Ðôi Bạn Tuổi Thơ

Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế

Hưng dọt ra khỏi nhà bằng cửa sau, vòng qua khoảng đất trống nằm phía sau ba căn phố, men theo hẻm nhỏ dọc bên hông căn phố số 50 và gặp ngay Long đang đứng đợi ở đó.

“Mầy cũng lẹ thiệt“, Long nói nhỏ trong khi hai đứa cùng sánh vai bước đi ra đầu hẻm, “Tao đã hẹn thằng Bò và thằng Răng ở đằng xe nước đá của Chú Chiêu. Mầy có tiền không ?” “Tao chỉ có năm cắc thôi, đủ hông ?,” thằng Hưng trả lời, giọng hơi lo. “Dư rồi, tao còn tới trên một đồng lận mà“, Long trấn an bạn với một nụ cười tươi.

Vừa ra khỏi đầu hẻm, hai đứa suýt nữa đụng vào anh Thiệt đang quơ cây gậy trúc nhỏ và quẹo vào hẻm.  Hai đứa vừa bước né sang một bên tránh anh Thiệt, vừa lúc Long cũng lên tiếng:

“Bửa nay về sớm quá vậy anh Thiệt, bán hết rồi hả ?” “Thằng Long phải hông”, anh Thiệt trả lời liền, “ừa, bửa tay tao hên quá, ừa, mà quên, cúng đình mà mậy, người ta đi đông quá, tao về rang thêm một mớ nữa để tối nay bán, tối nay chắc còn đông hơn nữa.  Ủa, mà mầy đi với ai vậy, thằng Hưng phải hông? Tụi bây đi tắm sông bây giờ phải hông ?” ” Phải, tui với thằng Hưng đây, mà anh đừng có nói cho ai nghe nha.  Má thằng Hưng nghe được thì chết nó đó.  Thôi tụi tui đi nghe anh Thiệt.”

Nói xong một hơi thằng Long kéo tay bạn đi nhanh về phía đầu đường Faucault ra hướng Ðakao.  Thằng Hưng vừa lắc đầu vừa nói: “Tao phục ảnh thiệt, hễ về tới đầu hẻm là ảnh quẹo vô liền, không trật một lần.” “Ừa, tao cũng hổng biết luôn, chắc ảnh đếm bước hay sao đó mầy.”  “Ðếm cái gì nổi, ảnh đi lung tung, bửa chổ nầy, bửa chổ kia.”

Anh Thiệt là một người đàn ông mù, tuổi cở chừng hai mươi mấy, sống tá túc trong nhà của thằng Răng, và sinh sống bằng nghề bán đậu phộng rang.  Nghe nói ảnh có bà con sao đó với bà Năm, má thằng Răng, ở dưới quê Gò Công lên đây ở từ hơn ba năm nay. Ảnh bị mù ngay từ hồi sinh ra, cha mẹ chết hết, lại không có anh em chi cả, nên, trong một lần về thăm quê, bà Năm đã cho ảnh theo lên, cho ảnh tá túc đằng sau hè, và giúp ảnh một ít vốn để ảnh mưu sinh.  Mỗi sáng, anh Thiệt rang đậu phộng đằng sau hè căn phố 50, trong một cái chảo gang cũ đặt trên một cái ông lò đất đỏ cũng cũ mèm.  Ðiều đặc biệt làm Hưng chú ý theo dõi là anh Thiệt rang đậu không có dùng dầu, mỡ gì cả như mẹ Hưng rang tép hay rang thịt, ảnh đỗ cát vào trong chảo, khi cát đã nóng lên thì anh cho đậu vào và rang cho đến khi đậu chín đều thì anh đỗ ra một cái tràng và rãi cho cát rơi xuống sạch hết.  Sau đó anh cho đậu vào bao giấy, cắt dán bằng hồ từ mấy tờ nhựt trình ra, làm thành những gói hình như cái quặng, rồi cho vào thùng thiết có nắp đậy lại. Ðeo cái thùng thiết có quay bằng vải lên vai, đội thêm cái nón lá rách tả tơi lên đầu, anh Thiệt bọc vòng con hẻm nhỏ ra đường Faucault, có ngày anh đi về hướng Ðakao, mà cũng có hôm anh đi xuống phía Tân Ðịnh.  Cứ bán hết thì anh về, ngày nào như ngày nấy, anh không bao giờ lạc đường.  Anh lại rất ngoan đạo, ngày nào cũng vậy, dù đã bán hết hay còn đậu, anh đều đi lễ năm giờ chiều ở Nhà thờ Tân Ðịnh.  Riêng Chúa Nhật, thì anh luôn luôn đi lễ sáng sớm lúc 6 giờ.  Tối tối, bữa nào vui thì anh lại ca Vọng Cổ cho bọn trẻ con trong xóm nghe chơi.  Hưng chưa hề thấy anh gây gổ với ai, trong xóm ai cũng thương anh, nhất là bọn trẻ con như Long và Hưng.

chuyen thoi tuoi nho 02

Ðến chỗ xe nước đá của chú Chiêu thì Hưng và Long đã thấy thằng Bò và thằng Răng đợi ở đó rồi. Cả đám nhập bọn cùng đi ra đầu đường. Chúng quẹo trái đi về hướng Cầu Bông. Ðến trước rạp Casino Dakao, cả bọn dừng lại, đứng xem hai tấm pa-nô đặt hai bên trước cửa rạp lúc đó còn đóng kín bằng cửa sắt kéo. Tấm bên trái quảng cáo phim King Kong hiện đang chiếu, vẽ hình một con khỉ khổng lồ, một tay cầm một cô gái, tay kia thì đang đấm vào ngực. Tấm bên phải quảng cáo cho phim Colt 45, vẽ hình tài tử cao bồi Randolph Scott đang cầm khẩu ru-lô, đằng sau là hình cô đào khiêu gợi Ruth Roman. Rạp Casino Dakao chỉ chiếu mỗi ngày một xuất vào bảy giờ tối, trừ ngày Chúa Nhật thì có thêm hai xuất mười giờ sáng và hai giờ trưa. Cả đám bàn tán một hồi về phim King Kong rồi kéo nhau tiếp tục đi. Khi băng qua đường Paul Bert để tiến lên dốc Cầu Bông thằng Bò chợt hỏi: “Uả, mình hổng đi bằng ngỏ xóm Vạn Chài hả Long ?” “Hông, kỳ nầy tao dẫn tụi bây đi ngõ trại cưa Trần Pháp cho tụi bây biết thêm đường. Với lại sao mà mỗi lần đi qua xóm Vạn Chài, thấy tụi nó dòm mình lom lom, tao ớn quá trời.” “Tại tụi nó thấy mình lạ mặt chớ có gì đâu”, Hưng xen vào, “tao thấy tụi nó cũng hiền mà.” “Với lại phía Miễu Nổi có mấy cái xà lan, mình khỏi phải đạp xình khi xuống sông”, Long nói tiếp. “Vậy hay quá, tao chịu lắm, tao sợ xình thấy mồ”, thằng Răng có vẽ khoái chí tử.

Ðến giữa cầu, cả bọn ngừng lại, dựa vào thành cầu đúc bằng bê tông, nhìn xuống sông. Nước sông lúc đó lên đã khá cao, che lấp hết hai bãi xình, nhưng vẩn còn thấy các chân cột của các ngôi nhà sàn cất hai bên bờ. Gió thổi mát rượi. Nhìn sang phía tay trái, chúng thấy rõ một chiếc ghe chở cát đang đậu cập vào bãi đất phía sau của vựa vật liệu xây cất ở đầu đường Paul Bert. Hai tấm ván dài bắt từ trên ghe đi xuống bãi đất, một tấm để đi lên, một tấm để đi xuống. Những người gánh cát đều là đàn bà. Họ ăn mặc giống nhau, quần vải đen, áo thì có người mặc vải trắng, có người mặc vải đen nhưng đều rất cũ, đậu họ đội nón lá, trên vai ai cũng có vắt cái khăn rằng để thỉnh thoảng họ lau mồ hôi. Họ làm việc rất nhịp nhàng. Ðổ xong cát từ hai cái thúng vào chỗ vựa cát thì họ quay lại đi lên ghe. Việc xúc cát cho vào thúng thì do hai người đàn ông làm. Họ ở trần trùng trục, chỉ mặc vỏn vẹn một cái quần xà lỏn đen. Ðứng xem một lúc bọn Hưng lại kéo nhau đi. Xuống khỏi dốc Cầu Bông chừng hơn trăm mét, bọn chúng quẹo vào một con đường đất khá rộng dẫn vào trại cưa Trần Pháp. Từ ngoài đường vào đến trại cưa chừng năm chục mét. Trại cưa Trần Pháp vào thời đó là trại cưa máy lớn nhất trong vùng, xe cộ ra vào khá nhiều, xe be chở súc vào, xe cam nhông chở ván đi. Vào gần đến bên trong bọn Hưng đã bắt đầu nghe tiếng máy cưa chạy rần rần, và mặt con lộ đã thấy phủ một lớp mạt cưa đỏ au. Toàn bộ trại cưa có mái tôn cao, nên khi tiến vào bên trong Hưng đột nhiên thấy mát liền. Mấy người thợ vẫn chăm chú làm việc, không để ý gì tới bọn Hưng cả, vì chủ trại cưa vẫn để cho những người sống trong khu Miễu Nổi, ngay phía sau trại cưa, mà một số làm công nhân cho trại cưa, sử dụng con đường nầy để ra vào. Bọn Hưng, do Long dẫn đầu, đi nhanh qua khu vực có máy cưa đang chạy, bọc vòng sang phía tay trái, ra khỏi phần trại cưa có mái che, tiến vào một con lộ đất nhỏ dẫn xuống bờ sông.

“Mấy chiếc xà lan đó, tụi bây thấy chưa”, Long vừa nói vừa chỉ tay về phía bên trái, “mình lên đó đi”. “Mầy chắc không có ai chớ”, thằng Bò hơi ngần ngại, “rủi người ta không cho mình lên thì sao ?” “Mầy đừng có lo”, Long vội trấn an bạn, “tao lên đó mấy lần rồi, với tụi thằng Giắc Cô, hổng có sao đâu”.

Cả bọn nghe Long nói chắc ăn vậy nên không còn do dự nữa. Tới gần Hưng mới thấy mấy chiếc xà lan lớn thiệt, nhưng chắc bị bỏ hoang từ lâu nên bị sét hết trơn. Tất cả có bốn cái, đậu cặp đôi, bọn Long leo lên chiếc gần nhất, rồi chuyển qua chiếc đậu cập phía ngoài. Hưng tiến ra sát cạnh ngoài của chiếc xà lan thứ nhì và thấy mình đã ở gần giữa sông rồi. Nó đưa mắt nhìn trở vô bờ, bên phải là trại cưa, bên trái là Miễu Nổi nằm trên một cù lao nhỏ, cách trại cưa không xa lắm. Miễu Nổi là một ngôi đền nhỏ, thờ một vị Thánh Mẫu, dân chúng trong vùng gọi nôm na là Bà, và tin là Bà rất linh, vì thế ngôi miễu nhỏ lúc nào cũng có nhang khói. Hưng tự nhiên thấy hơi sợ, nhưng không dám để lộ ra, sợ bạn cười.

“Cổi đồ đi, mầy còn chờ gì nữa Hưng”, tiếng Long gọi làm Hưng giựt mình. Nó nói nhanh để che dấu cái cảm xúc sợ sệt vừa thoáng qua. “ž”ờ, tao cởi đây, nhưng cất đâu bây giờ, tao thấy ông chắc sắp mưa đó.” “Mầy nhét nó ở đằng đầu nầy nè,” Long vừa cởi áo vừa chỉ tay vào cái bệ nằm bên trong vách xà lan, “khỏi sợ mưa ướt”.

Thoáng chốc, bốn đứa đều đã mình trần, chỉ còn cái quần xà lỏn. Thằng Long phóng xuống sông cái rầm, nước văng lên gần lọt vô xà lan. “Có lạnh lắm hông Long ?”, Hưng vừa xếp cái áo lại nhét vô dưới cái bệ vừa hỏi. “Hổng có đâu, nước ấm lắm”, Long vừa trả lời Hưng vừa lội ra xa, “nhảy xuống đi“.

Hưng leo lên thành xà lan, lấy hai ngón tay cái và trỏ của bàn tay mặt kẹp chặt hai lỗ mũi lại rồi nhảy đứng xuống sông. Nó nghe mát cả thân người, một cảm giác sảng khoái kỳ lạ, nó đột nhiên thấy người nó nhẹ đi và từ từ nổi lên, bàn tay nó đã lấy ra khỏi mũi hồi nào nó không hay. Vừa trồi đầu lên khỏi mặt nước, nó đưa tay vẫy về phía Long: “Ðã quá ! Mát quá”, vừa nói xong Hưng bị nước văng tùm lum vào mặt vì ngay lúc đó thằng Bò và thằng Răng cùng một lúc nhảy đùng xuống bên cạnh nó. Nó định la hai thằng kia thì Long cũng vừa lội trở lại và đề nghị chơi lội rượt bắt nhau.

“Búng tôm cá đi, thằng nào thua thì phải rượt“, Long vừa nói vừa vòng hai cánh tay lại  trên mặt sông, tạo ra một vòng tròn để búng tôm cá. Búng tôm cá là dùng ngón tay giữa của bàn tay mặt cong lại và búng mạnh xuống mặt nước, phía bên trong cái vòng tròn đã được “vẽ” ra trên mặt nước đó. Nếu tiếng búng tạo ra một âm thanh mạnh, ngọt, kêu cái “bốc” thì được kể là tôm và coi như thắng. Ngược lại nếu tiếng búng không đủ mạnh, chỉ kêu cái “chạch” thì kể là cá và bị thua. Nếu đứa nào cũng búng được tôm cả thì búng lại cho tới khi có đứa bị cá. Sau một hồi búng thằng Bò bị thua. Cả ba đứa kia lội ra xa và thằng Bò bắt đầu lội rượt theo. Cả bọn vui đùa, hò hét ầm ỉ, vẫy nước bắn tung toé. Ðộ gần nữa tiếng thì coi chừng cả bọn đều mệt, Long đề nghị lên xà lan nghĩ mệt, và cả ba đứa kia đều đồng ý. Cả bọn lội trở vào, trèo lên xà lan, nằm ngữa xuống ngay trên sàn xà lan, vừa thở dốc vừa nói chuyện.

“Hồi sáng mầy đi đâu vậy Hưng, tụi tao kiếm mầy quá chừng”, Long mở đầu câu chuyện, “mầy hổng biết hồi sáng nầy tống ôn sao ?” “Sao hổng biết, tao ở trong nhà chớ đâu. Má tao cấm không cho tao ra coi, mà tao cũng lén nhìn ra kẹt cửa để coi”, Hưng trả lời liền, “mà thấy ghê thiệt, tiếng trống đánh thùng thùng tao nghe mà tim đập quá chừng. Lúc cái xe giống xe nhà vàng đi qua, tao nhìn qua khe cửa thấy có người ngồi trên xe, mà hổng phải ngồi trên ghế, hình như ngồi trên hai con dao phay để dựng lưỡi lên, thấy ghê thấy mồ.”  “Phải rồi”, thằng Bò nói xen vô, “thằng chả ở trần trùng trục, đầu đội cái khăn đỏ, hai bên gò má lại có xiêng lình mấy cây dài xọc, lại còn hô lớn mấy câu thần chú gì đó.” “Nhưng mầy có thấy Ông Tề Thiên múa thiết bảng vùn vụt, đi ở đằng trước không ?”, thằng Răng lên tiếng, “sau ổng là cái kiệu nhỏ trên có để con heo quay thấy bắt thèm. Mà hổng biết rồi ai được ăn thịt heo quay đó hả tụi bây?” “Ðâu có ai ăn, bộ mầy hổng biết sao, người ta đem thả mấy cái đồ cúng đó xuống sông cho nó trôi đi luôn mà, tao nghe nói thả bằng bè chuối đó”, Long giải thích cho cả bọn nghe, “dưới quê tao nghe nói là chỉ có tụi chăn trâu là dám lội ra kéo bè chuối đồ cúng đó vô ăn mà thôi, hổng biết có đúng không”. “Ðúng đó”, Hưng nói tiếp liền, “má tao cũng nói như vậy đó, mà coi bộ trời sắp mưa tới nơi rồi đó. Thôi về tụi bây”. “Bậy nè”, Long thuyết phục bạn nó, “tắm sông trời mưa sướng lắm, để mầy coi”.

Lúc đó gió bắt đầu thổi mạnh lên, mây đen kéo tới làm cả vùng chợt tối sụp xuống. Hưng nhìn sang bên phía Miễu Nổi, ngọn mấy cây dương trồng trước miễu, sát mé sông, oằn qua oằn lại, tạo ra những tiếng hú u u, lúc đầu còn nhỏ, sau lớn dần. Hưng ngồi chồm dậy, nhìn ra sông, thấy mặt nước bắt đầu gợn sóng, và nghe tiếng sóng vỗ vào thành chiếc xà lan, và rồi cả chiếc xà lan cũng bắt đầu lắc nhẹ nhàng qua lại. Những hạt mưa đầu tiên rơi xuống, ban đầu còn thưa, và nhỏ, rồi càng lúc càng nặng hạt hơn, cùng lúc gió thổi nhanh lên, tiếng hạt mưa rơi xuống mặt sàn xà lan rào rào làm bạt di tiếng gió thổi và tiếng hú của mấy cây dương. Ngoài sông bây giờ là một màn trắng, không còn thấy cảnh vật bên Xóm Vạn Chài, bên kia bờ sông nữa. Hưng chợt cảm thấy hơi lạnh.

con-rach-nho-2

“Thôi xuống sông đi tụi bây”, Long la to lên, “ở dưới sông ấm lắm“. Nói xong, nó đứng dậy, leo lên thành xà lan và phóng xuống sông, không đợi tụi bạn nó trả lời. Hưng, Bò và Răng cũng phóng xuống theo Long liền. Vừa ngoi đầu lên khỏi mặt nước, Hưng chợt nghe một cảm giác kỳ lạ, nó nghe ấm cả thân người của nó ở trong nước, mặt của nó tiếp xúc với luồng gió trên mặt sông thì hơi mát lạnh một chút, cùng lúc tai nó bắt được âm thanh rào rào, dồn dập do tiếng hạt mưa rơi xuống mặt sông gây ra, mắt nó nhìn thấy mặt sông nổi sóng và nổi bong bóng phập phều. Nó úp mặt xuống, nín thở, cho cả thân người nổi lên, nằm xấp trên mặt sông, hai chân đập nhẹ nhẹ để thả tàu, và nghe một cảm giác còn lạ hơn, chỉ còn những âm thanh rào rào, do hạt mưa rơi đều đều trên lưng nó và trên mặt sông chung quanh người nó. Hưng thầm mong sao cho cơn mưa cứ kéo dài mãi để nó được tiếp tục cái cảm giác sảng khoái nầy. Nhưng cơn mưa rào chấm dứt thật bất ngờ cũng như khi nó tới. Chỉ độ chừng mười phút thì mưa ngưng. Những âm thanh kỳ diệu của cơn mưa trên mặt sông cũng ngưng liền, một cách đột ngột. Hưng ngẫng mặt lên, mặt sông không còn gợn sóng và nổi bong bóng nữa, nó quay sang phía bên kia bờ sông và cảnh vật của Xóm Vạn Chài lại hiện ra. Nó chợt nghe một cảm giác tiếc nuối và đột nhiên không còn hứng thú tắm nữa.

“Thôi về tụi bây”, Hưng lên tiếng kêu gọi các bạn. “Ừa, thôi về đi bây ơi“, Long tiếp lời Hưng, “tao cũng thấy hết khoái rồi”. Cả bọn leo lên xà lan, lấy tay vuốt nước khắp người cho khô bớt, rồi moi mấy cái áo nhét dưới bệ ra. Chúng không bận áo vào liền vì sợ áo bị ướt. Tay cầm áo, cả bọn leo qua chiếc xà lan đậu phía trong, rồi nhảy lên bờ, men theo lối đi cũ xuyên qua trại cưa để ra đường. Trước khi lên dốc Cầu Bông, cả bọn lấy áo ra mặc lại vì cả người đã khô, tuy cái quần xà lỏn vẫn còn hơi ướt.

Về tới đầu đường Faucault, tụi nó chia tay nhau, thằng Bò và thằng Răng quẹo tay mặt để đi về xóm, còn Hưng và Long thì băng qua đường Mayer, sang đường Albert 1er, để đi về hướng Ðakao. Ðộ hơn trăm mét thì chúng quẹo vô đường D’Ariès, đi về phía trường Huỳnh Khương Ninh. Còn cách trường chừng hơn chục mét hai đứa quẹo trái vô một con đường nhỏ dẫn ra tới đường Legrand de la Liraye. Tại đây có một căn nhà nhỏ, trước có sân gạch có đặt mấy cái bàn bi da và đá banh để cho mướn. Hưng và Long bước vào sân thì thấy thằng Lang và thằng Hòa đã có mặt ở đó rồi. Tụi nó đang chơi ở một cái bàn đá banh. Hai thằng nầy cũng học chung với Hưng và Long ở Lớp Nhì A trường Tiểu học Ðakao hồi trước hè. Thằng Lang thì nhà ở gần trường Huỳnh Khương Ninh, còn thằng Hòa thì ở chung xóm Faucault với Hưng và Long, ba nó làm thợ mộc ở ngay đầu đường ngó ngang qua quán hủ tiếu của bà Xẩm Mập. Chiều hôm qua Hưng và Long có hẹn với Lang và Hòa để đá banh bàn tại đây, đá ăn tiền. Tụi nó đã giao hẹn trước, đá trong ba bàn, bên nào thắng được hai thì ăn, số tiền là một đồng bạc. Tiền mua giơ-tông thì phe nào thua phải trả luôn. Tiệm cho mướn bàn đá banh nầy bán mỗi giơ-tông là hai cắc. Mỗi giơ-tông chỉ chơi được một bàn, mỗi bàn được chơi chín trái banh, bên nào đá vô được năm trái trước thì thắng bàn đó. Do đó, bên nào thua thì sẽ mất tất cả một đồng sáu cắc. Chính vì vậy mà Hưng có hơi lo lắng vì nó chỉ có năm cắc trong túi. Vậy thì coi như là thằng Long phải bao sau cho nó rồi.

“Tao đổi ba cái giơ-tông rồi nè”, thằng Lang lên tiếng trước, “tụi bây có muốn đá chơi, dợt trước vài bàn gì không ?” “Thôi khỏi”, Hưng trả lời liền, và day qua Long nó hỏi, “mầy chịu hông ?”  “Ừa, đá liền đi, khỏi cần dợt”, Long đồng ý với Hưng, và nó xoè tay về phía thằng Lang, “đưa mấy cái giơ-tông cho tao đi”.

Thằng Lang đưa ba cái giơ-tông cho Long. Tụi nó đứng vào bàn banh, hai đứa mỗi bên. Cái bàn banh cao độ tám, chín tất, hình chữ nhựt, bề ngang độ tám tấc, bề dài chừng một mét hai, đóng bằng gỗ, đánh vẹt-ni mầu cánh kiến bóng loáng. Mặt bàn banh thấp hơn thành bàn độ hai tấc, có vẽ hình một sân đá banh, với các đường đánh dấu khu cấm địa trước khung thành hai bên, ở giữa bàn có một vòng tròn, tất cả đặt dưới một lớp kiếng dày. Xuyên từ thành bàn bên nầy qua bên kia có tất cả tám cây sắt tròn, với các hình gỗ khắc hình các cầu thủ. Các cây sắt nầy được trét mỡ bò cho thật trơn, để cho người chơi có thể kéo tới kéo lui hay xoay tròn một cách dễ dàng. Nhìn từ một bên, và khởi sự từ phía tay trái lần qua phía tay phải, đầu tiên ta thấy một cây ngay trước khung thành, với một hình gỗ duy nhất tượng trưng cho thủ môn, kế tiếp là cây thứ nhì với hai hình gỗ, tượng trưng cho hai hậu vệ, rồi đến cây thứ ba có ba hình gỗ xây mặt vô hướng khung thành, tượng trưng cho các tiền đạo của đối phương, sau đó đến hai cây, mổi cây năm hình gỗ, mặt nhìn nhau, mổi cây tượng trưng cho tiền đạo của hai bên, tiếp đó là một cây với ba hình gỗ, tượng trưng cho tiền đạo của phe bên nầy, và sau cùng là hai cây của đối phương, một cây hai hình hậu vệ và một cây cho thủ môn. Mỗi khung thành là một cái lỗ ở cuối bàn, hình bán nguyệt, bề ngang chừng một tấc rưởi. Trên mặt hai đầu bàn, rộng chừng hơn một tấc, có đóng một cái giá cao độ một tấc, dài chừng hai tấc rưởi, với một cọng sắt bắt ngang. Cọng sắt nầy xỏ xuyên qua chín trái cầu có đường kính chừng hai phân, dùng để ghi các bàn thắng. Các trái cầu nầy cũng được sơn theo đúng màu của các hình gỗ. Các hình gỗ được sơn màu nghịch nhau. Tại bàn banh nầy, phe Hưng Long là màu vàng, và phe Lang Hoà là màu đỏ.  Long giữ hai cây thủ môn và hậu vệ, Hưng thì chơi hai cây tiền đạo. Bên phe kia, Lang lo phần phòng vệ còn Hòa phụ trách phần tấn công.

doi ban tuoi tho 01.jpg

Long đặt hai cái giơ-tông lên đầu bàn, ngay bên cạnh cái giá ghi bàn thắng. Cầm cái giơ tông còn lại nó bỏ vào cái khe nhỏ, cắt theo chiều dọc, ở giữa phía ngoài thành bàn bên phía tụi nó. Chờ cho giơ tông rơi hẳn vào bên trong khe, nó dùng bàn tay mặt kéo mạnh cái chốt sắt vuông, đầu có núm tròn, ngay bên dưới cái khe, rồi buông ra. Ngay lúc đó chín trái banh bằng gỗ sơn trắng, đường kính chừng ba phân, rơi từ trong thùng bàn ra một cái máng nhỏ dài độ ba tấc, sâu vô chừng năm phân, ngay phía dưới cái chốt sắt. Hưng dùng tay mặt lượm lên một trái banh, tay trái nó xoay cây sắt với năm hình gỗ lên, cho chân các hình chỉa lên theo một góc 45 độ. Cùng lúc đó thằng Hoà cũng làm như vậy. Hưng đặt trái banh lên giữa hai hình gỗ nằm ở giữa của hai cây sắt, sao cho chân của hai hình gỗ đó kẹp chặt trái banh lại cho khỏi rớt xuống. Bây giờ tay mặt đã rãnh, nó cầm vào cây sắt với ba hình gỗ tiền đạo.

“Mầy sẵn sàng chưa ?”, thằng Hoà hỏi, “tao đếm một hai ba nha“. “Rồi, mầy đếm đi”, Hưng trả lời, mắt nhìn chăm chú vào trái banh.  Sau tiếng đếm “ba” của thằng Hoà, cả Hưng và Hòa đồng loạt xoay nhẹ cây sắt năm hình gỗ, tạo ra khoảng cách rộng giữa các hình gỗ, và trái banh rớt xuống mặt bàn. Trận đấu chính thức bắt đầu.

Dùng một trong năm hình gỗ tiền đạo chận trái banh lại, Hòa khéo léo đưa nhẹ trái banh xuyên qua giữa năm hình gỗ của Hưng, và dùng hình gỗ ở cạnh trong của cây ba hình của nó chận trái banh lại. Hưng bất lực nhìn theo trái banh bây giờ đang được Hòa gò vào vị trí tấn công. Nó nhìn sang Long bên cạnh. Lúc đó Long đang chăm chú nhìn vào bàn banh. Nó biết Hòa sắp sửa tấn công, nó kéo thủ môn vào chận ngay giữa khung thành, chân thủ môn hơi đưa nhẹ ra phía trước một chút, một chiến thuật cần thiết để giãm bớt sức mạnh của trái banh mà đối phương sắp đá vào, đồng thời nó cũng đẩy nhẹ hàng hậu vệ sang phía bên kia, để cho hình hậu vệ phía bên kia đâu mặt với hình gỗ tiền đạo của Hòa đang giữ trái banh. Cả ba đứa đều yên lặng theo dõi cách gò banh của Hòa. Sau mấy giây, bây giờ Hòa đã đưa được trái banh vào vị trị tấn công. Trái banh đã nằm ngay ngắn ở cạnh trong của hình gỗ bên ngoài, phía bên nó. Hoà đẩy nhẹ nhưng thật nhanh cây sắt về phía trước, cho trái banh di chuyển thẳng sang hình gỗ ở giữa, cùng lúc nó xoay nhẹ cây sắt cho chân các hình gỗ đưa lên cao về phía sau, và khi trái tranh lăn tới đúng vị trí của hình gỗ ở giữa, nó xoay nhanh cây sắt theo chiều ngược lại, dùng hết sức cho hình gỗ ở giữa đá mạnh cho trái banh bay như chớp về hướng khung thành của Long. Tất cả diễn ra trong khoảng chớp mắt. Một tiếng tom vang lên, trái banh đã lọt vào bên trong khung thành của Long, chạm mạnh vào tấm vách lót ở phía sau và tạo ra âm thanh nhanh, gọn, và trong trẽo đó. Long có kéo hàng hậu vệ về để truy cản nhưng chậm hơn Hòa một tích tắc.

“Ðộc quá”, thằng Lang la lên vui mừng, vừa lấy tay kéo một quả banh về phía nó trên cái giá để ghi bàn thắng đầu tiên nầy cho phe nó.  “Ăn thua gì”, Hưng vừa thò tay xuống cái máng lấy lên một trái banh mới vừa cười cười nói, “coi đây nè”. Nó đặt trái banh vào cạnh trong của hình gỗ ngoài cùng của cây sắt năm hình, tay mặt nó xoay cây sắt ba hình để cho ba hình gỗ đều chổng lên trời, với mục đích dẹp bớt những chướng ngại vật giữa hàng năm tiền đạo của nó và khung thành của đối phương. Nó buông nhẹ cây ba hình ra, bước lùi một chút về phía Long, nó dùng tay mặt cầm vào cây năm hình, kéo nhẹ cây năm hình về phía nó, cho trái banh di chuyển từ trong phía cạnh bàn vào hướng giữa bàn, rồi lại đẩy cây sắt theo hướng ngược lại, cho trái banh trở ra phía ngoài cạnh bàn lại, nó làm như thế độ vài lần, khiến cho Hoà và Lang cứ phải di chuyển các hình gỗ theo hướng di chuyển của trái banh. Ðến lần cuối, nó đồng thời xoay nhẹ cho chân các hình gỗ dỡ lên về phía sau và khi trái banh vừa rời khỏi vị trí phía cạnh bàn, nó xoay cây sắt lại, dùng hình gỗ thứ nhì đá thật mạnh cho trái banh xuyên qua giữa năm hình tiền đạo của Hòa, và bay thẳng vào góc của khung thành của Lang. Tất cả cũng diễn ra trong chớp mắt với một tiếng tom vang dội. Lang và Hoà đều gần như không có phản ứng gì kịp hết.

“Thấy chưa”, Hưng vừa lấy một trái banh khác lên đưa cho Hoà vừa nói, “một đều”, rồi xoay qua Long, Hưng nháy mắt. “ghi bàn thắng đi mầy, để tụi nó khỏi quên”. Trận đấu lại tiếp tục, gần như là một cuộc thư hùng giữa Hưng và Hoà. Cả hai đứa đều sử dụng hàng ba hình rất tài tình, lúc thì dùng hình giữa, khi thì dùng hình bên ngoài, lần lượt ghi bàn thắng cho phe mình, trừ một vài bàn thắng do Long ghi được bất ngờ do đá từ hàng hậu vệ vào thẳng khung thành của Lang. Kết quả chung cuộc phe Hưng Long thắng. Bàn thắng sau cùng ở trận thứ ba, lúc đó hai bên đang hoà nhau với tỷ số 4-4, cũng do Hưng ghi được, do chơi một đòn tấn công rất tài tình. Sau khi dùng ngón “xỏ chỉ luồng kim”, đưa trái banh từ hàng năm chui lọt qua hàng năm của Hoà sang hàng ba của mình, Hưng chận banh lại bằng hình giữa, sau đó nó đưa nhẹ banh sang cho hình gỗ ở phía ngoài. Nó gò cho trái banh vào bên cạnh phía trong của hình ngoài, cho hình gỗ đứng thẳng lại, nó kéo cây sắt về phía nó cho trái banh lăn nhẹ vào bên trong, nhưng thay vì dùng hình giữa để đá banh vào khung thành, nó bất ngờ sử dụng hình ngoài đá xéo trái banh vào góc bên trái khung thành của Lang. Lang hoàn toàn bị bất ngờ, nó đã kéo thủ môn vào giữa chuẩn bị chận cú đá của hình giữa, nên để góc khung thành hoàn toàn trống. Một tiếng tom vang lên, trái banh cuối cùng của cuộc tranh tài đã lọt vào khung thành.

Trên đường về, sau khi chia nhau mỗi đứa năm cắc, hai đứa ghé lại xe nước đá của chú Chiêu và mỗi đứa ăn một ly đậu đỏ bánh lọt, giá có hai cắc một ly, mỗi đứa vẫn còn ba cắc làm chiến lợi phẩm trong túi.

“Tối nay mầy đi xuống Ðình Sơn Trà chơi với tao hông ?”, Hưng hỏi Long sau khi trả tiền cho chú Chiêu. “Chắc hổng được đâu”, Long trả lời, giọng hơi tiếc rẻ, “tối nay tao phải ở nhà phụ với cô tao sắp đồ đạc, ngày mai dọn nhà rồi”  “Ừa há, tao quên, mầy dọn về đường Richaud phải hông ? Rồi mầy còn xuống đây chơi với tụi tao hông? ” “Sao hông, gần xịt chớ gì”.