hạn hẹp, chỉ cho người biết đọc chữ “quốc ngữ”.
Dưới thời phó đề đốc Bonard (từ 2-9-1857 đến 19-4-1863), năm 1862, trường dạy chữ “quốc ngữ” đầu tiên được mở, có vài khái niệm chữ Pháp và vài môn toán học, không dạy chữ Hán.
Cố đạo Legrand de la Liraye tức cố đạo trường đảm nhận chức giám đốc. Ông kiêm nhiệm chức thanh tra bản xứ. Ông giỏi chữ Hán và chữ “quốc ngữ”.
Thầy giáo là những giáo sĩ và những giáo dân đã biết sẵn chữ “quốc ngữ” và chữ “latinh”.
Việc mở trường lúc ban đầu không có hiệu quả bao nhiêu vì học trò không có sách để học và không có văn phẩm để đọc.
Tuy nhiên vì chữ “quốc ngữ” rất dễ học và mau thông thạo nên Legrand de la Liraye vẫn tiếp tục cho mở trường.
Năm 1863, chỉ có 1 trường với non 100 học sinh.
Năm 1865, số trường tăng lên 22 và có tất cả 800 học sinh.
Năm 1868, có 56 trường với 1300 học sinh.
Năm 1869, có 104 trường với 3200 học sinh.
Về phần Hán học, vì thực dân Pháp luôn luôn gây hấn để chiếm Nam Kỳ nên khoa thi Hương năm Thìn (1858 – Tự Đức năm thứ 11) tổ chức ở trường Gia Định, và 8 năm sau, khoa thi Hương năm Hợi (1864-Tự Đức năm thứ 17) tức khoa cuối cùng ở Nam Kỳ, dời xuống trường An Giang. Trường Gia Định năm Thìn có 9 Cử nhân trong tổng số 118 khắp Đại Nam. Trường An Giang có 10 Cử nhân trong tổng số 117.
Nên biết, ở Bắc, khoa cuối cùng mở năm 1915 (Duy Tân năm thứ 9) và ở Trung, khóa cuối cùng mở năm 1918 (Khải Định năm thứ 3).
Tuy nhiên, dân chúng vì đã lâu đời tiêm nhiễm Hán học nên vẫn luôn luôn gắn bó với Tam Thiên Tự, Tứ thư, Ngũ kinh và luân lý Khổng Mạnh.

2. Trương Vĩnh Ký trước khi vào nghề làm báo
A. Tham gia sứ bộ đi Âu Châu
Năm 1858, vì mẹ mất, Trương Vĩnh Ký rời hẳn trường đạo ở Pulau Penang, trong Ấn Độ Dương, về quê nhà ở Cái Mơn (Bến Tre).
Năm 1860 (24 tuổi) Giám Mục Sài Gòn Lefèbre biết ông thông thạo Pháp ngữ, tiến cử ông làm thông dịch trong những cuộc tiếp xúc, thương thuyết giữa thực dân Pháp xâm lăng gây hấn với triều đình Huế, vừa yếu kém vừa thiển cận.
Tháng 6-1863, với tư cách thông ngôn, Trương Vĩnh ký tham gia sứ bộ Phan Thanh giản (68 tuổi, chánh sứ), Phạm Phú Thứ (phó sứ) và Nguyễn Khắc Đản (bồi sứ) lãnh sứ mạng sang Aâu Châu (Pháp, Tây Ban Nha) điều đình chuộc ba tỉnh miền Đông (Gia Định, Định Tường, Biên Hòa) bị liên quân Pháp Tây Ban Nha đánh chiếm từ 18-2-1859 đến 7-1-1860.
Ngày 13-9-1863, sứ bộ đến Paris.
Ngày 18-9-1863, sứ bộ diện kiến Tổng trưởng ngoại giao Droubin de Lhuys.
Ngày 5-11-1963, sứ bộ vào triều kiến, tại hoàng cung Les Tuileries, Hoàng Đế Pháp Napoléon III và Hoàng Hậu Eugénie, cả triều thần hết sức ngạc nhiên và thán phục sự thông thạo tiếng Pháp của Trương Vĩnh Ký.
Không gặt hái được kết quả nhỏ mọn nào, sứ bộ Đại Nam đành đi Madrid (Tây Ban Nha) cho lấy lệ, rồi trở về nước, đến Huế ngày 11-3-1864.
Trương Vĩnh Ký một mình ở lại Âu Châu, ông được đưa đi viếng nhiều nơi. Đi đến Rome ( Ý Đại Lợi) Trương Vĩnh Ký được Đức Giáo Hoàng Pie IX (1846 – 1871) tiếp kiến ở Điện Vatican.

B. Những điều trông thấy mở rộng thêm kiến thức
Ở kinh đô Paris, Trương Vĩnh Ký được các Tao đàn ân cần đón tiếp, Trong Tao Đàn, có nhiều danh nhân, văn sĩ nổi tiếng tham gia như Victor Hugo, Eùmile Littré, Victor Duruy, Ernest Tenan, Paul Bert…
Suốt thời gian học đạo ở Đại chủng viện dòng tên Pulau Penang (1851-1858 từ 14 đến 22 tuổi) tiếp xúc với thế giới bên ngoài, Trương Vĩnh Ký chỉ trông thấy sự bành trướng của các đế quốc thuộc địa như Anh, Hòa Lan , Pháp… và duy nhất ông thấy phát minh khoa học trong sự di chuyển của hải thuyển bằng máy sử dụng sức nóng của hơi nước.
Tỷ như Anh đã đặt thuộc địa ở Ấn Độ từ 1818, mua Singapore năm 1819 với 60.000 dollars, chiếm bán đảo Mã Lai năm 1824, 1 phần đất Miến Điện năm 1826 và đến Hong Kong năm 1841 và gây ra chiến tranh nha phiến 1840 – 1842 với Trung Quốc.
Nay, trên đất Pháp, Trương Vĩnh Ký thấy tận mắt:
• Cách mạng kỹ nghệ (xưởng máy đồ sộ, máy móc tối tân)
• Phát triển kinh tế (đường rầy và toa xe lửa,, ngân hàng tín dụng, nhà buôn đồ sộ)
• Sản xuất kỹ nghệ với số lượng to.
• Bành trướng thị trường
• Truyền thông, tại Paris có tờ la Gaqzette ra đời từ 1631, tờ Journal des Savants (trong Tao Đàn) ra đời năm 1650 báo có đăng cả hình ảnh.
• Các sĩ quan hải quân và các nhà truyền giáo ở Đại Nam về cung cấp bài vở cho báo chí hoặc liên lạc và trao tài liệu cho nhà báo để viết bài.
• Như báo đăng các vụ giết đao ở Đại Nam từ 1859 đến 1862 làm cho con chiên cực kỳ xúc động. Có khi báo phóng đại tin tức, như sứ bộ phan Thanh Giản lãnh sứ mạng đến triều đình chuộc 3 tỉnh miền Đông với số bạc 40 triệu nguyên (dollars) mà báo đăng 85 triệu trong khi sứ bộ chưa đặt chân đến bàn hội nghị.
C- Những sự kiện làm thay đổi tầm nhìn của Trương Vĩnh Ký
Giữa lúc ở Nam Ký lục tỉnh khoa thi cử Hán học đã bị bãi bỏ, các cuộc võ trang chống Pháp của nghĩa dõng miền Nam đã lần lượt bị dẹp, và bài thơ chống Pháp của những sĩ phu không gây ảnh hưởng gì.
Nguyễn Trường Tộ (1830-1871), với lòng yêu nước, vào tháng 4-1861 dâng bản điều trần “hòa từ” cho khâm sai Nguyễn Bá Nghi và ngày 3-4-1863, dâng bản điều trần “thiên hạ đại thế luận” cho phó sứ Phạm Phú Thứ. Nhưng cả hai bản điều trần đều bị bỏ qua không được để ý đến.
Ngay cả chính khâm sai đại thần Phan Thanh Giản khi đi sứ Âu Châu về triều kiến vua, tâu mọi sự, cũng phải làm thơ than,
Than thở
Từ ngày đi sứ Tây Kinh,
Thấy việc Âu Châu phải giựt mình,
Kêu tỉnh đồng bang mau kịp bước,
Hết lời năn nỉ chẳng ai tin.
Sự kiện chứng tỏ Vua và triều đình chỉ chú tâm “đánh đuổi Tây Dương ra khỏi xứ” và vẫn khư khư áp dụng chính sách bất bang giao, bế quan tỏa cảng và cấm đạo.
Người có lòng yêu nước, có óc thực tiễn, nhìn xa thấy rộng, thông thạo trên 20 sinh ngữ Đông phương và Tây phương, nhận thức vai trò quan trọng của báo chí như Trương Vĩnh Ký sẽ đem mọi sức mình cố gắng vượt qua mọi trở lực để mong thực hiện sự thay đổi văn hóa cơ bản Việt Nam. Ông nghĩ rằng sự phát triển và đại chúng hóa “chữ quốc ngữ” là một điều kiện tiên quyết cho sự tiến bộ để bắt kịp nền văn minh Tây phương.
Do đó, Trương Vĩnh Ký là nhà tiền phong làm báo bằng “chữ quốc ngữ” viết bằng văn xuôi.

3. Gia Định báo, tờ báo thực sự có một phần nhỏ Công báo
Rời Pháp đến đầu hay giữa năm 1865, Trương Vĩnh Ký mới về Sài Gòn.
Năm 1866, Trương Vĩnh Ký được mời làm giáo sư dạy ở trường thông ngôn.
Đến năm 1869, ngày 6 tháng 9, phó đề đốc G.Ohier, Thống Soái Nam Kỳ, ký nghị định bổ Trương Vĩnh Ký vào chức vụ Chủ nhiệm tờ Gia Định báo có lương.
Cánh cửa đã hé, đúng sở nguyện của Trương Vĩnh Ký là dùng tờ báo làm phương tiện truyền thông với đồng bào nhất là giới bình dân biết “quốc ngữ”.
Trương Vĩnh Ký kiêm nhiệm chủ bút.
Huỳnh Tịnh Của, đặt dưới quyền điều khiển của Trương Vĩnh Ký trở thành cộng sự viên của ông.
Từ bước rẽ ngoặt này, kể từ ngày 9-1869, tờ Gia Định báo thay đổi từ hình thức đến nội dung.
Về hình thức, báo bắt đầu xuất bản 1 tháng 2 kỳ, rồi 4 kỳ, mỗi năm gồm 16 hay 20 trang khổ nhỏ. Năm 1872, sau khi Trương Vĩnh Ký thôi không làm chủ nhiệm nữa, báo trở lại thuần túy công báo xuất bản mỗi tháng 2 kỳ.
Về nội dung, báo chia ra 2 phần:
• Phần công vụ, 4 trang, đăng các nghị định, thông báo của Thống Soái phủ.
• Phần tạp vụ, 16 trang, rất đa dạng, đăng những bài tiểu luận về lịch sử, thơ phú, truyền thuyết, các tài liệu về văn hóa trở nên rất quan trọng.
Trong bốn năm liên tiếp, từ 1859 đến 1872, với chức chủ nhiệm, Trương Vĩnh Ký khuyến khích và tập luyện các viên chức như là thông ngôn, ký luận, giáo tập (giáo viên dạy học trò nhỏ) viết văn và viết tin tức xảy ra ở địa phương như thông tín viên để đăng vào phần “tạp vụ” của tờ báo. Sự khuyến khích kéo dài này của Trương Vĩnh Ký đến mức làm cho nhà cầm quyến nghi ngại.
Mọi phí tổn liên quan đến tờ báo, Trương Vĩnh Ký không quan tâm đến. Báo được phát không đến các xã, các trường.
********************
Vài nhận xét liên quan đến tờ báo
Phó đề đốc Roze, thống soái Nam Kỳ nhận xét như sau:
“Tờ báo này (Gia Định báo) có mục đích phổ biến cho dân bản xứ các tin tức đáng cho họ lưu ý và cung cấp cho họ “một số hiểu biết thông thường liên quan đến các vấn đề phát triển nông nghiệp”
Các thanh tra ở mỗi địa phương báo cáo cho biết: “Tờ Gia định báo rất được sự ủng hộ nồng nhiệt của dân chúng, và ở nhiều nơi, các em bé biết “quốc ngữ” đọc to cho ông bà cha me nghe…
Giám đốc Gia Nội Chính cũng báo cáo:
“Quốc ngữ” chỉ có 27 chữ cái và các chữ này giúp cho một người viết ra hàng chục ngàn việc. Một người có thể viết ra bất cứ chữ nào. Nó không giống như chữ Hán. Một người có thể học chữ Hán cho đến già và rồi vẫn gặp những chữ lạ, và không biết những chữ ấy viết ra sao. Còn “quốc ngữ” hoàn toàn không khó. Với vài tháng cố gắng bạn có thể học nó hoàn hảo.
Trong cộng đồng người Pháp tại Nam Kỳ, ý kiến không đồng thuận về giá trị của “quốc ngữ”. Nhiều người thích tập trung vào việc dạy người An Nam tiếng Pháp. Ngay cả một số người An Nam có cảm tình với những mục tiêu của nhà cai trị Pháp cũng đã công kích “quốc ngữ” với những lí lẽ khác nhau. Nhiều nhà Nho đã mãnh liệt chống đối với mọi cố gắng du nhập loại chữ cái “kiểu Tây phương” (chữ Latinh) thay thế chữ Hán và chữ Nôm đang được sử dụng.
Chỉ có hai người mà sự nghiệp kết liền với tờ Gia Định báo, đã phát triển đến việc viết “quốc ngữ” và đã chứng minh sự đầy đủ của chữ này để phát biểu mọi ý nghĩ hay ý kiến.
Hai người tiền phong đó là Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của (Paulus) đều là người Nam Kỳ.
Đúng ra là chỉ có Trương Vĩnh Ký hoàn toàn chú trọng đến sự truyền bá chữ “quốc ngữ” để thay thế chữ Hán và chữ Nôm, còn Huỳnh Tịnh Của chỉ đảm nhận ông việc dịch từ chữ pháp ra chữ “quốc ngữ” các công văn và nghị định của Thống Soái phủ.

4. Tờ Thông Loại Khóa Trình (Miscellanée)
Đây là tờ nguyệt san “học báo” do Trương Vĩnh Ký chủ trương và chủ biên.
Đặc biệt lưu ý:
Trang bìa hoàn toàn chữ Hán và chữ Pháp, không một chữ quốc ngữ nào ngoài tên “Trương Vĩnh Ký”.
• Chữ Hán to Thông Loại Khóa Trình (có nghĩa là tạp văn)
• Chữ Pháp: Miscellanée (tạp văn)
Ou
Letures instructives
Pour
Les élèves des écoles primaires, communales, cantonales
Et les familles
Par
P, J. B . Trương Vĩnh Ký
Báo không có đại lý ở tỉnh, báo chỉ nhờ đường dây bưu điện; lúc bấy giờ sự vận chuyển trong xứ hầu như bằng đường thủy. Trong một thông cáo đăng trong báo, Trương Vĩnh Ký mời độc giả ở gần nhau họp lại mua một bưu phiếu để đỡ tiền bưu phí. (Như thế, người ta chuyền tay mà đọc một tờ).
Nội dung:
Nguyệt san Thông Loại Khóa Trình chỉ đề cập đến văn hóa Đông phương, văn hóa dân gian, không hề đề cập đến văn hóa Tây phương hay văn học Pháp.
Báo trình bày văn xưa và văn hiện đại, nhân vật lịch sử, luân lý, đạo đức, phong tục, kiến thức phổ thông v.v…
Báo cũng có những bài đề cập đến thời cuộc lúc bấy giờ và tác giả có một thái độ rõ rệt theo hay chống cựu trào, tân trào hay theo chống thực dân xâm lược Pháp.
Đến các bài thơ chống Pháp của các sĩ phu ẩn dật, trong dân gian truyền miệng nhau, Trương Vĩnh Ký vẫn cho đăng nhưng không ghi tên tác giả, như:
Bài “Con Rận Thơ” của Cử Phan Văn Trị”
2 câu mở đầu bài của Bùi Hữu Nghĩa:
“Ai khiến thằng tây tới vậy à
Đất nước bỗng chốc nổi phong ba”
Riêng Trương Vĩnh Ký cũng có một bài vè 38 câu chỉ trích chánh sách cai trị hà khắc của thực dân, đăng trong Thông Loại Khóa Trình số 12 tháng 4-1889 tr.9-10:
“Nằm canh điễm mục” (Vè Nằm Dỏ)
“Kể từ có giặc Lang Sa,
Muôn dân thiên hạ nhà nhà đảo điên.
Dân tình ai nấy ưu phiền
Sưu cao thuế nặng quan truyền vô đây”
Chắc chắn nhà cai trị thực dân Pháp thừa biết nhưng im lặng chỉ vì các cuộc võ trang chống pháp của các nghĩa dõng miền Nam còn bị dập tắt hết từ 1872, huống hồ vài câu thơ chửi bới làm gì thay đổi được tình thế hay làm cho dân nổi loạn.
Trương Vĩnh Ký cũng có một loạt bài biện minh và tán dương Phan Lương Khê (tức Phan Thanh Giản).
Những cộng tác viên của Trương Vĩnh Ký:
• Thế Tải Trương Minh Ký, môn sinh
• Nguyễn Khắc Huề, thầy dạy chữ Hán ở Bến Tre
• Trần Hữu Hạnh, giáo sư dạy ở Collèfe dees Stagiaires
• Đặng Đức Tuấn, linh mục Bình Định
• Nguyễn Biển Doan, linh mục Sài Gòn
• Phan Tuấn, thông phán Quảng Nam
• Nguyễn Xuân Quờn
• Lê Ngọc Chất
• Léon Trương Vĩnh Viết, con trai.
Chín năm sau tờ Thông Loại Khóa Trình, tờ báo thứ hai ở Nam Kỳ lục tỉnh xuất hiện. Đó là tờ Phan Yên báo, tuần báo do Diệp Văn Cương làm chủ nhiệm, ra mắt tháng 12-1898, đến tháng 2-1899, được 7 số thì bị cấm lưu hành. Lý do: báo có tính cách chính trị, công khai chỉ trích chính sách cai trị của thực dân Pháp.
Sang thế kỷ 20, mới xuất hiện tờ tuần báo thứ 3, tờ Nông Cổ Mín Đàm, 8 trang khổ 27×20 cm ra mắt ngày 1-8-1901, do Canavaggio, người Pháp chủ trương sáng lập và Dũ Thúc Lương Khắc Ninh (1862-1942) làm chủ bút.
Tờ tuần báo thứ 4, tờ Lục Tỉnh Tân Văn ra mắt ngày 14-11-1907 do Pierre chủ trương sáng lập và Trần Nhựt Thăng, bút hiệu Đông Sơ (tức Gilbert Trần Chánh Chiếu) (1867-1919) (1)

KẾT LUẬN
Gia Định báo từ khi ra mắt (6-4-1865) chỉ là tờ Công báo 4 trang với mục đích thông báo cho viên chức biết đường lối cai trị của nhà cầm quyền Pháp.
Đến tháng 9-1859, khi Trương Vĩnh Ký lãnh trách nhiệm có lương, Gia Định báo vẫn giữ phần công vụ 4 trang, còn phần tạp vụ 12 hay 14 trang.
Trương Vĩnh Ký lập tức lấy tờ Gia Định báo làm phương tiện truyền thông để gây tinh thần dân tộc bằng cách khuyến khích các viên chức viết văn và viết tin tức như phóng viên tờ báo.
Năm 1888, Trương Vĩnh Ký hoàn toàn chủ trương nguyệt san Thông Loại Khóa Trình, với tiền túi eo hẹp của mình, không có bàn tay nào của thực dân cả. Trương Vĩnh Ký đem hết tài sức để dấn thân vào nghề làm báo.
Uyên bác về ngữ học, thông thạo cả 20 sinh ngữ Đông và Tây phương, đặt nặng tinh thần dân tộc, Trương Vĩnh Ký nhận thấy lối thoát dân tộc là lấy chữ “quốc ngữ” làm phương tiện truyền thông đại chúng hầu mở mang và nâng cao dân trí.
Dù học rộng, hiểu sâu, Trương Vĩnh Ký không tài nào độ được sức phản ứng của các nhà Nho quá thủ cựu, kể cả vua và triều đình Huế quá lâu đời tiêm nhiễm Hán học và khoa cử, không bao giờ chấp nhận loại chữ viết bằng ngòi bút thép với mẫu tự “latinh”.
“Thông Loại Khoá Trình không gặp khó khăn về phía cầm quyền mà tự đình bản vì tiêu thụ kém và nợ nhà in.
Tờ Phan Yên báo do Diệp văn Cương chủ trương vừa mới ra thì bị cấm lưu hành ngay.
Hai tờ Nông Cổ Mín Đàm và Lục Tỉnh tân văn do người Pháp chủ trương nên những sự khó khăn xảy ra với nhà cai trị dễ giải quyết ổn thỏa…
Như thế, xuyên qua tờ “Thông Loại Khoá Trình” (Miscellanée), Trương Vĩnh Ký, với tinh thần dân tộc cao độ, là nhà tiền phong làm báo, hay đúng ra là Tổ Sư nghề làm báo bằng chữ “quốc ngữ”.
Minh Hiền
Outremont 9-1997
1. Trần Chánh Chiếu bị bắt giam từ tháng 10-1908 đến tháng 4-1909 không phải vì lí do làm báo mà vì lập hội Kín Minh Tân (Phong trào Đông Du). Có tất cả 91 người cùng bị bắt với Trần Chánh Chiếu. Trần Chánh Chiếu được trả tự do là nhờ sự vận động của nhà chí sĩ Luật sư Phan Văn Trường đang ở Pháp và sự can thiệp của chánh phủ Nhật Bổn.
Sách tham khảo:
• Đạo Thiên Chúa và chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam. 1988. Cao Huy Thuần.
• Làng Hành Thiện và các nhà nho Hành Thiện triều Nguyễn. 1991. Đặng Hữu Thụ.
• Việt Sử Khảo Luận (tập 6) 1990. Hoàng Cơ Thụy.
• Những bước đầu của báo chí 1992. Bùi Đức Tịnh.
• Understanding Việt Nam (chương Confrontation with the West) 1993. Neil L. Samieson. University of California.
• Trương Vĩnh Ký, nhà văn hóa 1993. Nguyễn văn Trung.
• Đặc san Petrus Ký Houston 1994.