Kỷ niệm đệ bách chu niên của nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký

Nguyễn Quang Tuyến

TIỂU SỬ

Trương Vĩnh Ký sanh năm 1837 tại Cái Mơn, xã Vĩnh Thạnh, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long, nay thuộc tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre). Ông trưởng thành và học hành với khối óc thiên phú, trội vượt hơn người, nên đã sớm thành danh và trở thành nhà Bác Học độc nhất vô nhị của nước Việt Nam. Ông thông thạo chữ Hán, chữ quốc ngữ, đọc thông viết thạo, đàm thoại giỏi được nhiều ngoại ngữ như: Anh, Pháp, La tinh, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Tàu, Lào v.v…

THÂN THẾ

petrus-ky03 Năm 1863, ông Phan Thanh Giản được đặc cử sang Pháp để điều đình chuộc lại 3 tỉnh phía Đông miền Nam: Biên Hoà, Gia Định, Mỹ Tho, ông Trương Vĩnh Ký được cử đi để thông ngôn, đã được rất nhiều nhân vật Pháp mến phục.

Khi về nước, ông được cử làm giáo sư, rồi Đốc học trường Thông ngôn (Collège des Interprètes); giáo sư trường Cai Trị (Collège des Stagiares). Năm 1886, được Toàn quyền Paul Bert triệu ra Huế và được xung vào Cơ mật Viện để giúp việc cho triều đình Huế và Soái phủ Pháp ở Sài Gòn. Nhưng vì hai chính phủ vẫn có những điểm tranh chấp bất đồng, sự nghi kỵ vẫn kéo dài liên miên, nên cũng sinh lắm điều phiền phức, khó khăn trong nhiệm vụ của ông, nên ông đã xin từ chức và về nghỉ ở Nam Kỳ (Conchinchine), ngày ngày chuyên chú về việc trước tác và phổ biến văn hóa, cho nên chữ quốc ngữ chóng thành công, mang đậm đà tình yêu mến dân tộc.

SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG – Chủ nhiệm tờ Gia Định Báo

Theo diễn tiến của tờ Gia Định báo, ai nấy đều biết vua Đồng Khánh từ sau khi lên ngôi vua 9-9-1865, nhà vua bằng lòng thi hành các thỏa ước đã kí kết với Pháp tức là chịu nhượng địa cho pháp: Nam Kỳ (Cochinchine) đã trở thành thuộc địa; Đà nẵng, Hải phòng đều là nhượng địa.

Để đặt nền đô hộ trên đất nước ta, ngay từ 1861-1888, người pháp đã cho xuất bản:

  1. Tờ “Le Bulletin Officeil de I’Expédition de la Conchinchine” ( Bản tin chính thức của đoàn quân viễn chinh Nam Kỳ).
  2. Tờ “Le Bulletin des Communes”, in bằng Hán văn, nhắm vào các quan lại của triều đình Huế.
  3. Tờ “Le Courrier de Saigon”, nhắm vào các kiều dân Pháp tại Sàigòn. Nhưng đến năm 1864, đô đốc Grandère đã nảy ra ý nghĩ là xuất bản một tờ báo có chiều hợp thời hơn bằng chữ quốc ngữ, vì lúc đó chữ quốc ngữ đang thịnh hành và phát triển khá mạnh. Nửa năm sau, ý định đó đã thành sự thật và số “Gia Định Báo” đầu tiên ta mắt độc giả vào ngày 15-4-1865 mãi tới năm 1897 mới đình bản.

1. Người điều khiển Gia Định Báo.

Trong các năm đầu do một người pháp tên là Ermest Potteaux điều khiển. Nhưng từ 1869 trở đi, tờ báo này được trao lại cho ông Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký – 1838-1898). Ông là nhà bác học Việt Nam, học rộng biết nhiều, thông thạo rất nhiều ngoại ngữ như đã nói trên. Suốt 28 năm làm chủ nhiệm tờ Gia Định báo với ý định truyền bá chữ Quốc ngữ cho toàn dân. Trong ban biên tập gồm có: ông Trương Vĩnh Ký, chủ nhiệm, Huỳnh Tịnh Của, chủ bút, Trương Minh ký, Tôn Thọ Tường v.v…

2. Nội dung tờ Gia Định Báo:

Trên các số báo phát hành đầu tiên gồm 2 phần chính:

  1. Công vụ: thường đăng tải những nghị định thăng thưởng, trừng phạt, cấm cách v.v… của Hội Đòng quản hạt.
  2. Tạp vụ:Ngoài công vụ đăng những lời rao, trích đăng in tức của những tờ báo khác, đính chính. Nhờ đó đồng bào hiểu rõ tình hình nông nghiệp của các tỉnh, các dịch vụ buôn bán, giờ khởi hành của tàu đò, chương trình đua ngựa, quảng cáo v.v… Sau này có thêm phần khảo cứu, nghị luận và những mục cần thiết.

Gia Định Báo là một tuần báo nhưng ngày phát hành không ấn định, số trang cũng không nhất thiết từ 4 đến 12 trang; khổ 25×32 cm; giá bán mỗi số là 0.17 đồng; nếu mua dài hạn cả năm là 6.67 đồng.

Một tư liệu khác cũng ghi: mấy năm đầu, Gia Định Báo xuất hiện 1 tháng 1 lần. Sau vài năm xuất bản 1 tháng 2 lần; đến năm 1880 tờ báo xuất bản 1 tháng 4 lần nhằm vào ngày thứ ba mỗi tuần.

Ông cũng là rừơng cột của nhiều tờ báo Quốc ngữ, đặt nền móng và phát triển báo chí Việt Nam trên mọi phương diện, phong phú đủ mọi thể loại, tổ chức rất quy mô, đa dạng về mọi phong cách, phóng những cái nhìn xa xôi hơn để cổ động về tân học, tiếp xúc với bạn đọc và đã được thiện cảm với mọi giới.

3. Trước tác:

Ông bắt đầu sáng tác từ năm 26 tuổi (1863) cho đến khi từ trần (1898). Dù là nhà Bác học của Mẹ Việt Nam, song ông không sống gò bó trong quyền cao chức trọng, ông chỉ muốn đem sự hiểu biết của mình để đắp bồi cho nền văn hóa Việt tộc ngày thêm giàu mạnh.

Bằng khối trí tuệ uyên bác, vi sự sáng tác và làm việc nhanh chóng, vị bác học thời danh đã sáng tạo ra một dung lượng tác phẩm đồ sộ, gồm nhiều thể loại, nhiều sáng tác nổi tiếng, đã làm cho nền văn hóa dân gian Việt Nam ngày thêm phong phú cũng như được nhiều người ngoại quốc biết đến, với rất nhiều sáng tác bằng chữ Pháp, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ như:

  • Chuyện đời xưa lựa lấy những chuyện hay và có ích – 1866.
  • Cours d’ Histoire Annamite, Saigon 1875-1877.
  • Voyage au Tonkin en 1876.
  • Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, Saigon 1882.
  • Nữ tắc, Sài Gòn: Guilland et Martinon, 1882.
  • Chuyện khôi hài, Sài Gòn: Guilland et Martinon, 1882.
  • Bất cượng chớ cượng làm chi, Saigon 1882.
  • Phép lịch sự Annam, Saigon 1883.
  • Grammaire de la langue annamite, Saigon 1884.
  • Kiếp phong trần, Saigon 1885.
  • Cờ bạc, nha phiến bằng văn xuôi và văn thơ, 1885.
  • Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca, Saigon et Martinon.
  • Tứ thư (Đại học, trung dung), Saigon: Ray et Curiol, 1889.
  • Minh Tâm Bửu Giám, Saigon: Rey, Curriol & Cie, 1891-1893.

4. Dịch thuật:

Ông cũng dã dịch thuật các truyện từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ:

  • Kim Vân Kiều, Nguyễn Du, Saigon 1875.
  • Đại Nam quốc sử diễn ca, Saigon: bản in nhà nước.
  • Lục súc tranh công, bản in nhà chung, 1887.
  • Lục vân Tiên, truyện Nguyễn Đình Chiểu, Saigon 1889.

Để bảo tồn đạo lý Đông Phương, ông cũng đã dịch các sách chữ Hán ra Quốc âm, để dẫn đường cho đồng bào mình biết đường hướng đạo lý cho xứng hợp với đạo lý tiền nhân lưu lại.

Vũ Ngọc Phan trong phần phê bình ông Pétrus Trương Vĩnh Ký về trước tác và dịch thuật đã viết như sau:

“như vậy, khoảng 35 năm trời, Trương Vĩnh Ký đã cho ra đời biết bao nhiêu là sách, ấy chỉ là mới chỉ kể những quyển chính thôi. Mới đầu ông xuất bản những quyển sách bằng chữ quốc ngữ, phiên dịch ở những sách Nôm ra. Hồi đó ông cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm lợi khí cho quốc ngữ được lan rộng trong dân gian, không như bây giờ chúng ta dùng quốc ngữ làm lợi khí truyền bá tư tưởng và học thuật… Nếu xét tất cả những sách rất khác nhau do Trương Vĩnh Ký biên tập, dịch thuật, sáng tác và xuất bản trong thời gian 1863-1898, người ta thấy rõ ông là nhà bác học, có óc tổ chức và có phương pháp, chứ không còn phải là một nhà văn như các nhà văn khác”.

Vì hiểu được nhiều ngoại ngữ, ông đã tham khảo các sách vở Âu Tây và đã soạn ra các sách quốc ngữ, rồi nhờ báo chí để phổ biến cho dân chúng những điều hay lẽ phải của khắp nơi trên thế giới.

Ông cũng là tác giả của nhiều sách dạy về ngoại ngữ như: Pháp, Tàu v.v… Nhưng sách của ông soạn thảo có hàng trăm quyển gồm các loại: giáo khoa, lịch sử, địa lý, cách trí, tự điển…

Vì lẽ đó, một ký giả của tuần báo đã viết về ông như sau: “Tài đức của ông Trương Vĩnh Ký còn được những nhà tài bút đề cao trên sách báo”.

Kể ra người ta nói đến ông cũng đã nhiều. Từ người Pháp đến người Nam, từ văn vần đến văn xuôi, tiểu sử và sự nghiệp của ông đã được truyền tụng trong xã hội Việt nam và cả một vài đô thị lớn trên toàn cầu.

Những nhà thông thái các hội học, những người Việt nam viết đọc chữ quốc ngữ, không ai là không biết đến tên Pétrus Trương Vĩnh Ký.

Tuy nhiên, nói hoài cũng chưa hết, viết nhiều cũng chưa đủ.

Làm sao nói cho hết được thanh thế và sự nghiệp trước tác của ông Trương Vĩnh Ký cùng ảnh hưởng và sự nghiệp của ông đối với người đồng bang và văn hóa Việt Nam.

Ông Trương Vĩnh Ký vừa là một nhà bác học, vừa là một nhà chính trị, mặc dầu nhà chính trị bất đắc dĩ.

Tóm lại, ông Trương Vĩnh Ký là một nhân vật lịch sử mà các lớp người sau không thể nào lãng quên được.

NHỮNG LƯU NIỆM VỀ NHÀ BÁC HỌC PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ.

Tại Saigon, hiện nay có những kỷ niệm lưu dấu về nhà Bác Học Việt Nam Petrus Trương Vĩnh Ký như:

  • Tượng đài Trương Vĩnh Ký, được thiết lập tại công viên phía trứơc Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm bốn mặt đường: đại lộ Thống Nhất, đường Duy Tân, đường Alexandre de Rhodes và đường Công Lý.
  • Phần mộ thuộc giòng họ Trương, tại mặt đường Trần Hưng Đạo ngay khu Chợ Quán, tường quách được xây cất rất trang nghiêm, làm cho mọi qua lại được ngắm cảnh lại sinh tình. Lui vào phía trong là giáo xứ Chợ Quán, một địa danh đã được ghi lại trong số họ đạo lịch sử, cổ kính của Tông Toà Saigon trước kia cũng như các họ đạo khác: Ba Chiểu (Gia Định,), Huyện Sĩ, Xóm Chiếu, Thị Nghè và Thủ Thiêm v.v.
  • Trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký.